Kinh Rừng Simsapā
Sīsapāvana Sutta
Còn gọi là: Kinh Lá Simsapa
Đức Phật cầm một nắm lá và hỏi: lá trong tay nhiều hay lá trong rừng nhiều? Câu trả lời giải thích vì sao Ngài dạy ít mà đủ.
Trước khi đọc kinh
Đây là một trong những bài kinh ngắn nhất mà cũng sâu sắc nhất. Đức Phật biết nhiều hơn những gì Ngài nói, nhiều như lá trong cả khu rừng so với nắm lá trong tay (đoạn 1.5–1.8).
Vậy tại sao Ngài không nói hết? Lý do được nêu rất thẳng: những điều ấy không đem lại lợi ích, không dẫn đến an tịnh và giải thoát (đoạn 1.10). Điều Ngài chọn nói chỉ có bốn: khổ, nguồn gốc của khổ, sự chấm dứt khổ, và con đường (đoạn 2.2).
Bài kinh là lời nhắc cho người học Phật hôm nay. Giữa vô số câu hỏi hấp dẫn về vũ trụ, kiếp trước, thần thông, điều cần ưu tiên vẫn là nắm lá trong tay: hiểu khổ và tu tập con đường dứt khổ. Muốn đọc đầy đủ bốn sự thật ấy, bạn xem Kinh Chuyển Pháp Luân.
Ý chính
- Điều Đức Phật biết nhiều như lá trong rừng, điều Ngài dạy chỉ như nắm lá (1.5–1.8).
- Tiêu chuẩn để dạy: có lợi ích, dẫn đến an tịnh và giải thoát (1.10, 3.2).
- Điều đã dạy là Bốn Thánh đế (2.2).
- Lời khuyên: hãy nỗ lực thấy rõ bốn điều ấy (4.1).
Thuật ngữ Pāli trong kinh
- sīsapā
- cây simsapā, một loại cây gỗ quý ở Ấn Độ
- abhiññā
- thắng trí: hiểu biết trực tiếp
- atthasaṁhita
- có lợi ích
- ādibrahmacariyaka
- căn bản của đời sống phạm hạnh
- yoga
- sự nỗ lực, chuyên chú
Kinh Rừng Simsapā
1Simsapà
Một thời, Thế Tôn trú ở Kosambi, tại rừng Simsapà.
Rồi Thế Tôn lấy tay nhặt lên một ít lá Simsapà, rồi bảo các Tỷ-kheo:
—Các Ông nghĩ thế nào, này các Tỷ-kheo, cái gì là nhiều hơn, một số ít lá Simsapà mà Ta nắm lấy trong tay, hay lá trong rừng Simsapà?
—Thật là quá ít, bạch Thế Tôn, một ít lá Simsapà mà Thế Tôn nắm lấy trong tay, và thật là quá nhiều lá trong rừng Simsapà.
—Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, thật là quá nhiều, những gì Ta đã thắng tri mà không nói cho các Ông! Thật là quá ít những gì mà Ta đã nói ra!
Nhưng tại sao, này các Tỷ-kheo, Ta lại không nói ra những điều ấy? Vì rằng, này các Tỷ-kheo, những điều ấy không liên hệ đến mục đích, không phải là căn bản cho Phạm hạnh, không đưa đến yếm ly, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn. Do vậy, Ta không nói lên những điều ấy.Ekaṁ samayaṁ bhagavā kosambiyaṁ viharati sīsapāvane. Atha kho bhagavā parittāni sīsapāpaṇṇāni pāṇinā gahetvā bhikkhū āmantesi: “Taṁ kiṁ maññatha, bhikkhave, katamaṁ nu kho bahutaraṁ— yāni vā mayā parittāni sīsapāpaṇṇāni pāṇinā gahitāni yadidaṁ upari sīsapāvane”ti? “Appamattakāni, bhante, bhagavatā parittāni sīsapāpaṇṇāni pāṇinā gahitāni; atha kho etāneva bahutarāni yadidaṁ upari sīsapāvane”ti. “Evameva kho, bhikkhave, etadeva bahutaraṁ yaṁ vo mayā abhiññāya anakkhātaṁ. Kasmā cetaṁ, bhikkhave, mayā anakkhātaṁ? Na hetaṁ, bhikkhave, atthasaṁhitaṁ nādibrahmacariyakaṁ na nibbidāya na virāgāya na nirodhāya na upasamāya na abhiññāya na sambodhāya na nibbānāya saṁvattati; tasmā taṁ mayā anakkhātaṁ.At one time the Buddha was staying near Kosambī in a rosewood grove. Then the Buddha picked up a few rosewood leaves in his hand and addressed the mendicants: “What do you think, mendicants? Which is more: the few leaves in my hand, or those in the grove above?” “Sir, the few leaves in your hand are a tiny amount. There are far more leaves in the grove above.” “In the same way, there is much more that I have directly known but have not explained to you. What I have explained is a tiny amount. And why haven’t I explained it? Because it’s not beneficial or relevant to the fundamentals of the spiritual life. It doesn’t lead to disillusionment, dispassion, cessation, peace, insight, awakening, and extinguishment. That’s why I haven’t explained it.
