Kinh Sáu Sáu
Chachakka Sutta
Còn gọi là: Kinh Sáu Sáu Pháp
Một bài kinh có cấu trúc chặt chẽ như một bài toán: sáu nhóm, mỗi nhóm sáu, xem xét từng thứ để thấy không có gì trong đó đáng gọi là “tôi”.
Trước khi đọc kinh
Kinh Sáu Sáu (Chachakka Sutta) là bài kinh thứ 148 của Trung Bộ, được giảng tại tinh xá Kỳ Viên (Jetavana) của ông Cấp Cô Độc (Anāthapiṇḍika), gần thành Xá-vệ (Sāvatthī). Đức Thế Tôn mở đầu bằng lời hứa giảng Pháp tốt đẹp ở phần đầu, phần giữa và phần cuối, rồi nêu sáu nhóm sáu cần được hiểu rõ: sáu nội xứ, sáu ngoại xứ, sáu nhóm thức, sáu nhóm xúc, sáu nhóm cảm thọ, sáu nhóm ái (đoạn 2.1–3.1). Ngài giải thích từng nhóm theo một chuỗi nối tiếp nhau: do mắt và các sắc làm duyên mà nhãn thức sinh khởi; sự gặp gỡ của ba pháp ấy là xúc; do xúc mà có cảm thọ; do cảm thọ mà có ái; tai, mũi, lưỡi, thân, ý cũng vậy (đoạn 4.1–9.11).
Phần thứ hai là một lập luận về vô ngã. Nếu ai nói “mắt là tự ngã”, điều ấy không hợp lý, vì sự sinh khởi và hoại diệt của mắt được thấy rõ; nói như vậy thì hóa ra “tự ngã của tôi sinh khởi rồi hoại diệt” (đoạn 10.1–10.6). Lập luận ấy được lặp lại cho các sắc, nhãn thức, nhãn xúc, cảm thọ, ái, rồi cho cả năm cửa còn lại, tổng cộng ba mươi sáu thứ (đoạn 10.7–15.12). Xem những thứ ấy là “của tôi, là tôi, là tự ngã của tôi” là con đường đưa đến sự sinh khởi của hữu thân, tức cái mà ta chấp là “tôi”; xem chúng là “không phải của tôi, không phải là tôi, không phải tự ngã của tôi” là con đường đưa đến sự chấm dứt (đoạn 16.1–16.2, 22.1–22.2).
Phần thứ ba chỉ ra chỗ phiền não bám rễ. Khi gặp lạc thọ mà vui thích, bám lấy, thì tham tùy miên nằm sẵn; khi gặp khổ thọ mà sầu muộn, than van, thì sân tùy miên nằm sẵn; khi gặp cảm thọ không khổ không lạc mà không hiểu rõ nó, thì vô minh tùy miên nằm sẵn (đoạn 28.1–28.7). Chưa đoạn trừ ba tùy miên ấy mà muốn chấm dứt khổ ngay đời này là điều không thể; đã đoạn trừ thì điều ấy có thể (đoạn 28.8, 34.8). Kinh kết rằng trong khi bài giảng được nói ra, khoảng sáu mươi vị Tỷ-kheo được giải thoát khỏi các lậu hoặc (đoạn 41.10). Áp dụng vào đời thường: khi được khen, bạn chỉ cần nhận ra “đây là cảm thọ dễ chịu” mà không ôm lấy nó; khi bị chê, nhận ra “đây là cảm thọ khó chịu” mà không nuôi giận. Chỉ một khoảnh khắc nhận biết như vậy đã là đang làm đúng điều bài kinh dạy.
Ý chính
- Sáu nhóm sáu cần được hiểu rõ: nội xứ, ngoại xứ, thức, xúc, cảm thọ, ái (3.1).
- Do mắt và sắc làm duyên mà nhãn thức sinh; ba pháp gặp nhau là xúc; xúc sinh cảm thọ, cảm thọ sinh ái (9.3).
- Cái gì có sinh có diệt mà gọi là tự ngã thì hóa ra tự ngã sinh rồi diệt, nên không hợp lý (10.1–10.6).
- Xem sáu nhóm là “của tôi, là tôi, tự ngã của tôi” là con đường đưa đến sự sinh khởi của hữu thân (16.1–16.2).
- Vui thích lạc thọ nuôi tham tùy miên, sầu khổ vì khổ thọ nuôi sân tùy miên, không hiểu cảm thọ trung tính nuôi vô minh tùy miên (28.2–28.7).
- Khoảng sáu mươi vị Tỷ-kheo giải thoát khỏi các lậu hoặc khi bài kinh được giảng (41.10).
Thuật ngữ Pāli trong kinh
- chachakka
- sáu nhóm sáu
- āyatana
- xứ, cửa giác quan và đối tượng
- viññāṇa
- thức
- phassa
- xúc, sự gặp gỡ của căn, trần và thức
- vedanā
- cảm thọ: lạc, khổ, hoặc không khổ không lạc
- taṇhā
- ái, khát ái
- anusaya
- tùy miên, khuynh hướng ngủ ngầm
- sakkāya
- hữu thân: năm uẩn bị chấp thủ, cái mà ta bám vào như là “tôi”
Kinh Sáu Sáu
1Như vầy tôi nghe.
Một thời, Thế Tôn trú ở Sāvatthi (Xá-vệ), Jetavana (Kỳ-đà Lâm) tại tinh xá ông Anāthapiṇḍika (Cấp Cô Độc).
Tại đấy, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo: “Này các Tỷ-kheo
. “Thưa vâng, Bạch Thế Tôn”. Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn.
Thế Tôn nói như sauEvaṁ me sutaṁ— ekaṁ samayaṁ bhagavā sāvatthiyaṁ viharati jetavane anāthapiṇḍikassa ārāme. Tatra kho bhagavā bhikkhū āmantesi: “bhikkhavo”ti. “Bhadante”ti te bhikkhū bhagavato paccassosuṁ. Bhagavā etadavoca:So I have heard. At one time the Buddha was staying near Sāvatthī in Jeta’s Grove, Anāthapiṇḍika’s monastery. There the Buddha addressed the mendicants, “Mendicants!” “Venerable sir,” they replied. The Buddha said this:
2—Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ giảng pháp cho các Ông, sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, có nghĩa, có văn. Ta sẽ nói lên Phạm hạnh hoàn toàn viên mãn, thanh tịnh, tức là sáu sáu. Hãy nghe và suy nghiệm kỹ, Ta sẽ giảng.
—Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
(Tóm lược)
Các vị Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau“dhammaṁ vo, bhikkhave, desessāmi ādikalyāṇaṁ majjhekalyāṇaṁ pariyosānakalyāṇaṁ sātthaṁ sabyañjanaṁ, kevalaparipuṇṇaṁ parisuddhaṁ brahmacariyaṁ pakāsessāmi, yadidaṁ— cha chakkāni. Taṁ suṇātha, sādhukaṁ manasi karotha, bhāsissāmī”ti. “Evaṁ, bhante”ti kho te bhikkhū bhagavato paccassosuṁ. Bhagavā etadavoca:“Mendicants, I shall teach you the Dhamma that’s good in the beginning, good in the middle, and good in the end, meaningful and well-phrased. And I shall reveal a spiritual practice that’s entirely full and pure, namely, the six sets of six. Listen and apply your mind well, I will speak.” “Yes, sir,” they replied. The Buddha said this:
3—Sáu nội xứ cần phải được biết. Sáu ngoại xứ cần phải được biết. Sáu thức thân cần phải được biết. Sáu xúc thân cần phải được biết. Sáu thọ thân cần phải được biết. Sáu ái thân cần phải được biết.
