Kinh Phân Tích Duyên Khởi
Vibhaṅga Sutta
Mười hai nhân duyên thường được đọc như một chuỗi tên gọi. Bài kinh ngắn này giải thích từng mắt xích bằng chính lời Đức Phật.
Trước khi đọc kinh
Duyên khởi (paṭiccasamuppāda) là giáo lý cho thấy khổ sinh khởi do các điều kiện nối tiếp nhau, và cũng chấm dứt khi các điều kiện ấy chấm dứt. Trong kinh này, Đức Thế Tôn nói rõ ý định: Ngài sẽ giảng và phân tích duyên khởi (đoạn 1.2). Trước hết Ngài đọc chuỗi mười hai chi theo chiều thuận: do vô minh làm duyên nên có các hành, do các hành làm duyên nên có thức, cứ thế cho đến sinh, rồi già chết, sầu, bi, khổ, ưu, não, và kết lại: toàn bộ khối khổ này sinh khởi là như vậy (đoạn 2.2–2.13).
Phần chính của kinh đi ngược từ cuối lên đầu, định nghĩa từng chi. Già là răng rụng, tóc bạc, da nhăn, tuổi thọ giảm, các căn suy yếu; chết là sự tan rã của các uẩn, sự vứt bỏ thân xác (đoạn 3.2–3.5). Sinh là sự nhập thai, sự xuất hiện của các uẩn, sự có được các xứ (đoạn 4.2). Hữu có ba: dục hữu, sắc hữu, vô sắc hữu (đoạn 5.3). Thủ có bốn: dục thủ, kiến thủ, giới cấm thủ, ngã luận thủ (đoạn 6.3). Ái có sáu nhóm theo sáu đối tượng, thọ và xúc mỗi thứ cũng có sáu nhóm theo sáu căn (đoạn 7.3, 8.3, 9.3). Sáu xứ là nhãn xứ, nhĩ xứ, tỷ xứ, thiệt xứ, thân xứ, ý xứ (đoạn 10.2). Danh là thọ, tưởng, tư, xúc, tác ý; sắc là bốn đại chủng và sắc nương vào bốn đại chủng (đoạn 11.2–11.5). Thức có sáu nhóm, từ nhãn thức đến ý thức (đoạn 12.3). Các hành có ba: thân hành, khẩu hành, tâm hành (đoạn 13.3).
Điều đáng chú ý là vô minh, chi đứng đầu chuỗi, được định nghĩa rất cụ thể: sự không hiểu biết về khổ, về nguyên nhân sinh khổ, về sự chấm dứt khổ và về lối thực hành dẫn đến sự chấm dứt khổ (đoạn 14.2). Như vậy, ngay trong định nghĩa, duyên khởi được nối với Bốn Thánh đế. Kinh kết bằng chiều nghịch: khi vô minh phai tàn và đoạn diệt không còn dư sót thì các hành diệt, cứ thế cho đến khi toàn bộ khối khổ chấm dứt (đoạn 15.4–15.6). Bạn có thể xem bài kinh này như một bảng thuật ngữ gốc để đọc mọi bài kinh khác về duyên khởi.
Ý chính
- Chuỗi mười hai chi duyên khởi theo chiều thuận, kết thúc ở toàn bộ khối khổ (2.2–2.13).
- Già và chết được định nghĩa bằng những biểu hiện ai cũng thấy (3.2–3.5).
- Ba hữu, bốn thủ, sáu nhóm ái (5.3, 6.3, 7.3).
- Danh gồm thọ, tưởng, tư, xúc, tác ý; sắc là bốn đại chủng và sắc nương vào bốn đại chủng (11.2–11.5).
- Vô minh là không biết Bốn Thánh đế (14.2).
- Vô minh diệt không dư sót thì cả khối khổ diệt (15.4–15.6).
