Trung Bộ 131 · MN 131

Kinh Nhất Dạ Hiền Giả

Bhaddekaratta Sutta

Còn gọi là: Kinh Một Đêm Hiền Thiện

Một bài kệ mười sáu dòng về cách sống với hiện tại, và phần giảng giải của Đức Phật: sống với hiện tại là không bị cuốn theo năm uẩn, chứ không chỉ là quên đi quá khứ.

Trước khi đọc kinh

Kinh Nhất Dạ Hiền Giả (Bhaddekaratta Sutta) là bài kinh thứ 131 của Trung Bộ, mở đầu phẩm Phân Tích (Vibhaṅgavagga). Đức Thế Tôn đang ở Kỳ Viên (Jetavana), thành Xá-vệ (Sāvatthī), và báo trước với các Tỷ-kheo rằng Ngài sẽ giảng phần tóm lược và phần phân tích về “người có một đêm hiền thiện” (đoạn 2.1). Chữ bhaddekaratta ghép từ bhadda, tốt lành, hiền thiện, và ekaratta, một đêm; tên gọi Hán Việt “Nhất Dạ Hiền Giả” cũng theo nghĩa ấy. Tên gọi này được hiểu theo nhiều cách; cách hiểu gần với bài kệ nhất là: người sống trọn vẹn và tỉnh thức với hiện tại thì dù chỉ một đêm cũng là một đêm tốt lành.

Phần tóm lược là bài kệ mười sáu dòng, được nhiều Phật tử thuộc lòng (đoạn 3.1–3.16). Đừng chạy theo những gì đã qua, đừng mong ngóng điều chưa tới; những gì đã qua thì đã bỏ lại sau lưng, điều chưa tới thì chưa hề đến. Pháp nào đang có mặt ngay bây giờ, hãy thấy rõ nó ngay tại chỗ, không để bị cuốn đi, không để bị lay chuyển (đoạn 3.5–3.8). Việc cần gắng sức hãy làm ngay hôm nay, vì ai biết được ngày mai cái chết có đến chăng, và chẳng ai mặc cả được với Tử thần cùng đạo quân hùng hậu (đoạn 3.9–3.12). Người sống nhiệt tâm như vậy, ngày đêm không biếng nhác, mới đáng gọi là người có một đêm hiền thiện (đoạn 3.13–3.16).

Phần phân tích cho thấy bài kệ không bảo ta quên quá khứ hay thôi lo liệu cho tương lai. “Chạy theo quá khứ” là nuôi dưỡng niềm vui thích nơi những gì mình từng có: thuở trước ta có sắc như thế này, có cảm thọ, có tưởng, có các hành, có thức như thế này (đoạn 4.2). “Mong ngóng tương lai” là nuôi dưỡng niềm vui thích nơi những gì mình mong sẽ có (đoạn 6.2). Còn “bị cuốn đi giữa các pháp hiện tại” là khi người phàm phu xem năm uẩn đang có mặt là tự ngã, hoặc xem tự ngã có chúng, hoặc chúng ở trong tự ngã, hoặc tự ngã ở trong chúng (đoạn 8.2–8.7); vị Thánh đệ tử không xem như vậy, nên không bị cuốn đi (đoạn 9.2–9.8). Như vậy, sống với hiện tại theo bài kinh không chỉ là để tâm vào việc đang làm, mà là thấy rõ những gì đang diễn ra mà không nắm lấy chúng là “tôi”. Phần giảng giải về năm uẩn và vô ngã có thể đọc thêm trong Kinh Vô Ngã Tướng (SN 22.59).

Ý chính

  • Đừng chạy theo quá khứ, đừng mong ngóng tương lai (3.1–3.4).
  • Pháp đang có mặt, hãy thấy rõ ngay tại chỗ, không để bị cuốn đi (3.5–3.8).
  • Việc cần gắng sức hãy làm hôm nay, chẳng ai mặc cả được với cái chết (3.9–3.12).
  • Chạy theo quá khứ là nuôi dưỡng niềm vui thích nơi năm uẩn mình từng có (4.2).
  • Mong ngóng tương lai là nuôi dưỡng niềm vui thích nơi năm uẩn mình mong sẽ có (6.2).
  • Không xem năm uẩn là tự ngã thì không bị cuốn đi giữa hiện tại (9.2–9.8).
Thuật ngữ Pāli trong kinh
bhaddekaratta
người có một đêm hiền thiện
atīta
quá khứ, những gì đã qua
anāgata
tương lai, điều chưa tới
paccuppanna
hiện tại, đang có mặt
vipassati
thấy rõ, quán chiếu
asaṁhīra
không bị cuốn đi
nandi
niềm vui thích
ātāpī
nhiệt tâm

Kinh Nhất Dạ Hiền Giả

1Như vầy tôi nghe.