2Và này các Tỷ-kheo, điều gì mà Ta nói? “Đây là Khổ”, này các Tỷ-kheo, là điều Ta nói. “Đây là Khổ tập”, là điều Ta nói. “Đây là Khổ diệt”, là điều Ta nói. “Đây là Con Đường đưa đến Khổ diệt”, là điều Ta nói.Kiñca, bhikkhave, mayā akkhātaṁ? ‘Idaṁ dukkhan’ti, bhikkhave, mayā akkhātaṁ, ‘ayaṁ dukkhasamudayo’ti mayā akkhātaṁ, ‘ayaṁ dukkhanirodho’ti mayā akkhātaṁ, ‘ayaṁ dukkhanirodhagāminī paṭipadā’ti mayā akkhātaṁ.And what have I explained? I have explained: ‘This is suffering’ … ‘This is the origin of suffering’ … ‘This is the cessation of suffering’ … ‘This is the practice that leads to the cessation of suffering’.
3Nhưng tại sao, này các Tỷ-kheo, Ta lại nói ra những điều ấy? Vì rằng, này các Tỷ-kheo, những điều ấy liên hệ đến mục đích, là căn bản cho Phạm hạnh, đưa đến yếm ly, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn. Do vậy, Ta nói lên những điều ấy.Kasmā cetaṁ, bhikkhave, mayā akkhātaṁ? Etañhi, bhikkhave, atthasaṁhitaṁ etaṁ ādibrahmacariyakaṁ etaṁ nibbidāya virāgāya nirodhāya upasamāya abhiññāya sambodhāya nibbānāya saṁvattati; tasmā taṁ mayā akkhātaṁ.And why have I explained this? Because it’s beneficial and relevant to the fundamentals of the spiritual life. It leads to disillusionment, dispassion, cessation, peace, insight, awakening, and extinguishment. That’s why I’ve explained it.
4Do vậy, này các Tỷ-kheo, một cố gắng cần phải làm để rõ biết: “Đây là Khổ” … một cố gắng cần phải làm để rõ biết: “Đây là Con Đường đưa đến Khổ diệt”.Tasmātiha, bhikkhave, ‘idaṁ dukkhan’ti yogo karaṇīyo …pe… ‘ayaṁ dukkhanirodhagāminī paṭipadā’ti yogo karaṇīyo”ti. Paṭhamaṁ.That’s why you should practice meditation …”
Viết bởi Tuệ Minh
Nguồn trích dẫn
- Tương Ưng Bộ 56.31 (Sīsapāvana Sutta). Bản Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka, SN 56.31 trên SuttaCentral.
- Bản tiếng Anh: Bhikkhu Sujato dịch, SuttaCentral, phát hành theo giấy phép CC0.
- Bản tiếng Việt: HT. Thích Minh Châu dịch (bản trên SuttaCentral). Bản dịch tiếng Việt của HT. Thích Minh Châu, trích đăng để phụng sự Pháp thí; nếu chủ sở hữu bản quyền có yêu cầu, xin liên hệ 0902 332 970 để điều chỉnh.