(Liệt kê)“Cha ajjhattikāni āyatanāni veditabbāni, cha bāhirāni āyatanāni veditabbāni, cha viññāṇakāyā veditabbā, cha phassakāyā veditabbā, cha vedanākāyā veditabbā, cha taṇhākāyā veditabbā.“The six interior sense fields should be understood. The six exterior sense fields should be understood. The six classes of consciousness should be understood. The six classes of contact should be understood. The six classes of feeling should be understood. The six classes of craving should be understood.
4Khi được nói đến: “Sáu nội xứ cần phải được biết”, do duyên gì được nói đến như vậy? Nhãn xứ, nhĩ xứ, tỷ xứ, thiệt xứ, thân xứ, ý xứ. Khi được nói đến: “Sáu nội xứ cần phải được biết ”, chính do duyên này được nói đến như vậy. Đây là sáu sáu thứ nhất.‘Cha ajjhattikāni āyatanāni veditabbānī’ti— iti kho panetaṁ vuttaṁ. Kiñcetaṁ paṭicca vuttaṁ? Cakkhāyatanaṁ, sotāyatanaṁ, ghānāyatanaṁ, jivhāyatanaṁ, kāyāyatanaṁ, manāyatanaṁ. ‘Cha ajjhattikāni āyatanāni veditabbānī’ti— iti yaṁ taṁ vuttaṁ, idametaṁ paṭicca vuttaṁ. Idaṁ paṭhamaṁ chakkaṁ.‘The six interior sense fields should be understood.’ That’s what I said, but why did I say it? There are the sense fields of the eye, ear, nose, tongue, body, and mind. ‘The six interior sense fields should be understood.’ That’s what I said, and this is why I said it. This is the first set of six.
5Khi được nói đến: “Sáu ngoại xứ cần phải được biết”, do duyên gì được nói đến như vậy? Sắc xứ, thanh xứ, hương xứ, vị xứ, xúc xứ, pháp xứ. Khi được nói đến: “Sáu ngoại xứ cần phải được biết”, chính do duyên này được nói đến như vậy. Đây là sáu sáu thứ hai.‘Cha bāhirāni āyatanāni veditabbānī’ti— iti kho panetaṁ vuttaṁ. Kiñcetaṁ paṭicca vuttaṁ? Rūpāyatanaṁ, saddāyatanaṁ, gandhāyatanaṁ, rasāyatanaṁ, phoṭṭhabbāyatanaṁ, dhammāyatanaṁ. ‘Cha bāhirāni āyatanāni veditabbānī’ti— iti yaṁ taṁ vuttaṁ, idametaṁ paṭicca vuttaṁ. Idaṁ dutiyaṁ chakkaṁ.‘The six exterior sense fields should be understood.’ That’s what I said, but why did I say it? There are the sense fields of sights, sounds, smells, tastes, touches, and ideas. ‘The six exterior sense fields should be understood.’ That’s what I said, and this is why I said it. This is the second set of six.
6Khi được nói đến: “Sáu thức thân cần phải được biết”, do duyên gì được nói đến như vậy? Do duyên mắt và do duyên các sắc, khởi lên nhãn thức. Do duyên tai và do duyên các tiếng, khởi lên nhĩ thức. Do duyên mũi và do duyên các hương, khởi lên tỷ thức. Do duyên lưỡi và do duyên các vị, khởi lên thiệt thức. Do duyên thân và do duyên các xúc, khởi lên thân thức. Do duyên ý và do duyên các pháp, khởi lên ý thức. Khi được nói đến: “Sáu thức thân cần phải được biết”, chính do duyên này được nói đến như vậy. Đây là sáu sáu thứ ba.‘Cha viññāṇakāyā veditabbā’ti— iti kho panetaṁ vuttaṁ. Kiñcetaṁ paṭicca vuttaṁ? Cakkhuñca paṭicca rūpe ca uppajjati cakkhuviññāṇaṁ, sotañca paṭicca sadde ca uppajjati sotaviññāṇaṁ, ghānañca paṭicca gandhe ca uppajjati ghānaviññāṇaṁ, jivhañca paṭicca rase ca uppajjati jivhāviññāṇaṁ, kāyañca paṭicca phoṭṭhabbe ca uppajjati kāyaviññāṇaṁ, manañca paṭicca dhamme ca uppajjati manoviññāṇaṁ. ‘Cha viññāṇakāyā veditabbā’ti— iti yaṁ taṁ vuttaṁ, idametaṁ paṭicca vuttaṁ. Idaṁ tatiyaṁ chakkaṁ.‘The six classes of consciousness should be understood.’ That’s what I said, but why did I say it? Eye consciousness arises dependent on the eye and sights. Ear consciousness arises dependent on the ear and sounds. Nose consciousness arises dependent on the nose and smells. Tongue consciousness arises dependent on the tongue and tastes. Body consciousness arises dependent on the body and touches. Mind consciousness arises dependent on the mind and ideas. ‘The six classes of consciousness should be understood.’ That’s what I said, and this is why I said it. This is the third set of six.
7Khi được nói đến: “Sáu xúc thân cần phải được biết”, do duyên gì được nói đến như vậy? Do duyên mắt và do duyên các sắc, khởi lên nhãn thức. Sự gặp gỡ của ba pháp này là xúc. Do duyên tai và do duyên các tiếng, khởi lên nhĩ thức. Sự gặp gỡ của ba pháp này là xúc. Do duyên mũi và do duyên các hương, khởi lên tỷ thức. Sự gặp gỡ của ba pháp này là xúc. Do duyên lưỡi và do duyên các vị, khởi lên thiệt thức. Sự gặp gỡ của ba pháp này là xúc. Do duyên thân và do duyên các xúc, khởi lên thân thức. Sự gặp gỡ của ba pháp này là xúc. Do duyên ý và do duyên các pháp, khởi lên ý thức. Sự gặp gỡ của ba pháp này là xúc. Khi được nói đến: “Sáu xúc thân cần phải được biết”, chính do duyên này được nói đến như vậy. Đây là sáu sáu thứ tư.‘Cha phassakāyā veditabbā’ti— iti kho panetaṁ vuttaṁ. Kiñcetaṁ paṭicca vuttaṁ? Cakkhuñca paṭicca rūpe ca uppajjati cakkhuviññāṇaṁ, tiṇṇaṁ saṅgati phasso; sotañca paṭicca sadde ca uppajjati sotaviññāṇaṁ, tiṇṇaṁ saṅgati phasso; ghānañca paṭicca gandhe ca uppajjati ghānaviññāṇaṁ, tiṇṇaṁ saṅgati phasso; jivhañca paṭicca rase ca uppajjati jivhāviññāṇaṁ, tiṇṇaṁ saṅgati phasso; kāyañca paṭicca phoṭṭhabbe ca uppajjati kāyaviññāṇaṁ, tiṇṇaṁ saṅgati phasso; manañca paṭicca dhamme ca uppajjati manoviññāṇaṁ, tiṇṇaṁ saṅgati phasso. ‘Cha phassakāyā veditabbā’ti— iti yaṁ taṁ vuttaṁ, idametaṁ paṭicca vuttaṁ. Idaṁ catutthaṁ chakkaṁ.‘The six classes of contact should be understood.’ That’s what I said, but why did I say it? Eye consciousness arises dependent on the eye and sights. The meeting of the three is contact. Ear consciousness arises dependent on the ear and sounds. The meeting of the three is contact. Nose consciousness arises dependent on the nose and smells. The meeting of the three is contact. Tongue consciousness arises dependent on the tongue and tastes. The meeting of the three is contact. Body consciousness arises dependent on the body and touches. The meeting of the three is contact. Mind consciousness arises dependent on the mind and ideas. The meeting of the three is contact. ‘The six classes of contact should be understood.’ That’s what I said, and this is why I said it. This is the fourth set of six.