Thuật ngữ Pāli trong kinh
- paṭiccasamuppāda
- duyên khởi: sự sinh khởi do duyên
- avijjā
- vô minh: không hiểu biết về khổ, nguyên nhân sinh khổ, sự chấm dứt khổ và lối thực hành dẫn đến sự chấm dứt khổ
- saṅkhāra
- hành: thân hành, khẩu hành, tâm hành
- nāmarūpa
- danh sắc: danh là thọ, tưởng, tư, xúc, tác ý; sắc là bốn đại chủng và sắc nương vào chúng
- saḷāyatana
- sáu xứ: nhãn xứ, nhĩ xứ, tỷ xứ, thiệt xứ, thân xứ, ý xứ
- upādāna
- thủ, sự chấp thủ
- bhava
- hữu, sự hiện hữu
- phassa / vedanā
- xúc / thọ: mỗi thứ có sáu nhóm theo sáu căn, từ mắt đến ý
Kinh Phân Tích Duyên Khởi
1Trú ở Sāvatthi (Xá-vệ).
—Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ thuyết và phân tích cho các Ông về lý Duyên khởi. Hãy lắng nghe và khéo suy nghiệm, Ta sẽ giảng.
—Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn.
Thế Tôn nói như sau:Sāvatthiyaṁ viharati. “Paṭiccasamuppādaṁ vo, bhikkhave, desessāmi vibhajissāmi. Taṁ suṇātha, sādhukaṁ manasi karotha, bhāsissāmī”ti. “Evaṁ, bhante”ti kho te bhikkhū bhagavato paccassosuṁ. Bhagavā etadavoca:At Sāvatthī. “Mendicants, I will teach and analyze for you dependent origination. Listen and apply your mind well, I will speak.” “Yes, sir,” they replied. The Buddha said this:
2—Này các Tỷ-kheo, thế nào là lý Duyên khởi? Này các Tỷ-kheo, vô minh duyên hành; hành duyên thức; thức duyên sanh sắc; danh sắc duyên sáu xứ; sáu xứ duyên xúc; xúc duyên thọ; thọ duyên ái; ái duyên thủ; thủ duyên hữu; hữu duyên sanh; sanh duyên già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não được khởi lên. Như vậy là toàn bộ khổ uẩn này tập khởi.“Katamo ca, bhikkhave, paṭiccasamuppādo? Avijjāpaccayā, bhikkhave, saṅkhārā; saṅkhārapaccayā viññāṇaṁ; viññāṇapaccayā nāmarūpaṁ; nāmarūpapaccayā saḷāyatanaṁ; saḷāyatanapaccayā phasso; phassapaccayā vedanā; vedanāpaccayā taṇhā; taṇhāpaccayā upādānaṁ; upādānapaccayā bhavo; bhavapaccayā jāti; jātipaccayā jarāmaraṇaṁ sokaparidevadukkhadomanassupāyāsā sambhavanti. Evametassa kevalassa dukkhakkhandhassa samudayo hoti.“And what is dependent origination? Ignorance is a requirement for choices. Choices are a requirement for consciousness. Consciousness is a requirement for name and form. Name and form are requirements for the six sense fields. The six sense fields are requirements for contact. Contact is a requirement for feeling. Feeling is a requirement for craving. Craving is a requirement for grasping. Grasping is a requirement for continued existence. Continued existence is a requirement for rebirth. Rebirth is a requirement for old age and death, sorrow, lamentation, pain, sadness, and distress to come to be. That is how this entire mass of suffering originates.