Một thời, Thế Tôn ở Sāvatthi (Xá-vệ), Jetavana (Kỳ-đà lâm), tại tịnh xá ông Anāthapiṇḍika (Cấp Cô Độc). Ở đấy, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo: “Này các Tỷ-kheo”.:” Thưa vâng, bạch Thế Tôn”. Các vị Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau
Evaṁ me sutaṁ— ekaṁ samayaṁ bhagavā sāvatthiyaṁ viharati jetavane anāthapiṇḍikassa ārāme. Tatra kho bhagavā bhikkhū āmantesi: “bhikkhavo”ti. “Bhadante”ti te bhikkhū bhagavato paccassosuṁ. Bhagavā etadavoca:So I have heard. At one time the Buddha was staying near Sāvatthī in Jeta’s Grove, Anāthapiṇḍika’s monastery. There the Buddha addressed the mendicants, “Mendicants!” “Venerable sir,” they replied. The Buddha said this:

2—Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ thuyết giảng cho các Ông: ‘Nhứt Dạ Hiền Giả’ (Bhaddekaratta), tổng thuyết và biệt thuyết. Hãy nghe và suy nghiệm kỹ, Ta sẽ thuyết giảng.

—Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
“bhaddekarattassa vo, bhikkhave, uddesañca vibhaṅgañca desessāmi. Taṁ suṇātha, sādhukaṁ manasi karotha, bhāsissāmī”ti. “Evaṁ, bhante”ti kho te bhikkhū bhagavato paccassosuṁ. Bhagavā etadavoca:“I shall teach you the summary recital and the analysis of the one who has one fine night. Listen and apply your mind well, I will speak.” “Yes, sir,” they replied. The Buddha said this:

3Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn giảng như sau:

Quá khứ không truy tìm
Tương lai không ước vọng.
Quá khứ đã đoạn tận,
Tương lai lại chưa đến,
Chỉ có pháp hiện tại
Tuệ quán chính ở đây.
Không động, không rung chuyển
Biết vậy, nên tu tập,
Hôm nay nhiệt tâm làm,
Ai biết chết ngày mai?
Không ai điều đình được,
Với đại quân thần chết,
Trú như vậy nhiệt tâm,
Đêm ngày không mệt mỏi,
Xứng gọi Nhứt dạ Hiền,
Bậc an tịnh, trầm lặng.
“Atītaṁ nānvāgameyya, nappaṭikaṅkhe anāgataṁ; Yadatītaṁ pahīnaṁ taṁ, appattañca anāgataṁ. Paccuppannañca yo dhammaṁ, Tattha tattha vipassati; Asaṁhīraṁ asaṅkuppaṁ, Taṁ vidvā manubrūhaye. Ajjeva kiccamātappaṁ, ko jaññā maraṇaṁ suve; Na hi no saṅgaraṁ tena, mahāsenena maccunā. Evaṁvihāriṁ ātāpiṁ, ahorattamatanditaṁ; Taṁ ve bhaddekarattoti, santo ācikkhate muni.“Don’t run back to the past, don’t anticipate the future. What’s past is left behind, the future has not arrived; and any present phenomenon you clearly discern in every case. The unfaltering, the unshakable: having known that, foster it. Today’s the day to keenly work— who knows, tomorrow may bring death! For there is no bargain to be struck with Death and his mighty horde. One who keenly meditates like this, tireless all night and day: that’s who has one fine night— so declares the peaceful sage.