8Khi được nói đến: “Sáu thọ thân cần phải được biết”, do duyên gì được nói đến như vậy? Do duyên mắt và do duyên các sắc, khởi lên nhãn thức. Sự gặp gỡ của ba pháp này là xúc. Do duyên xúc là thọ. Do duyên tai và do duyên các tiếng, khởi lên nhĩ thức … Do duyên mũi và do duyên các hương, khởi lên tỷ thức … Do duyên lưỡi và do duyên các vị, khởi lên thiệt thức … Do duyên thân và do duyên các xúc, khởi lên thân thức … Do duyên ý và do duyên các pháp, khởi lên ý thức. Sự gặp gỡ của ba pháp này là xúc. Do duyên xúc là thọ. Khi được nói đến: “Sáu thọ thân cần phải được biết”, chính do duyên này được nói đến như vậy. Đây là sáu sáu thứ năm.‘Cha vedanākāyā veditabbā’ti— iti kho panetaṁ vuttaṁ. Kiñcetaṁ paṭicca vuttaṁ? Cakkhuñca paṭicca rūpe ca uppajjati cakkhuviññāṇaṁ, tiṇṇaṁ saṅgati phasso, phassapaccayā vedanā; sotañca paṭicca sadde ca uppajjati sotaviññāṇaṁ, tiṇṇaṁ saṅgati phasso, phassapaccayā vedanā; ghānañca paṭicca gandhe ca uppajjati ghānaviññāṇaṁ, tiṇṇaṁ saṅgati phasso, phassapaccayā vedanā; jivhañca paṭicca rase ca uppajjati jivhāviññāṇaṁ, tiṇṇaṁ saṅgati phasso, phassapaccayā vedanā; kāyañca paṭicca phoṭṭhabbe ca uppajjati kāyaviññāṇaṁ, tiṇṇaṁ saṅgati phasso, phassapaccayā vedanā; manañca paṭicca dhamme ca uppajjati manoviññāṇaṁ, tiṇṇaṁ saṅgati phasso, phassapaccayā vedanā. ‘Cha vedanākāyā veditabbā’ti— iti yaṁ taṁ vuttaṁ, idametaṁ paṭicca vuttaṁ. Idaṁ pañcamaṁ chakkaṁ.‘The six classes of feeling should be understood.’ That’s what I said, but why did I say it? Eye consciousness arises dependent on the eye and sights. The meeting of the three is contact. Contact is a requirement for feeling. Ear consciousness arises dependent on the ear and sounds. The meeting of the three is contact. Contact is a requirement for feeling. Nose consciousness arises dependent on the nose and smells. The meeting of the three is contact. Contact is a requirement for feeling. Tongue consciousness arises dependent on the tongue and tastes. The meeting of the three is contact. Contact is a requirement for feeling. Body consciousness arises dependent on the body and touches. The meeting of the three is contact. Contact is a requirement for feeling. Mind consciousness arises dependent on the mind and ideas. The meeting of the three is contact. Contact is a requirement for feeling. ‘The six classes of feeling should be understood.’ That’s what I said, and this is why I said it. This is the fifth set of six.
9Khi được nói đến: “Sáu ái thân cần phải được biết”, do duyên gì được nói đến như vậy? Do duyên mắt và duyên các sắc, khởi lên nhãn thức. Sự gặp gỡ của ba pháp này là xúc. Do duyên xúc là thọ. Do duyên thọ là ái. Do duyên tai và do duyên các tiếng, khởi lên nhĩ thức … Do duyên mũi và do duyên các hương, khởi lên tỷ thức … Do duyên lưỡi và do duyên các vị, khởi lên thiệt thức … Do duyên thân và do duyên các xúc, khởi lên thân thức … Do duyên ý và do duyên các pháp, khởi lên ý thức. Sự gặp gỡ của ba pháp này là xúc. Do duyên xúc là thọ. Do duyên thọ là ái. Khi được nói đến: “Sáu ái thân cần phải được biết”, chính do duyên này được nói đến như vậy. Đây là sáu sáu thứ sáu.
(Giảng về vô ngã)‘Cha taṇhākāyā veditabbā’ti— iti kho panetaṁ vuttaṁ. Kiñcetaṁ paṭicca vuttaṁ? Cakkhuñca paṭicca rūpe ca uppajjati cakkhuviññāṇaṁ, tiṇṇaṁ saṅgati phasso, phassapaccayā vedanā, vedanāpaccayā taṇhā; sotañca paṭicca sadde ca uppajjati sotaviññāṇaṁ …pe… ghānañca paṭicca gandhe ca uppajjati ghānaviññāṇaṁ … jivhañca paṭicca rase ca uppajjati jivhāviññāṇaṁ … kāyañca paṭicca phoṭṭhabbe ca uppajjati kāyaviññāṇaṁ … manañca paṭicca dhamme ca uppajjati manoviññāṇaṁ, tiṇṇaṁ saṅgati phasso, phassapaccayā vedanā, vedanāpaccayā taṇhā. ‘Cha taṇhākāyā veditabbā’ti— iti yaṁ taṁ vuttaṁ, idametaṁ paṭicca vuttaṁ. Idaṁ chaṭṭhaṁ chakkaṁ.‘The six classes of craving should be understood.’ That’s what I said, but why did I say it? Eye consciousness arises dependent on the eye and sights. The meeting of the three is contact. Contact is a requirement for feeling. Feeling is a requirement for craving. Ear consciousness … Nose consciousness … Tongue consciousness … Body consciousness … Mind consciousness arises dependent on the mind and ideas. The meeting of the three is contact. Contact is a requirement for feeling. Feeling is a requirement for craving. ‘The six classes of craving should be understood.’ That’s what I said, and this is why I said it. This is the sixth set of six.
