Kinh Chỉ Quán Song Hành
Yuganaddha Sutta
Còn gọi là: Kinh Song Hành
Nên tu thiền chỉ trước hay thiền quán trước? Ngài A-nan cho thấy có nhiều lối vào, và lối nào cũng phải đi đến chỗ con đường sinh khởi trong tâm.
Trước khi đọc kinh
Kinh Chỉ Quán Song Hành (Yuganaddha Sutta) là bài kinh thứ mười, bài cuối của phẩm Lối Thực Hành, phần Bốn Pháp của Tăng Chi Bộ. Người giảng không phải Đức Phật mà là Ngài A-nan (Ānanda), khi Ngài đang trú gần thành Kiều-thưởng-di (Kosambī), tại tu viện Ghosita. Ngài nói: bất cứ vị Tỷ-kheo hay Tỷ-kheo-ni nào tuyên bố trước mặt Ngài rằng mình đã chứng quả A-la-hán, thì đều nhờ bốn con đường, hoặc nhờ một trong bốn con đường ấy (đoạn 2.1). Hai chữ then chốt của bài kinh là chỉ (samatha), sự lắng yên, định tĩnh của tâm, và quán (vipassanā, thiền minh sát), sự thấy rõ bản chất của các pháp.
Con đường thứ nhất: tu tập quán, có chỉ đi trước dẫn đường (đoạn 3.2). Con đường thứ hai: tu tập chỉ, có quán đi trước (đoạn 4.1); theo chú giải Tăng Chi Bộ (Manorathapūraṇī), đây là người vốn đã có sức quán, đứng trên quán mà làm cho định sinh khởi. Con đường thứ ba: tu tập chỉ và quán song hành, gắn liền nhau như cặp bò cùng một ách (đoạn 5.1); chú giải mô tả cách làm: vào sơ thiền, xuất ra rồi quán xét các hành, rồi vào nhị thiền, xuất ra lại quán xét các hành, cứ thế tiếp tục. Con đường thứ tư: tâm vị Tỷ-kheo bị sự xao động về pháp nắm giữ, rồi đến một lúc tâm ấy an trú ngay bên trong, lắng xuống, trở nên chuyên nhất, được định tĩnh (đoạn 6.1–6.2); chú giải giải thích sự xao động này là trạo cử đối với các pháp chỉ và quán, tức mười tùy phiền não của thiền quán (vipassanupakkilesa). Ở cả bốn lối, cùng một điều xảy ra: con đường sinh khởi; vị ấy năng thực hành, tu tập, làm cho con đường ấy lớn mạnh, nhờ vậy các kiết sử được đoạn trừ, các tùy miên được dứt sạch (đoạn 3.3–3.5). Theo chú giải, “con đường” ở đây trước hết là đạo siêu thế đầu tiên, và việc năng thực hành con đường ấy là làm sinh khởi các đạo cao hơn.
Bài kinh ngắn nhưng gỡ được một băn khoăn lâu đời của người tu thiền: phải tu chỉ trước hay quán trước? Ngài A-nan không bắt mọi người đi chung một lối. Có người tâm dễ lắng, nên định đi trước dọn đường cho tuệ; có người quen suy xét, nên tuệ đi trước rồi tâm mới yên; có người để cả hai cùng đi. Điều chung là chỉ và quán đều phải có mặt, và đích đến là đoạn trừ kiết sử, không phải là giữ chặt một phương pháp. Với người mới tập, bạn có thể bắt đầu bằng mười lăm phút theo dõi hơi thở cho tâm lắng xuống, rồi dành vài phút nhìn những cảm thọ, những ý nghĩ đang sinh rồi diệt. Như hai con bò cùng kéo một cỗ xe, khi cả hai cùng bước, cỗ xe mới đi được đường xa.
Ý chính
- Ai tuyên bố đã chứng A-la-hán đều nhờ bốn con đường, hoặc một trong bốn con đường ấy (2.1).
- Tu tập quán có chỉ đi trước, con đường sinh khởi (3.2–3.3).
- Tu tập chỉ có quán đi trước, con đường sinh khởi (4.1–4.2).
- Tu tập chỉ và quán song hành, gắn liền nhau (5.1–5.2).
- Tâm bị xao động về pháp, rồi đến lúc an trú bên trong, lắng xuống, chuyên nhất, định tĩnh (6.1–6.2).