4Và này các Tỷ-kheo, thế nào là truy tìm quá khứ? Vị ấy nghĩ: “Như vậy là sắc của tôi trong quá khứ”, và truy tìm sự hân hoan trong ấy; “Như vậy là thọ của tôi trong quá khứ”, và truy tìm sự hân hoan trong ấy; “Như vậy là tưởng của tôi trong quá khứ”, và truy tìm sự hân hoan trong ấy; “Như vậy là hành của tôi trong quá khứ”, và truy tìm sự hân hoan trong ấy, “Như vậy, là thức của tôi trong quá khứ”, và truy tìm sự hân hoan trong ấy. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là truy tìm quá khứ.Kathañca, bhikkhave, atītaṁ anvāgameti? ‘Evaṁrūpo ahosiṁ atītamaddhānan’ti tattha nandiṁ samanvāneti, ‘evaṁvedano ahosiṁ atītamaddhānan’ti tattha nandiṁ samanvāneti, ‘evaṁsañño ahosiṁ atītamaddhānan’ti tattha nandiṁ samanvāneti, ‘evaṁsaṅkhāro ahosiṁ atītamaddhānan’ti tattha nandiṁ samanvāneti, ‘evaṁviññāṇo ahosiṁ atītamaddhānan’ti tattha nandiṁ samanvāneti— evaṁ kho, bhikkhave, atītaṁ anvāgameti.And how do you run back to the past? You muster delight there, thinking: ‘I had such form in the past.’ … ‘I had such feeling … perception … choice … consciousness in the past.’ That’s how you run back to the past.

5Và này các Tỷ-kheo, thế nào là không truy tìm quá khứ? Vị ấy nghĩ: “Như vậy là sắc của tôi trong quá khứ”, và không truy tìm sự hân hoan trong ấy; “Như vậy là thọ của tôi trong quá khứ”, và không truy tìm sự hân hoan trong ấy; “Như vậy là tưởng của tôi … Như vậy là hành của tôi … Như vậy là thức của tôi trong quá khứ”; và không truy tìm sự hân hoan trong ấy. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là không truy tìm quá khứ.Kathañca, bhikkhave, atītaṁ nānvāgameti? ‘Evaṁrūpo ahosiṁ atītamaddhānan’ti tattha nandiṁ na samanvāneti, ‘evaṁvedano ahosiṁ atītamaddhānan’ti tattha nandiṁ na samanvāneti, ‘evaṁsañño ahosiṁ atītamaddhānan’ti tattha nandiṁ na samanvāneti, ‘evaṁsaṅkhāro ahosiṁ atītamaddhānan’ti tattha nandiṁ na samanvāneti, ‘evaṁviññāṇo ahosiṁ atītamaddhānan’ti tattha nandiṁ na samanvāneti— evaṁ kho, bhikkhave, atītaṁ nānvāgameti.And how do you not run back to the past? You don’t muster delight there, thinking: ‘I had such form in the past.’ … ‘I had such feeling … perception … choice … consciousness in the past.’ That’s how you don’t run back to the past.

6Và này các Tỷ-kheo, thế nào ước vọng trong tương lai? Vị ấy nghĩ: “Mong rằng như vậy sẽ là sắc của tôi trong tương lai”, và truy tìm sự hân hoan trong ấy; “Mong rằng như vậy sẽ là thọ của tôi trong tương lai”, và truy tìm sự hân hoan trong ấy; “Mong rằng như vậy là tưởng của tôi … là hành của tôi … là thức của tôi trong tương lai”, và truy tìm sự hân hoan trong ấy. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là ước vọng trong tương lai.Kathañca, bhikkhave, anāgataṁ paṭikaṅkhati? ‘Evaṁrūpo siyaṁ anāgatamaddhānan’ti tattha nandiṁ samanvāneti, evaṁvedano siyaṁ …pe… evaṁsañño siyaṁ … evaṁsaṅkhāro siyaṁ … evaṁviññāṇo siyaṁ anāgatamaddhānanti tattha nandiṁ samanvāneti— evaṁ kho, bhikkhave, anāgataṁ paṭikaṅkhati.And how do you anticipate the future? You muster delight there, thinking: ‘May I have such form in the future.’ … ‘May I have such feeling … perception … choice … consciousness in the future.’ That’s how you anticipate the future.