10Nếu ai nói rằng: “Mắt là tự ngã”, như vậy là không hợp lý. Sự sanh và sự diệt của mắt đã được thấy. Vì rằng sự sanh và sự diệt củ mắt đã được thấy, nên phải đưa đến kết luận: “Tự ngã sanh và diệt ở nơi tôi”. Do vậy, nếu ai nói rằng: “Mắt là tự ngã”, như vậy là không hợp lý. Như vậy, con mắt là vô ngã.
Nếu ai nói rằng: “Các sắc là tự ngã”, như vậy là không hợp lý. Sự sanh và sự diệt của các sắc đã được thấy. Vì rằng sự sanh và sự diệt của các sắc đã được thấy, nên phải đưa đến kết luận: “Tự ngã sanh và diệt ở nơi tôi”. Do vậy, nếu ai nói rằng: “Các sắc là tự ngã”, như vậy là không hợp lý. Như vậy, con mắt là vô ngã, các sắc là vô ngã.
Nếu ai nói rằng: “Nhãn thức là tự ngã”, như vậy là không hợp lý. Sự sanh và sự diệt của nhãn thức đã được thấy. Vì rằng sự sanh và sự diệt của nhãn thức đã được thấy, nên phải đưa đến kết luận: “Tự ngã sanh và diệt ở nơi tôi”. Do vậy, nếu ai nói rằng: “Nhãn thức là tự ngã”, như vậy là không hợp lý. Như vậy, con mắt là vô ngã, các sắc là vô ngã, nhãn thức là vô ngã.
Nếu có ai nói rằng: “Nhãn xúc là tự ngã”, như vậy là không hợp lý. Sự sanh và sự diệt của nhãn xúc đã được thấy. Vì rằng sự sanh và sự diệt của nhãn xúc đã được thấy, nên phải đưa đến kết luận: “Tự ngã sanh và diệt ở nơi tôi”. Do vậy, nếu ai nói rằng: “Nhãn xúc là tự ngã”, như vậy là không hợp lý. Như vậy, con mắt là vô ngã, các sắc là vô ngã, nhãn thức là vô ngã, nhãn xúc là vô ngã.
Nếu có ai nói rằng: “Thọ là tự ngã”, như vậy là không hợp lý. Sự sanh và sự diệt của thọ đã được thấy. Vì rằng sự sanh và sự diệt của thọ đã được thấy, nên phải đưa đến kết luận: “Tự ngã sanh và diệt ở nơi tôi”. Do vậy, nếu ai nói rằng: “Thọ là tự ngã”, như vậy là không hợp lý. Như vậy, con mắt là vô ngã, các sắc là vô ngã, nhãn thức là vô ngã, nhãn xúc là vô ngã, thọ là vô ngã.
Nếu có ai nói rằng: “Ái là tự ngã”, như vậy là không hợp lý. Sự sanh và sự diệt của ái đã được thấy. Vì rằng sự sanh và sự diệt của ái đã được thấy, nên phải đưa đến kết luận: “Tự ngã sanh và diệt ở nơi tôi”. Do vậy, nếu ai nói rằng: “Ái là tự ngã”, như vậy là không hợp lý. Như vậy, con mắt là vô ngã, các sắc là vô ngã, nhãn thức là vô ngã, nhãn xúc là vô ngã, thọ là vô ngã, ái là vô ngã.‘Cakkhu attā’ti yo vadeyya taṁ na upapajjati. Cakkhussa uppādopi vayopi paññāyati. Yassa kho pana uppādopi vayopi paññāyati, ‘attā me uppajjati ca veti cā’ti iccassa evamāgataṁ hoti. Tasmā taṁ na upapajjati: ‘cakkhu attā’ti yo vadeyya. Iti cakkhu anattā. ‘Rūpā attā’ti yo vadeyya taṁ na upapajjati. Rūpānaṁ uppādopi vayopi paññāyati. Yassa kho pana uppādopi vayopi paññāyati, ‘attā me uppajjati ca veti cā’ti iccassa evamāgataṁ hoti. Tasmā taṁ na upapajjati: ‘rūpā attā’ti yo vadeyya. Iti cakkhu anattā, rūpā anattā. ‘Cakkhuviññāṇaṁ attā’ti yo vadeyya taṁ na upapajjati. Cakkhuviññāṇassa uppādopi vayopi paññāyati. Yassa kho pana uppādopi vayopi paññāyati, ‘attā me uppajjati ca veti cā’ti iccassa evamāgataṁ hoti. Tasmā taṁ na upapajjati: ‘cakkhuviññāṇaṁ attā’ti yo vadeyya. Iti cakkhu anattā, rūpā anattā, cakkhuviññāṇaṁ anattā. ‘Cakkhusamphasso attā’ti yo vadeyya taṁ na upapajjati. Cakkhusamphassassa uppādopi vayopi paññāyati. Yassa kho pana uppādopi vayopi paññāyati, ‘attā me uppajjati ca veti cā’ti iccassa evamāgataṁ hoti. Tasmā taṁ na upapajjati: ‘cakkhusamphasso attā’ti yo vadeyya. Iti cakkhu anattā, rūpā anattā, cakkhuviññāṇaṁ anattā, cakkhusamphasso anattā. ‘Vedanā attā’ti yo vadeyya taṁ na upapajjati. Vedanāya uppādopi vayopi paññāyati. Yassa kho pana uppādopi vayopi paññāyati, ‘attā me uppajjati ca veti cā’ti iccassa evamāgataṁ hoti. Tasmā taṁ na upapajjati: ‘vedanā attā’ti yo vadeyya. Iti cakkhu anattā, rūpā anattā, cakkhuviññāṇaṁ anattā, cakkhusamphasso anattā, vedanā anattā. ‘Taṇhā attā’ti yo vadeyya taṁ na upapajjati. Taṇhāya uppādopi vayopi paññāyati. Yassa kho pana uppādopi vayopi paññāyati, ‘attā me uppajjati ca veti cā’ti iccassa evamāgataṁ hoti. Tasmā taṁ na upapajjati: ‘taṇhā attā’ti yo vadeyya. Iti cakkhu anattā, rūpā anattā, cakkhuviññāṇaṁ anattā, cakkhusamphasso anattā, vedanā anattā, taṇhā anattā.If anyone says, ‘the eye is self,’ that is not tenable. The arising and vanishing of the eye is evident, so it would follow that one’s self arises and vanishes. That’s why it’s not tenable to claim that the eye is self. So the eye is not self. If anyone says, ‘sights are self,’ that is not tenable. The arising and vanishing of sights is evident, so it would follow that one’s self arises and vanishes. That’s why it’s not tenable to claim that sights are self. So the eye is not self and sights are not self. If anyone says, ‘eye consciousness is self,’ that is not tenable. The arising and vanishing of eye consciousness is evident, so it would follow that one’s self arises and vanishes. That’s why it’s not tenable to claim that eye consciousness is self. So the eye, sights, and eye consciousness are not self. If anyone says, ‘eye contact is self,’ that is not tenable. The arising and vanishing of eye contact is evident, so it would follow that one’s self arises and vanishes. That’s why it’s not tenable to claim that eye contact is self. So the eye, sights, eye consciousness, and eye contact are not self. If anyone says, ‘feeling is self,’ that is not tenable. The arising and vanishing of feeling is evident, so it would follow that one’s self arises and vanishes. That’s why it’s not tenable to claim that feeling is self. So the eye, sights, eye consciousness, eye contact, and feeling are not self. If anyone says, ‘craving is self,’ that is not tenable. The arising and vanishing of craving is evident, so it would follow that one’s self arises and vanishes. That’s why it’s not tenable to claim that craving is self. So the eye, sights, eye consciousness, eye contact, feeling, and craving are not self.