3Và này các Tỷ-kheo, thế nào là già, chết? Cái gì thuộc chúng sanh này hay chúng sanh khác, thuộc bộ loại chúng sanh này hay thuộc bộ loại chúng sanh khác, bị già, yếu, suy nhược, răng rụng, tóc bạc, da nhăn, tuổi thọ tàn lụi, các căn chín muồi. Đây gọi là già. Cái gì thuộc chúng sanh này hay chúng sanh khác, thuộc bộ loại chúng sanh này hay thuộc bộ loại chúng sanh khác, sự từ bỏ, hủy hoại, tiêu mất, tử vong, các uẩn hư hoại, thân thể vứt bỏ. Đây gọi là chết. Như vậy, đây là già, đây là chết. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là già, chết.Katamañca, bhikkhave, jarāmaraṇaṁ? Yā tesaṁ tesaṁ sattānaṁ tamhi tamhi sattanikāye jarā jīraṇatā khaṇḍiccaṁ pāliccaṁ valittacatā āyuno saṁhāni indriyānaṁ paripāko; ayaṁ vuccati jarā. Yā tesaṁ tesaṁ sattānaṁ tamhā tamhā sattanikāyā cuti cavanatā bhedo antaradhānaṁ maccu maraṇaṁ kālakiriyā khandhānaṁ bhedo kaḷevarassa nikkhepo (…), idaṁ vuccati maraṇaṁ. Iti ayañca jarā, idañca maraṇaṁ. Idaṁ vuccati, bhikkhave, jarāmaraṇaṁ.And what is old age and death? The old age, decrepitude, broken teeth, grey hair, wrinkly skin, diminished vitality, and failing faculties of the various sentient beings in the various orders of sentient beings. This is called old age. The passing away, passing on, disintegration, demise, mortality, death, decease, breaking up of the aggregates, and laying to rest of the corpse of the various sentient beings in the various orders of sentient beings. This is called death. Such is old age, and such is death. This is called old age and death.
4Và này các Tỷ-kheo, thế nào là sanh? Cái gì thuộc chúng sanh này hay chúng sanh khác, thuộc bộ loại chúng sanh này hay thuộc bộ loại chúng sanh khác bị sanh, xuất sanh, giáng sanh, đản sanh, sự xuất hiện các uẩn, sự thành tựu các xứ. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là sanh.Katamā ca, bhikkhave, jāti? Yā tesaṁ tesaṁ sattānaṁ tamhi tamhi sattanikāye jāti sañjāti okkanti abhinibbatti khandhānaṁ pātubhāvo āyatanānaṁ paṭilābho. Ayaṁ vuccati, bhikkhave, jāti.And what is rebirth? The rebirth, inception, conception, regeneration, manifestation of the aggregates, and acquisition of the sense fields of the various sentient beings in the various orders of sentient beings. This is called rebirth.
5Và này các Tỷ-kheo, thế nào là hữu? Này các Tỷ-kheo, có ba hữu này: Dục hữu, Sắc hữu, Vô sắc hữu. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là hữu.Katamo ca, bhikkhave, bhavo? Tayome, bhikkhave, bhavā— kāmabhavo, rūpabhavo, arūpabhavo. Ayaṁ vuccati, bhikkhave, bhavo.And what is continued existence? There are these three states of existence. Existence in the sensual realm, the realm of luminous form, and the formless realm. This is called continued existence.
6Và này các Tỷ-kheo, thế nào là thủ? Này các Tỷ-kheo, có bốn thủ này: dục thủ, kiến thủ, giới cấm thủ, ngã luận thủ. Này các Tỷ—kheo, đây gọi là thủ.Katamañca, bhikkhave, upādānaṁ? Cattārimāni, bhikkhave, upādānāni— kāmupādānaṁ, diṭṭhupādānaṁ, sīlabbatupādānaṁ, attavādupādānaṁ. Idaṁ vuccati, bhikkhave, upādānaṁ.And what is grasping? There are these four kinds of grasping. Grasping at sensual pleasures, views, precepts and observances, and theories of a self. This is called grasping.
7Và này các Tỷ-kheo, thế nào là ái? Này các Tỷ-kheo, có sáu ái này: sắc ái, thanh ái, hương ái, vị ái, xúc ái, pháp ái. Này các Tỷ—kheo, đây gọi là ái.Katamā ca, bhikkhave, taṇhā? Chayime, bhikkhave, taṇhākāyā— rūpataṇhā, saddataṇhā, gandhataṇhā, rasataṇhā, phoṭṭhabbataṇhā, dhammataṇhā. Ayaṁ vuccati, bhikkhave, taṇhā.And what is craving? There are these six classes of craving. Craving for sights, sounds, smells, tastes, touches, and ideas. This is called craving.