7Và này các Tỷ-kheo, thế nào là không ước vọng trong tương lai? Vị ấy nghĩ: “Mong rằng như vậy sẽ là sắc của tôi trong tương lai”, và không truy tìm sự hân hoan trong ấy; “Mong rằng như vậy sẽ là thọ của tôi trong tương lai”, và không truy tìm sự hân hoan trong ấy; “Mong rằng như vậy sẽ là tưởng … sẽ là hành … sẽ là thức của tôi trong tương lai”, và không truy tìm sự hân hoan trong ấy. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là không ước vọng trong tương lai.Kathañca, bhikkhave, anāgataṁ nappaṭikaṅkhati? ‘Evaṁrūpo siyaṁ anāgatamaddhānan’ti tattha nandiṁ na samanvāneti, evaṁvedano siyaṁ … evaṁsañño siyaṁ … evaṁsaṅkhāro siyaṁ … ‘evaṁviññāṇo siyaṁ anāgatamaddhānan’ti tattha nandiṁ na samanvāneti— evaṁ kho, bhikkhave, anāgataṁ nappaṭikaṅkhati.And how do you not anticipate the future? You don’t muster delight there, thinking: ‘May I have such form in the future.’ … ‘May I have such feeling … perception … choice … consciousness in the future.’ That’s how you don’t anticipate the future.

8Và này các Tỷ-kheo, như thế nào là bị lôi cuốn trong các pháp hiện tại? Ở đây, này các Tỷ-kheo, có kẻ vô văn phàm phu không đi đến các bậc Thánh, không thuần thục pháp các bậc Thánh, không tu tập pháp các bậc Thánh; không đi đến các bậc Chân nhân, không thuần thục pháp các bậc Chân nhân, không tu tập pháp các bậc Chân nhân; quán sắc là tự ngã, hay quán tự ngã là có sắc, hay quán sắc là trong tự ngã, hay quán tự ngã là trong sắc; hay vị ấy quán thọ là tự ngã, hay quán tự ngã là có thọ, hay quán thọ là trong tự ngã, hay quán tự ngã là trong thọ; hay vị ấy quán tưởng là tự ngã, hay quán tự ngã là có tưởng, hay vị ấy quán tưởng là trong tự ngã, hay quán tự ngã là trong tưởng; hay vị ấy quán hành là tự ngã, hay vị ấy quán tự ngã là có hành, hay vị ấy quán hành là trong tự ngã, hay vị ấy quán tự ngã là trong hành; hay vị ấy quán thức là tự ngã, hay quán tự ngã là có thức, hay quán thức là trong tự ngã, hay quán tự ngã là trong thức. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là bị lôi cuốn trong các pháp hiện tại.Kathañca, bhikkhave, paccuppannesu dhammesu saṁhīrati? Idha, bhikkhave, assutavā puthujjano ariyānaṁ adassāvī ariyadhammassa akovido ariyadhamme avinīto sappurisānaṁ adassāvī sappurisadhammassa akovido sappurisadhamme avinīto rūpaṁ attato samanupassati, rūpavantaṁ vā attānaṁ, attani vā rūpaṁ, rūpasmiṁ vā attānaṁ; vedanaṁ …pe… saññaṁ … saṅkhāre … viññāṇaṁ attato samanupassati, viññāṇavantaṁ vā attānaṁ attani vā viññāṇaṁ, viññāṇasmiṁ vā attānaṁ— evaṁ kho, bhikkhave, paccuppannesu dhammesu saṁhīrati.And how do you falter amid presently arisen phenomena? It’s when an unlearned ordinary person has not seen the noble ones, and is neither skilled nor trained in the teaching of the noble ones. They’ve not seen true persons, and are neither skilled nor trained in the teaching of the true persons. They regard form as self, self as having form, form in self, or self in form. They regard feeling … perception … choices … consciousness as self, self as having consciousness, consciousness in self, or self in consciousness. That’s how you falter amid presently arisen phenomena.

9–10Và này các Tỷ-kheo, thế nào là không bị lôi cuốn trong các pháp hiện tại? Ở đây, này các Tỷ-kheo, có vị Đa văn Thánh đệ tử đi đến các bậc Thánh, thuần thục pháp các bậc Thánh, tu tập pháp các bậc Thánh, đi đến các bậc Chân nhân, thuần thục pháp các bậc Chân nhân, tu tập pháp các bậc Chân nhân. Vị này không quán sắc là tự ngã, không quán tự ngã là có sắc, không quán sắc là trong tự ngã, không quán tự ngã trong sắc; không quán thọ … không quán tưởng … không quán hành … không quán thức là tự ngã, không quán tự ngã là có thức, không quán thức trong tự ngã, không quán tự ngã trong thức. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là không bị lôi cuốn trong các pháp hiện tại.