11Nếu có ai nói rằng: “Tai là tự ngã” …; nếu có ai nói rằng: “” Mũi là tự ngã” …; nếu có ai nói rằng: “Lưỡi là tự ngã” …; nếu có ai nói rằng: “Thân là tự ngã” …; nếu có ai nói rằng: “Ý là tự ngã”, như vậy là không hợp lý. Sự sanh và sự diệt của ý đã được thấy. Vì rằng sự sanh và sự diệt của ý đã được thấy, nên phải đưa đến kết luận: “Tự ngã sanh và diệt ở nơi tôi”. Do vậy, nếu ai nói rằng: “Ý là tự ngã”, như vậy là không hợp lý. Như vậy, ý là vô ngã.‘Sotaṁ attā’ti yo vadeyya …pe… ‘ghānaṁ attā’ti yo vadeyya …pe… ‘jivhā attā’ti yo vadeyya …pe… ‘kāyo attā’ti yo vadeyya …pe… ‘mano attā’ti yo vadeyya taṁ na upapajjati. Manassa uppādopi vayopi paññāyati. Yassa kho pana uppādopi vayopi paññāyati, ‘attā me uppajjati ca veti cā’ti iccassa evamāgataṁ hoti. Tasmā taṁ na upapajjati: ‘mano attā’ti yo vadeyya. Iti mano anattā.If anyone says, ‘the ear is self’ … ‘the nose is self’ … ‘the tongue is self’ … ‘the body is self’ … ‘the mind is self,’ that is not tenable. The arising and vanishing of the mind is evident, so it would follow that one’s self arises and vanishes. That’s why it’s not tenable to claim that the mind is self. So the mind is not self.
12Nếu có ai nói rằng: “Các pháp là tự ngã”, như vậy, là không hợp lý. Sự sanh và sự diệt của các pháp đã được thấy. Vì rằng sự sanh và sự diệt của các pháp đã được thấy, nên phải đưa đến kết luận: “Tự ngã sanh và diệt ở nơi tôi”. Do vậy, nếu ai nói rằng: “Các pháp là tự ngã”, như vậy là không hợp lý. Như vậy, ý là vô ngã, các pháp là vô ngã.‘Dhammā attā’ti yo vadeyya taṁ na upapajjati. Dhammānaṁ uppādopi vayopi paññāyati. Yassa kho pana uppādopi vayopi paññāyati, ‘attā me uppajjati ca veti cā’ti iccassa evamāgataṁ hoti. Tasmā taṁ na upapajjati: ‘dhammā attā’ti yo vadeyya. Iti mano anattā, dhammā anattā.If anyone says, ‘ideas are self’ …
13Nếu có ai nói rằng: “Ý thức là tự ngã”, như vậy là không hợp lý. Sự sanh và sự diệt của ý thức đã được thấy. Vì rằng sự sanh và sự diệt của ý thức đã được thấy, nên phải đưa đến kết luận: “Tự ngã sanh và diệt ở nơi tôi”. Do vậy, nếu ai nói rằng: “Ý thức là tự ngã”, như vậy là không hợp lý. Như vậy, ý là vô ngã, các pháp là vô ngã, ý thức là vô ngã.‘Manoviññāṇaṁ attā’ti yo vadeyya taṁ na upapajjati. Manoviññāṇassa uppādopi vayopi paññāyati. Yassa kho pana uppādopi vayopi paññāyati, ‘attā me uppajjati ca veti cā’ti iccassa evamāgataṁ hoti. Tasmā taṁ na upapajjati: ‘manoviññāṇaṁ attā’ti yo vadeyya. Iti mano anattā, dhammā anattā, manoviññāṇaṁ anattā.‘mind consciousness is self’ …
14Nếu có ai nói rằng: “Ý xúc là tự ngã ”, như vậy là không hợp lý. Sự sanh và sự diệt của ý xúc đã được thấy. Vì rằng sự sanh và sự diệt của ý xúc đã được thấy, nên phải đưa đến kết luận: “Tự ngã sanh và diệt ở nơi tôi”. Do vậy, nếu có ai nói rằng: “Ý xúc là tự ngã”, như vậy là không hợp lý. Như vậy, ý là vô ngã, các pháp là vô ngã, ý thức là vô ngã, ý xúc là vô ngã.‘Manosamphasso attā’ti yo vadeyya taṁ na upapajjati. Manosamphassassa uppādopi vayopi paññāyati. Yassa kho pana uppādopi vayopi paññāyati, ‘attā me uppajjati ca veti cā’ti iccassa evamāgataṁ hoti. Tasmā taṁ na upapajjati: ‘manosamphasso attā’ti yo vadeyya. Iti mano anattā, dhammā anattā, manoviññāṇaṁ anattā, manosamphasso anattā.‘mind contact is self’ …
15Nếu có ai nói rằng: “Thọ là tự ngã”, như vậy là không hợp lý. Sự sanh và sự diệt của thọ đã dược thấy. Vì rằng sự sanh và sự diệt của thọ đã được thấy, nên đưa phải đưa đến kết luận: “Tự ngã sanh và diệt ở nơi tôi”. Do vậy, nếu có ai nói rằng: “Thọ là tự ngã”, như vậy là không hợp lý. Như vậy, ý là vô ngã, các pháp là vô ngã, ý thức là vô ngã, ý xúc là vô ngã, thọ là vô ngã.
Nếu có ai nói rằng: “Ái là tự ngã”, như vậy là không hợp lý. Sự sanh và sự diệt của ái đã được thấy. Vì rằng sự sanh và sự diệt của ái đã được thấy, nên phải đưa đến kết luận: “Tự ngã sanh và diệt ở nơi tôi”. Do vậy, nếu có ai nói rằng: “Ái là tự ngã”, như vậy là không hợp lý. Như vậy, ý là vô ngã, các pháp là vô ngã, ý thức là vô ngã, ý xúc là vô ngã, thọ là vô ngã, ái là vô ngã.‘Vedanā attā’ti yo vadeyya taṁ na upapajjati. Vedanāya uppādopi vayopi paññāyati. Yassa kho pana uppādopi vayopi paññāyati, ‘attā me uppajjati ca veti cā’ti iccassa evamāgataṁ hoti. Tasmā taṁ na upapajjati: ‘vedanā attā’ti yo vadeyya. Iti mano anattā, dhammā anattā, manoviññāṇaṁ anattā, manosamphasso anattā, vedanā anattā. ‘Taṇhā attā’ti yo vadeyya taṁ na upapajjati. Taṇhāya uppādopi vayopi paññāyati. Yassa kho pana uppādopi vayopi paññāyati, ‘attā me uppajjati ca veti cā’ti iccassa evamāgataṁ hoti. Tasmā taṁ na upapajjati: ‘taṇhā attā’ti yo vadeyya. Iti mano anattā, dhammā anattā, manoviññāṇaṁ anattā, manosamphasso anattā, vedanā anattā, taṇhā anattā.‘feeling is self’ … ‘craving is self,’ that is not tenable. The arising and vanishing of craving is evident, so it would follow that one’s self arises and vanishes. That’s why it’s not tenable to claim that craving is self. So the mind, ideas, mind consciousness, mind contact, feeling, and craving are not self.
