Kinh Kinh Hành
Caṅkama Sutta
Thiền không chỉ là ngồi. Đức Phật dạy năm lợi ích của việc đi kinh hành, từ sức khỏe của thân đến sự vững bền của định.
Trước khi đọc kinh
Kinh Kinh Hành (Caṅkama Sutta) là bài kinh thứ chín trong phẩm Năm Chi Phần, phần Năm Pháp của Tăng Chi Bộ. Kinh hành (caṅkama) là đi tới đi lui có chánh niệm trên một lối đi ngắn, một cách tu tập mà các Tỷ-kheo thời Đức Phật vẫn làm hằng ngày, xen với những lúc ngồi thiền. Bài kinh chỉ có vài câu, mở đầu bằng lời: việc đi kinh hành có năm lợi ích (đoạn 1.1).
Năm lợi ích ấy là: chịu được đường xa, chịu được sự tinh tấn, ít bệnh tật, những gì đã ăn, đã uống, đã nhai, đã nếm đều được tiêu hóa tốt, và định đạt được trong lúc kinh hành thì bền lâu (đoạn 1.3). Theo chú giải Tăng Chi Bộ (Manorathapūraṇī), “chịu được đường xa” là khi phải đi một chặng đường dài thì người ấy chịu đựng được; “chịu được sự tinh tấn” là có sức cho việc nỗ lực tu tập. Chú giải còn giải thích vì sao định có được khi kinh hành lại bền: tướng của đề mục mà người đứng nắm được có thể mất khi ngồi, tướng mà người ngồi nắm được có thể mất khi nằm; còn tướng nắm được khi đang đi, trên một đối tượng chuyển động, thì không mất dù sau đó đứng, ngồi hay nằm. Ở Kinh Ngủ Gật (AN 7.61), Đức Phật cũng dạy Ngài Mục-kiền-liên (Mahāmoggallāna) đi kinh hành khi cơn buồn ngủ vẫn không dứt (đoạn 8.1 của kinh ấy).
Hiểu đúng: kinh hành không phải là đi bộ tập thể dục, dù nó có ích cho thân. Năm lợi ích có cả phần thân lẫn phần tâm, cho thấy Đức Phật không xem nhẹ sức khỏe của thân trên đường tu, nhưng đích đến vẫn là định và tuệ. Với người lớn tuổi hay người ngồi nhiều vì công việc, kinh hành là một cách rất hợp: chọn một lối đi chừng mười lăm, hai mươi bước trong nhà hay ngoài sân, đi chậm, biết rõ từng bước chân chạm đất, đến cuối lối thì dừng, quay lại, rồi đi tiếp. Sau bữa ăn, đi kinh hành mười phút giúp dễ tiêu và đỡ buồn ngủ; trước khi ngồi thiền, nó giúp tâm lắng xuống. Bạn không cần phải chọn giữa ngồi và đi: hai cách bổ trợ cho nhau.
Ý chính
- Việc đi kinh hành có năm lợi ích (1.1).
- Người đi kinh hành chịu được đường xa (1.3).
- Người đi kinh hành chịu được sự tinh tấn tu tập (1.3).
- Người đi kinh hành ít bệnh tật (1.3).
- Những gì đã ăn, đã uống, đã nhai, đã nếm đều được tiêu hóa tốt (1.3).
- Định đạt được trong lúc kinh hành thì bền lâu (1.3).
Thuật ngữ Pāli trong kinh
- caṅkama
- kinh hành, đi tới đi lui có chánh niệm
- ānisaṁsa
- lợi ích, quả phúc
- addhānakkhama
- chịu được đường xa
- padhānakkhama
- chịu được sự tinh tấn; theo chú giải là có sức cho sự nỗ lực
- appābādha
- ít bệnh tật
- sammā pariṇāmaṁ gacchati
- được tiêu hóa tốt
- samādhi
- định, sự chuyên nhất của tâm
- ciraṭṭhitika
- bền lâu, đứng vững lâu
Kinh Kinh Hành
1—Này các Tỷ-kheo, có năm lợi ích này của kinh hành. Thế nào là năm?
Kham nhẫn được đường trường; kham nhẫn được tinh cần; ít bệnh tật; đưa đến tiêu hóa tốt đẹp các đồ được ăn, được uống, được nhai, được nếm; định chứng được trong khi kinh hành được tồn tại lâu dài. Những pháp này, này các Tỷ-kheo là năm lợi ích của kinh hành.“Pañcime, bhikkhave, caṅkame ānisaṁsā. Katame pañca? Addhānakkhamo hoti, padhānakkhamo hoti, appābādho hoti, asitaṁ pītaṁ khāyitaṁ sāyitaṁ sammā pariṇāmaṁ gacchati, caṅkamādhigato samādhi ciraṭṭhitiko hoti. Ime kho, bhikkhave, pañca caṅkame ānisaṁsā”ti. Navamaṁ.“Mendicants, there are five benefits of walking meditation. What five? You get fit for traveling, fit for striving in meditation, and healthy. What’s eaten, drunk, chewed, and tasted is properly digested. And immersion gained while walking lasts long. These are the five benefits of walking meditation.”
Viết bởi Chánh Tín
Nguồn trích dẫn
- Tăng Chi Bộ 5.29 (Caṅkama Sutta). Bản Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka, AN 5.29 trên SuttaCentral.
- Bản tiếng Anh: Bhikkhu Sujato dịch, SuttaCentral, phát hành theo giấy phép CC0.
- Bản tiếng Việt: HT. Thích Minh Châu dịch (bản trên SuttaCentral). Bản dịch tiếng Việt của HT. Thích Minh Châu, trích đăng để phụng sự Pháp thí; nếu chủ sở hữu bản quyền có yêu cầu, xin liên hệ 0902 332 970 để điều chỉnh.