Quá khứ không truy tìm
Tương lai không ước vọng.
Quá khứ đã đoạn tận,
Tương lai lại chưa đến,
Chỉ có pháp hiện tại
Tuệ quán chính ở đây.
Không động, không rung chuyển
Biết vậy, nên tu tập,
Hôm nay nhiệt tâm làm,
Ai biết chết ngày mai?
Không ai điều đình được,
Với đại quân thần chết,
Trú như vậy nhiệt tâm,
Đêm ngày không mệt mỏi,
Xứng gọi Nhứt dạ Hiền,
Bậc an tịnh, trầm lặng.
Kathañca, bhikkhave, paccuppannesu dhammesu na saṁhīrati? Idha, bhikkhave, sutavā ariyasāvako ariyānaṁ dassāvī ariyadhammassa kovido ariyadhamme suvinīto sappurisānaṁ dassāvī sappurisadhammassa kovido sappurisadhamme suvinīto na rūpaṁ attato samanupassati, na rūpavantaṁ vā attānaṁ, na attani vā rūpaṁ, na rūpasmiṁ vā attānaṁ; na vedanaṁ … na saññaṁ … na saṅkhāre … na viññāṇaṁ attato samanupassati, na viññāṇavantaṁ vā attānaṁ, na attani vā viññāṇaṁ, na viññāṇasmiṁ vā attānaṁ— evaṁ kho, bhikkhave, paccuppannesu dhammesu na saṁhīrati. Atītaṁ nānvāgameyya, nappaṭikaṅkhe anāgataṁ; Yadatītaṁ pahīnaṁ taṁ, appattañca anāgataṁ. Paccuppannañca yo dhammaṁ, tattha tattha vipassati; Asaṁhīraṁ asaṅkuppaṁ, taṁ vidvā manubrūhaye. Ajjeva kiccamātappaṁ, ko jaññā maraṇaṁ suve; Na hi no saṅgaraṁ tena, mahāsenena maccunā. Evaṁvihāriṁ ātāpiṁ, ahorattamatanditaṁ; Taṁ ve bhaddekarattoti, santo ācikkhate munīti.And how do you not falter amid presently arisen phenomena? It’s when a learned noble disciple has seen the noble ones, and is skilled and trained in the teaching of the noble ones. They’ve seen true persons, and are skilled and trained in the teaching of the true persons. They don’t regard form as self, self as having form, form in self, or self in form. They don’t regard feeling … perception … choices … consciousness as self, self as having consciousness, consciousness in self, or self in consciousness. That’s how you don’t falter amid presently arisen phenomena. ‘Don’t run back to the past, don’t anticipate the future. What’s past is left behind, the future has not arrived; and any present phenomenon you clearly discern in every case. The unfaltering, the unshakable: having known that, foster it. Today’s the day to keenly work— who knows, tomorrow may bring death! For there is no bargain to be struck with Death and his mighty horde. One who keenly meditates like this, tireless all night and day: that’s who has one fine night— so declares the peaceful sage.’

11Khi ta nói: “Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ giảng cho các Ông: ‘Nhứt Dạ Hiền Giả’, tổng thuyết và biệt thuyết”, chính duyên ở đây mà nói vậy.

Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Các Tỷ-kheo ấy hoan hỷ, tín thọ lời dạy của Thế Tôn.
‘Bhaddekarattassa vo, bhikkhave, uddesañca vibhaṅgañca desessāmī’ti— iti yaṁ taṁ vuttaṁ idametaṁ paṭicca vuttan”ti. Idamavoca bhagavā. Attamanā te bhikkhū bhagavato bhāsitaṁ abhinandunti. Bhaddekarattasuttaṁ niṭṭhitaṁ paṭhamaṁ.And that’s what I meant when I said: ‘I shall teach you the summary recital and the analysis of the one who has one fine night.’” That is what the Buddha said. Satisfied, the mendicants approved what the Buddha said.

Viết bởi Tuệ Minh

Nguồn trích dẫn

  1. Trung Bộ 131 (Bhaddekaratta Sutta). Bản Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka, MN 131 trên SuttaCentral.
  2. Bản tiếng Anh: Bhikkhu Sujato dịch, SuttaCentral, phát hành theo giấy phép CC0.
  3. Bản tiếng Việt: HT. Thích Minh Châu dịch (bản trên SuttaCentral). Bản dịch tiếng Việt của HT. Thích Minh Châu, trích đăng để phụng sự Pháp thí; nếu chủ sở hữu bản quyền có yêu cầu, xin liên hệ 0902 332 970 để điều chỉnh.

Đọc tiếp