16Này các Tỷ-kheo, nhưng đây là con đường đưa đến sự tập khởi của thân kiến. Ai quán mắt là: “Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi”.Ayaṁ kho pana, bhikkhave, sakkāyasamudayagāminī paṭipadā— cakkhuṁ ‘etaṁ mama, esohamasmi, eso me attā’ti samanupassati;Now, mendicants, this is the practice that leads to the origin of substantial reality. You regard the eye like this: ‘This is mine, I am this, this is my self.’
21Ai quán các sắc … Ai quán nhãn thức … Ai quán nhãn xúc … Ai quán thọ … Ai quán ái … Ai quán tai … Ai quán mũi … Ai quán lưỡi … Ai quán thân … Ai quán ý … Ai quán các pháp … Ai quán ý thức … Ai quán ý xúc … Ai quán ái: “Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi”.rūpe ‘etaṁ mama, esohamasmi, eso me attā’ti samanupassati; cakkhuviññāṇaṁ ‘etaṁ mama, esohamasmi, eso me attā’ti samanupassati; cakkhusamphassaṁ ‘etaṁ mama, esohamasmi, eso me attā’ti samanupassati; vedanaṁ ‘etaṁ mama, esohamasmi, eso me attā’ti samanupassati; taṇhaṁ ‘etaṁ mama, esohamasmi, eso me attā’ti samanupassati; sotaṁ ‘etaṁ mama, esohamasmi, eso me attā’ti samanupassati …pe… ghānaṁ ‘etaṁ mama, esohamasmi, eso me attā’ti samanupassati …pe… jivhaṁ ‘etaṁ mama, esohamasmi, eso me attā’ti samanupassati …pe… kāyaṁ ‘etaṁ mama, esohamasmi, eso me attā’ti samanupassati …pe… manaṁ ‘etaṁ mama, esohamasmi, eso me attā’ti samanupassati, dhamme ‘etaṁ mama, esohamasmi, eso me attā’ti samanupassati, manoviññāṇaṁ ‘etaṁ mama, esohamasmi, eso me attā’ti samanupassati, manosamphassaṁ ‘etaṁ mama, esohamasmi, eso me attā’ti samanupassati, vedanaṁ ‘etaṁ mama, esohamasmi, eso me attā’ti samanupassati, taṇhaṁ ‘etaṁ mama, esohamasmi, eso me attā’ti samanupassati.You regard sights … eye consciousness … eye contact … feeling … craving like this: ‘This is mine, I am this, this is my self.’ You regard the ear … nose … tongue … body … mind … ideas … mind consciousness … mind contact … feeling … craving like this: ‘This is mine, I am this, this is my self.’
22Nhưng này các Tỷ-kheo, đây là con đường đưa đến sự đoạn diệt của thân kiến. Ai quán mắt: “” Cái này không phải là của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải là tự ngã của tôi”.Ayaṁ kho pana, bhikkhave, sakkāyanirodhagāminī paṭipadā— cakkhuṁ ‘netaṁ mama, nesohamasmi, na meso attā’ti samanupassati.But this is the practice that leads to the cessation of substantial reality. You regard the eye like this: ‘This is not mine, I am not this, this is not my self.’
27Ai quán sắc … Ai quán nhãn thức … Ai quán nhãn xúc … Ai quán thọ … Ai quán ái … Ai quán tai … Ai quán mũi … Ai quán lưỡi … Ai quán thân … Ai quán ý … Ai quán các pháp … Ai quán ý thức … Ai quán ý xúc … Ai quán thọ … Ai quán ái: “Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi”.Rūpe ‘netaṁ mama, nesohamasmi, na meso attā’ti samanupassati. Cakkhuviññāṇaṁ ‘netaṁ mama, nesohamasmi, na meso attā’ti samanupassati. Cakkhusamphassaṁ ‘netaṁ mama, nesohamasmi, na meso attā’ti samanupassati. Vedanaṁ ‘netaṁ mama, nesohamasmi, na meso attā’ti samanupassati. Taṇhaṁ ‘netaṁ mama, nesohamasmi, na meso attā’ti samanupassati. Sotaṁ ‘netaṁ mama, nesohamasmi, na meso attā’ti samanupassati …pe… ghānaṁ ‘netaṁ mama, nesohamasmi, na meso attā’ti samanupassati …pe… jivhaṁ ‘netaṁ mama, nesohamasmi, na meso attā’ti samanupassati …pe… kāyaṁ ‘netaṁ mama, nesohamasmi, na meso attā’ti samanupassati …pe… manaṁ ‘netaṁ mama, nesohamasmi, na meso attā’ti samanupassati. Dhamme ‘netaṁ mama, nesohamasmi, na meso attā’ti samanupassati. Manoviññāṇaṁ ‘netaṁ mama, nesohamasmi, na meso attā’ti samanupassati. Manosamphassaṁ ‘netaṁ mama, nesohamasmi, na meso attā’ti samanupassati. Vedanaṁ ‘netaṁ mama, nesohamasmi, na meso attā’ti samanupassati. Taṇhaṁ ‘netaṁ mama, nesohamasmi, na meso attā’ti samanupassati.You regard sights … eye consciousness … eye contact … feeling … craving like this: ‘This is not mine, I am not this, this is not my self.’ You regard the ear … nose … tongue … body … mind like this: ‘This is not mine, I am not this, this is not my self.’ You regard ideas … mind consciousness … mind contact … feeling … craving like this: ‘This is not mine, I am not this, this is not my self.’