- Năng thực hành con đường ấy, các kiết sử được đoạn trừ, các tùy miên được dứt sạch (3.4–3.5).
Thuật ngữ Pāli trong kinh
- samatha
- chỉ, sự lắng yên, định tĩnh của tâm
- vipassanā
- quán, thiền minh sát, sự thấy rõ các pháp
- yuganaddha
- song hành, gắn liền như cặp bò cùng một ách
- pubbaṅgama
- đi trước, dẫn đường
- dhammuddhacca
- sự xao động về pháp; theo chú giải là trạo cử, tức các tùy phiền não của thiền quán
- maggo sañjāyati
- con đường sinh khởi; theo chú giải là đạo siêu thế đầu tiên
- saṁyojana
- kiết sử, những sợi dây trói buộc
- anusaya
- tùy miên, khuynh hướng ngủ ngầm trong tâm
Kinh Chỉ Quán Song Hành
1Một thời, Tôn giả Ananda sống ở Kosàmbi, tại khu vườn Ghosita. Tại đấy, Tôn giả Ananda gọi các Tỷ-kheo:
—Thưa các Hiền giả Tỷ-kheo.
—Thưa vâng, Hiền giả.
Các tỷ-kheo ấy vâng đáp Tôn giả. Tôn giả Ananda nói như sau:Evaṁ me sutaṁ— ekaṁ samayaṁ āyasmā ānando kosambiyaṁ viharati ghositārāme. Tatra kho āyasmā ānando bhikkhū āmantesi: “āvuso bhikkhave”ti. “Āvuso”ti kho te bhikkhū āyasmato ānandassa paccassosuṁ. Āyasmā ānando etadavoca:So I have heard. At one time Venerable Ānanda was staying near Kosambī in Ghosita’s monastery. There Ānanda addressed the mendicants: “Reverends, mendicants!” “Reverend,” they replied. Ānanda said this:
2—Tỷ-kheo hay Tỷ-kheo-ni nào tuyên bố trước mặt tôi rằng, đã chứng được quả A-la-hán, tất cả vị ấy được đầy đủ bốn chi phần này, hoặc là một trong bốn chi phần này. Thế nào là bốn?“Yo hi koci, āvuso, bhikkhu vā bhikkhunī vā mama santike arahattappattiṁ byākaroti, sabbo so catūhi maggehi, etesaṁ vā aññatarena.“Reverends, all of the monks and nuns who declare in my presence that they have attained perfection, did so by one or other of four paths.
3Ở đây, này chư Hiền, Tỷ-kheo tu tập quán, có chỉ đi trước; do vị ấy tu tập quán có chỉ đi trước, con đường được sanh khởi. Vị ấy thực hành con đường ấy, tu tập, làm cho sung mãn. Do vị ấy thực hành con đường ấy, tu tập, làm cho sung mãn, các kiết sử được đoạn tận, các tùy miên được chấm dứt.Katamehi catūhi? Idha, āvuso, bhikkhu samathapubbaṅgamaṁ vipassanaṁ bhāveti. Tassa samathapubbaṅgamaṁ vipassanaṁ bhāvayato maggo sañjāyati. So taṁ maggaṁ āsevati bhāveti bahulīkaroti. Tassa taṁ maggaṁ āsevato bhāvayato bahulīkaroto saṁyojanāni pahīyanti, anusayā byantīhonti.What four? Take a mendicant who develops serenity before discernment. As they do so, the path is born in them. They cultivate, develop, and make much of it. By doing so, they give up the fetters and eliminate the underlying tendencies.
4Lại nữa, này chư Hiền, vị Tỷ-kheo tu tập chỉ, có quán đi trước. Do vị ấy tu tập chỉ có quán đi trước, con đường được sanh khởi. Vị ấy thực hành con đường ấy, tu tập, làm cho sung mãn. Do vị ấy thực hành con đường ấy, tu tập, làm cho sung mãn, các kiết sử được đoạn tận, các tùy miên được chấm dứt.Puna caparaṁ, āvuso, bhikkhu vipassanāpubbaṅgamaṁ samathaṁ bhāveti. Tassa vipassanāpubbaṅgamaṁ samathaṁ bhāvayato maggo sañjāyati. So taṁ maggaṁ āsevati bhāveti bahulīkaroti. Tassa taṁ maggaṁ āsevato bhāvayato bahulīkaroto saṁyojanāni pahīyanti, anusayā byantīhonti.Another mendicant develops discernment before serenity. As they do so, the path is born in them. They cultivate, develop, and make much of it. By doing so, they give up the fetters and eliminate the underlying tendencies.