8Và này các Tỷ-kheo, thế nào là thọ? Này các Tỷ-kheo, có sáu thọ này: thọ do nhãn xúc sanh; thọ do nhĩ xúc sanh; thọ do tỷ xúc sanh; thọ do thiệt xúc sanh; thọ do thân xúc sanh; thọ do ý xúc sanh. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là thọ.Katamā ca, bhikkhave, vedanā? Chayime, bhikkhave, vedanākāyā— cakkhusamphassajā vedanā, sotasamphassajā vedanā, ghānasamphassajā vedanā, jivhāsamphassajā vedanā, kāyasamphassajā vedanā, manosamphassajā vedanā. Ayaṁ vuccati, bhikkhave, vedanā.And what is feeling? There are these six classes of feeling. Feeling born of contact through the eye, ear, nose, tongue, body, and mind. This is called feeling.
9Và này các Tỷ-kheo, thế nào là xúc? Này các Tỷ-kheo, có sáu xúc này: nhãn xúc, nhĩ xúc, tỷ xúc, thiệt xúc, thân xúc, ý xúc. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là xúc.Katamo ca, bhikkhave, phasso? Chayime, bhikkhave, phassakāyā— cakkhusamphasso, sotasamphasso, ghānasamphasso, jivhāsamphasso, kāyasamphasso, manosamphasso. Ayaṁ vuccati, bhikkhave, phasso.And what is contact? There are these six classes of contact. Contact through the eye, ear, nose, tongue, body, and mind. This is called contact.
10Và này các Tỷ-kheo, thế nào là sáu xứ? Nhãn xứ, nhĩ xứ, tỷ xứ, thiệt xứ, thân xứ, ý xứ. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là sáu xứ.Katamañca, bhikkhave, saḷāyatanaṁ? Cakkhāyatanaṁ, sotāyatanaṁ, ghānāyatanaṁ, jivhāyatanaṁ, kāyāyatanaṁ, manāyatanaṁ— idaṁ vuccati, bhikkhave, saḷāyatanaṁ.And what are the six sense fields? The sense fields of the eye, ear, nose, tongue, body, and mind. These are called the six sense fields.
11Và này các Tỷ-kheo, thế nào là danh sắc? Thọ, tưởng, tư, xúc, tác ý; đây gọi là danh. Bốn đại chủng và sắc do bốn đại chủng tạo ra; đây gọi là sắc. Như vậy, đây là danh, đây là sắc. Đây gọi là danh sắc.Katamañca, bhikkhave, nāmarūpaṁ? Vedanā, saññā, cetanā, phasso, manasikāro— idaṁ vuccati nāmaṁ. Cattāro ca mahābhūtā, catunnañca mahābhūtānaṁ upādāyarūpaṁ. Idaṁ vuccati rūpaṁ. Iti idañca nāmaṁ, idañca rūpaṁ. Idaṁ vuccati, bhikkhave, nāmarūpaṁ.And what are name and form? Feeling, perception, intention, contact, and application of mind. This is called name. The four principal states, and form derived from the four principal states. This is called form. Such is name and such is form. These are called name and form.
12Và này các Tỷ-kheo, thế nào là thức? Này các Tỷ-kheo, có sáu thức thân này: nhãn thức, nhĩ thức, tỷ thức, thiệt thức, thân thức, ý thức. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là thức.Katamañca, bhikkhave, viññāṇaṁ? Chayime, bhikkhave, viññāṇakāyā— cakkhuviññāṇaṁ, sotaviññāṇaṁ, ghānaviññāṇaṁ, jivhāviññāṇaṁ, kāyaviññāṇaṁ, manoviññāṇaṁ. Idaṁ vuccati, bhikkhave, viññāṇaṁ.And what is consciousness? There are these six classes of consciousness. Eye, ear, nose, tongue, body, and mind consciousness. This is called consciousness.