28Này các Tỷ-kheo, do duyên mắt và do duyên các sắc, khởi lên nhãn thức. Sự gặp gỡ của ba pháp này là xúc. Do duyên xúc, khởi lên lạc thọ, khổ thọ hay bất khổ bất lạc thọ. Vị ấy do cảm xúc lạc thọ, mà hoan hỷ, tán thán, trú ở ái trước; tham tùy miên của vị ấy tùy tăng. Vị ấy do cảm xúc khổ thọ, mà sầu muộn, than van, than khóc, đập ngực, rơi vào bất tỉnh; sân tùy miên của vị ấy tùy tăng. Vị ấy do cảm xúc bất khổ bất lạc thọ, mà không như thật biết sự tập khởi, sự đoạn diệt, vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly khỏi cảm thọ ấy; vô minh tùy miên của vị ấy tùy tăng. Này các Tỷ-kheo, vị ấy chính do không đoạn tận tham tùy miên đối với lạc thọ, do không tẩy trừ sân tùy miên đối với khổ thọ, do không nhổ lên vô minh tùy miên đối với bất khổ bất lạc thọ, không đoạn tận vô minh, không làm cho minh khởi lên, có thể ngay trong hiện tại là người chấm dứt đau khổ, sự kiện như vậy không xảy ra.Cakkhuñca, bhikkhave, paṭicca rūpe ca uppajjati cakkhuviññāṇaṁ, tiṇṇaṁ saṅgati phasso, phassapaccayā uppajjati vedayitaṁ sukhaṁ vā dukkhaṁ vā adukkhamasukhaṁ vā. So sukhāya vedanāya phuṭṭho samāno abhinandati abhivadati ajjhosāya tiṭṭhati. Tassa rāgānusayo anuseti. Dukkhāya vedanāya phuṭṭho samāno socati kilamati paridevati urattāḷiṁ kandati sammohaṁ āpajjati. Tassa paṭighānusayo anuseti. Adukkhamasukhāya vedanāya phuṭṭho samāno tassā vedanāya samudayañca atthaṅgamañca assādañca ādīnavañca nissaraṇañca yathābhūtaṁ nappajānāti. Tassa avijjānusayo anuseti. So vata, bhikkhave, sukhāya vedanāya rāgānusayaṁ appahāya dukkhāya vedanāya paṭighānusayaṁ appaṭivinodetvā adukkhamasukhāya vedanāya avijjānusayaṁ asamūhanitvā avijjaṁ appahāya vijjaṁ anuppādetvā diṭṭheva dhamme dukkhassantakaro bhavissatīti—netaṁ ṭhānaṁ vijjati.Eye consciousness arises dependent on the eye and sights. The meeting of the three is contact. Contact is a requirement for the arising of what is felt as pleasant, painful, or neutral. When you experience a pleasant feeling, if you approve, welcome, and keep clinging to it, the underlying tendency to greed underlies that. When you experience a painful feeling, if you sorrow and wail and lament, beating your breast and falling into confusion, the underlying tendency to aversion underlies that. When you experience a neutral feeling, if you don’t truly understand that feeling’s origin, disappearance, gratification, drawback, and escape, the underlying tendency to ignorance underlies that. Mendicants, without giving up the underlying tendency to greed for pleasant feeling, without dispelling the underlying tendency to aversion toward painful feeling, without eradicating ignorance in the case of neutral feeling, without giving up ignorance and without giving rise to knowledge, it is quite impossible to make an end of suffering in this very life.
33Này các Tỷ-kheo, do duyên tai và do duyên các tiếng, khởi lên nhĩ thức … Này các Tỷ-kheo, do duyên mũi và do duyên các hương, khởi lên tỷ thức … Này các Tỷ-kheo, do duyên lưỡi và do duyên các vị, khởi lên thiệt thức … Này các Tỷ-kheo, do duyên thân và do duyên các xúc, khởi lên thân thức … Này các Tỷ-kheo, do duyên ý và do duyên các pháp, khởi lên ý thức. Sự gặp gỡ của ba pháp này là xúc. Do duyên xúc, khởi lên lạc thọ, khổ thọ, hay bất khổ bất lạc thọ. Vị ấy do cảm xúc lạc thọ, mà hoan hỷ, tán thán, trú ở ái trước; tham tùy miên của vị ấy tùy tăng. Vị ấy do cảm xúc khổ thọ mà sầu muốn, than van, than khóc, đập ngực, rơi vào bất tỉnh; sân tùy miên của vị ấy tùy tăng. Vị ấy do cảm xúc bất khổ bất lạc thọ, mà không như thật biết sự tập khởi, sự đoạn diệt, vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly khỏi cảm thọ ấy; vô minh tùy miên của vị ấy tùy tăng. Này các Tỷ-kheo, vị ấy chính do không đoạn tận tham tùy miên đối với lạc thọ, do không tẩy trừ sân tùy miên đối với khổ thọ, do không nhổ lên vô minh tùy miên đối với bất khổ bất lạc thọ, không đoạn tận vô minh, không làm cho minh khởi lên, có thể ngay trong hiện tại là người chấm dứt đau khổ, sự kiện như vậy không xảy ra.Sotañca, bhikkhave, paṭicca sadde ca uppajjati sotaviññāṇaṁ …pe… ghānañca, bhikkhave, paṭicca gandhe ca uppajjati ghānaviññāṇaṁ …pe… jivhañca, bhikkhave, paṭicca rase ca uppajjati jivhāviññāṇaṁ …pe… kāyañca, bhikkhave, paṭicca phoṭṭhabbe ca uppajjati kāyaviññāṇaṁ …pe… manañca, bhikkhave, paṭicca dhamme ca uppajjati manoviññāṇaṁ, tiṇṇaṁ saṅgati phasso, phassapaccayā uppajjati vedayitaṁ sukhaṁ vā dukkhaṁ vā adukkhamasukhaṁ vā. So sukhāya vedanāya phuṭṭho samāno abhinandati abhivadati ajjhosāya tiṭṭhati. Tassa rāgānusayo anuseti. Dukkhāya vedanāya phuṭṭho samāno socati kilamati paridevati urattāḷiṁ kandati sammohaṁ āpajjati. Tassa paṭighānusayo anuseti. Adukkhamasukhāya vedanāya phuṭṭho samāno tassā vedanāya samudayañca atthaṅgamañca assādañca ādīnavañca nissaraṇañca yathābhūtaṁ nappajānāti. Tassa avijjānusayo anuseti. So vata, bhikkhave, sukhāya vedanāya rāgānusayaṁ appahāya dukkhāya vedanāya paṭighānusayaṁ appaṭivinodetvā adukkhamasukhāya vedanāya avijjānusayaṁ asamūhanitvā avijjaṁ appahāya vijjaṁ anuppādetvā diṭṭheva dhamme dukkhassantakaro bhavissatīti—netaṁ ṭhānaṁ vijjati.Ear consciousness … Nose consciousness … Tongue consciousness … Body consciousness … Mind consciousness arises dependent on the mind and ideas. The meeting of the three is contact. Contact is a requirement for the arising of what is felt as pleasant, painful, or neutral. When you experience a pleasant feeling, if you approve, welcome, and keep clinging to it, the underlying tendency to greed underlies that. When you experience a painful feeling, if you sorrow and wail and lament, beating your breast and falling into confusion, the underlying tendency to aversion underlies that. When you experience a neutral feeling, if you don’t truly understand that feeling’s origin, disappearance, gratification, drawback, and escape, the underlying tendency to ignorance underlies that. Mendicants, without giving up the underlying tendency to greed for pleasant feeling, without dispelling the underlying tendency to aversion toward painful feeling, without eradicating ignorance in the case of neutral feeling, without giving up ignorance and without giving rise to knowledge, it is quite impossible to make an end of suffering in this very life.