5Lại nữa, này chư Hiền, Tỷ-kheo tu tập cả hai chỉ quán gắn liền với nhau. Do vị ấy tu tập cả hai chỉ quán gắn liền với nhau, con đường được sanh khởi. Vị ấy thực hành con đường ấy, tu tập, làm cho sung mãn. Do vị ấy thực hành con đường ấy, tu tập, làm cho sung mãn, các kiết sử được đoạn tận, các tùy miên được chấm dứt.Puna caparaṁ, āvuso, bhikkhu samathavipassanaṁ yuganaddhaṁ bhāveti. Tassa samathavipassanaṁ yuganaddhaṁ bhāvayato maggo sañjāyati. So taṁ maggaṁ āsevati bhāveti bahulīkaroti. Tassa taṁ maggaṁ āsevato bhāvayato bahulīkaroto saṁyojanāni pahīyanti, anusayā byantīhonti.Another mendicant develops serenity and discernment in conjunction. As they do so, the path is born in them. They cultivate, develop, and make much of it. By doing so, they give up the fetters and eliminate the underlying tendencies.
6Lại nữa, này chư Hiền, Tỷ-kheo với các dao động đối với các pháp được hoàn toàn dứt sạch. Này các Hiền giả, đây là thời khi tâm của vị ấy an trú, an tọa, nhất tâm, định tĩnh. Với vị ấy, con đường sanh khởi. Vị ấy thực hành con đường ấy, tu tập, làm cho sung mãn. Do vị ấy thực hành con đường ấy, tu tập, làm cho sung mãn, các kiết sử được đoạn tận, các tùy miên được chấm dứt.Puna caparaṁ, āvuso, bhikkhuno dhammuddhaccaviggahitaṁ mānasaṁ hoti. Hoti so, āvuso, samayo yaṁ taṁ cittaṁ ajjhattameva santiṭṭhati sannisīdati ekodi hoti samādhiyati. Tassa maggo sañjāyati. So taṁ maggaṁ āsevati bhāveti bahulīkaroti. Tassa taṁ maggaṁ āsevato bhāvayato bahulīkaroto saṁyojanāni pahīyanti, anusayā byantīhonti.Another mendicant’s heart is seized by restlessness to realize the teaching. But there comes a time when their mind is stilled internally; it settles, unifies, and becomes immersed in samādhi. The path is born in them. They cultivate, develop, and make much of it. By doing so, they give up the fetters and eliminate the underlying tendencies.
7–8Này chư Hiền, Tỷ-kheo hay Tỷ-kheo-ni nào tuyên bố trước mặt tôi rằng, đã chứng được quả A-la-hán, tất cả vị ấy được đầy đủ bốn chi phần này, hoặc là một trong bốn chi phần này.Yo hi koci, āvuso, bhikkhu vā bhikkhunī vā mama santike arahattappattiṁ byākaroti, sabbo so imehi catūhi maggehi, etesaṁ vā aññatarenā”ti. Dasamaṁ. Paṭipadāvaggo dutiyo. Tassuddānaṁ Saṅkhittaṁ vitthārāsubhaṁ, Dve khamā ubhayena ca; Moggallāno sāriputto, Sasaṅkhāraṁ yuganaddhena cāti.All of the monks and nuns who declare in my presence that they have attained perfection, did so by one or other of these four paths.”
Viết bởi Tuệ Minh
Nguồn trích dẫn
- Tăng Chi Bộ 4.170 (Yuganaddha Sutta). Bản Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka, AN 4.170 trên SuttaCentral.
- Bản tiếng Anh: Bhikkhu Sujato dịch, SuttaCentral, phát hành theo giấy phép CC0.
- Bản tiếng Việt: HT. Thích Minh Châu dịch (bản trên SuttaCentral). Bản dịch tiếng Việt của HT. Thích Minh Châu, trích đăng để phụng sự Pháp thí; nếu chủ sở hữu bản quyền có yêu cầu, xin liên hệ 0902 332 970 để điều chỉnh.