13Và này các Tỷ-kheo, thế nào là hành? Này các Tỷ-kheo, có ba hành này: thân hành, khẩu hành, ý hành. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là hành.Katame ca, bhikkhave, saṅkhārā? Tayome, bhikkhave, saṅkhārā— kāyasaṅkhāro, vacīsaṅkhāro, cittasaṅkhāro. Ime vuccanti, bhikkhave, saṅkhārā.And what are choices? There are three kinds of choices. Choices by way of body, speech, and mind. These are called choices.
14Này các Tỷ-kheo, thế nào là vô minh? Này các Tỷ-kheo, không rõ biết Khổ, không rõ biết Khổ tập, không rõ biết Khổ diệt, không rõ biết Con đường đưa đến Khổ diệt. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là vô minh.Katamā ca, bhikkhave, avijjā? Yaṁ kho, bhikkhave, dukkhe aññāṇaṁ, dukkhasamudaye aññāṇaṁ, dukkhanirodhe aññāṇaṁ, dukkhanirodhagāminiyā paṭipadāya aññāṇaṁ. Ayaṁ vuccati, bhikkhave, avijjā.And what is ignorance? Not knowing about suffering, the origin of suffering, the cessation of suffering, and the practice that leads to the cessation of suffering. This is called ignorance.
15Như vậy này các Tỷ-kheo, vô minh duyên hành; hành duyên thức; thức duyên danh sắc; danh sắc duyên sáu xứ; sáu xứ duyên xúc; xúc duyên thọ; thọ duyên ái; ái duyên thủ; thủ duyên hữu; hữu duyên sanh; sanh duyên già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não được khởi lên. Như vậy là toàn bộ khổ uẩn này tập khởi. Nhưng do sự ly tham, đoạn diệt vô minh một cách hoàn toàn, nên hành diệt. Do hành diệt nên thức diệt. Do thức diệt nên danh sắc diệt. Do danh sắc diệt nên sáu xứ diệt. Do sáu xứ diệt nên xúc diệt. Do xúc diệt nên thọ diệt. Do thọ diệt nên ái diệt. Do ái diệt nên thủ diệt. Do thủ diệt nên hữu diệt. Do hữu diệt nên sanh diệt. Do sanh diệt nên già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não đều diệt. Như vậy là toàn bộ khổ uẩn này đoạn diệt.Iti kho, bhikkhave, avijjāpaccayā saṅkhārā; saṅkhārapaccayā viññāṇaṁ …pe… evametassa kevalassa dukkhakkhandhassa samudayo hoti. Avijjāya tveva asesavirāganirodhā saṅkhāranirodho; saṅkhāranirodhā viññāṇanirodho …pe… evametassa kevalassa dukkhakkhandhassa nirodho hotī”ti. Dutiyaṁ.And so, ignorance is a requirement for choices. Choices are a requirement for consciousness. … That is how this entire mass of suffering originates. When ignorance fades away and ceases with no residue left behind, choices cease. When choices cease, consciousness ceases. … That is how this entire mass of suffering ceases.”
Viết bởi Tuệ Minh
Nguồn trích dẫn
- Tương Ưng Bộ 12.2 (Vibhaṅga Sutta). Bản Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka, SN 12.2 trên SuttaCentral.
- Bản tiếng Anh: Bhikkhu Sujato dịch, SuttaCentral, phát hành theo giấy phép CC0.
- Bản tiếng Việt: HT. Thích Minh Châu dịch (bản trên SuttaCentral). Bản dịch tiếng Việt của HT. Thích Minh Châu, trích đăng để phụng sự Pháp thí; nếu chủ sở hữu bản quyền có yêu cầu, xin liên hệ 0902 332 970 để điều chỉnh.