34Này các Tỷ-kheo, do duyên mắt và do duyên các sắc, khởi lên nhãn thức. Sự gặp gỡ của ba pháp này là xúc. Do duyên xúc, khởi lên lạc thọ, khổ thọ hay bất khổ bất lạc thọ. Vị ấy cảm xúc lạc thọ, mà không hoan hỷ, tán thán, trú ở ái trước; tham tùy miên của vị ấy không tùy tăng. Vị ấy cảm xúc khổ thọ, mà không sầu muộn, than van, than khóc, đập ngực, rơi vào bất tỉnh; sân tùy miên của vị ấy không tùy tăng. Vị ấy cảm xúc bất khổ bất lạc thọ, mà như thật biết sự tập khởi, sự đoạn diệt, vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly khỏi cảm thọ ấy; vô minh tùy miên của vị ấy không tùy tăng. Này các Tỷ-kheo, vị ấy chính do đoạn tận tham tùy miên đối với lạc thọ, do tẩy trừ sân tùy miên đối với khổ thọ, do nhổ lên vô minh tùy miên đối với bất khổ bất lạc thọ, đoạn tận vô minh, làm cho minh khởi lên, có thể ngay trong hiện tại là người chấm dứt đau khổ, sự kiện như vậy xảy ra.Cakkhuñca, bhikkhave, paṭicca rūpe ca uppajjati cakkhuviññāṇaṁ, tiṇṇaṁ saṅgati phasso, phassapaccayā uppajjati vedayitaṁ sukhaṁ vā dukkhaṁ vā adukkhamasukhaṁ vā. So sukhāya vedanāya phuṭṭho samāno nābhinandati nābhivadati nājjhosāya tiṭṭhati. Tassa rāgānusayo nānuseti. Dukkhāya vedanāya phuṭṭho samāno na socati na kilamati na paridevati na urattāḷiṁ kandati na sammohaṁ āpajjati. Tassa paṭighānusayo nānuseti. Adukkhamasukhāya vedanāya phuṭṭho samāno tassā vedanāya samudayañca atthaṅgamañca assādañca ādīnavañca nissaraṇañca yathābhūtaṁ pajānāti. Tassa avijjānusayo nānuseti. So vata, bhikkhave, sukhāya vedanāya rāgānusayaṁ pahāya dukkhāya vedanāya paṭighānusayaṁ paṭivinodetvā adukkhamasukhāya vedanāya avijjānusayaṁ samūhanitvā avijjaṁ pahāya vijjaṁ uppādetvā diṭṭheva dhamme dukkhassantakaro bhavissatīti—ṭhānametaṁ vijjati.Eye consciousness arises dependent on the eye and sights. The meeting of the three is contact. Contact is a requirement for the arising of what is felt as pleasant, painful, or neutral. When you experience a pleasant feeling, if you don’t approve, welcome, and keep clinging to it, the underlying tendency to greed does not underlie that. When you experience a painful feeling, if you don’t sorrow or wail or lament, beating your breast and falling into confusion, the underlying tendency to aversion does not underlie that. When you experience a neutral feeling, if you truly understand that feeling’s origin, disappearance, gratification, drawback, and escape, the underlying tendency to ignorance does not underlie that. Mendicants, after giving up the underlying tendency to greed for pleasant feeling, after dispelling the underlying tendency to aversion toward painful feeling, after eradicating ignorance in the case of neutral feeling, after giving up ignorance and giving rise to knowledge, it’s quite possible to make an end of suffering in this very life.
35Này các Tỷ-kheo, do duyên tai và do duyên các tiếng, khởi lên nhĩ thức …Sotañca, bhikkhave, paṭicca sadde ca uppajjati sotaviññāṇaṁ …pe….Ear consciousness …
36Này các Tỷ-kheo, do duyên mũi và do duyên các hương, khởi lên tỷ thức …Ghānañca, bhikkhave, paṭicca gandhe ca uppajjati ghānaviññāṇaṁ …pe….Nose consciousness …
37Này các Tỷ-kheo, do duyên lưỡi và do duyên các vị, khởi lên thiệt thức …Jivhañca, bhikkhave, paṭicca rase ca uppajjati jivhāviññāṇaṁ …pe….Tongue consciousness …
38Này các Tỷ-kheo, do duyên thân và do duyên các xúc, khởi lên thân thức …Kāyañca, bhikkhave, paṭicca phoṭṭhabbe ca uppajjati kāyaviññāṇaṁ …pe….Body consciousness …
39Này các Tỷ-kheo, do duyên ý và do duyên các pháp, khởi lên ý thức. Sự gặp gỡ của ba pháp này là xúc. Do duyên cảm xúc, khởi lên lạc thọ, khổ thọ hay bất khổ bất lạc thọ. Vị ấy cảm xúc lạc thọ mà không hoan hỷ, tán thán, trú ở ái trước; tham tùy miên của vị ấy không tùy tăng. Vị ấy cảm xúc khổ thọ mà không sầu muộn, than van, than khóc, đập ngực, rơi vào bất tỉnh; sân tùy miên của vị ấy không tùy tăng. Vị ấy cảm xúc bất khổ bất lạc thọ mà như thật biết sự tập khởi, sự đoạn diệt, vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly khỏi cảm thọ ấy; vô minh tùy miên của vị ấy không tùy tăng. Này các Tỷ-kheo, vị ấy chính do đoạn tận tham tùy miên đối với lạc thọ, do tẩy trừ sân tùy miên đối với khổ thọ, do nhổ lên vô minh tùy miên đối với bất khổ bất lạc thọ, đoạn tận vô minh, làm cho minh khởi lên, có thể ngay trong hiện tại là người chấm dứt đau khổ, sự kiện như vậy xảy ra.“Manañca, bhikkhave, paṭicca dhamme ca uppajjati manoviññāṇaṁ tiṇṇaṁ saṅgati phasso, phassapaccayā uppajjati vedayitaṁ sukhaṁ vā dukkhaṁ vā adukkhamasukhaṁ vā. So sukhāya vedanāya phuṭṭho samāno nābhinandati nābhivadati nājjhosāya tiṭṭhati. Tassa rāgānusayo nānuseti. Dukkhāya vedanāya phuṭṭho samāno na socati na kilamati na paridevati na urattāḷiṁ kandati na sammohaṁ āpajjati. Tassa paṭighānusayo nānuseti. Adukkhamasukhāya vedanāya phuṭṭho samāno tassā vedanāya samudayañca atthaṅgamañca assādañca ādīnavañca nissaraṇañca yathābhūtaṁ pajānāti. Tassa avijjānusayo nānuseti. So vata, bhikkhave, sukhāya vedanāya rāgānusayaṁ pahāya dukkhāya vedanāya paṭighānusayaṁ paṭivinodetvā adukkhamasukhāya vedanāya avijjānusayaṁ samūhanitvā avijjaṁ pahāya vijjaṁ uppādetvā diṭṭheva dhamme dukkhassantakaro bhavissatīti—ṭhānametaṁ vijjati.Mind consciousness arises dependent on the mind and ideas. The meeting of the three is contact. Contact is a requirement for what is felt as pleasant, painful, or neutral. When you experience a pleasant feeling, if you don’t approve, welcome, and keep clinging to it, the underlying tendency to greed does not underlie that. When you experience a painful feeling, if you don’t sorrow or wail or lament, beating your breast and falling into confusion, the underlying tendency to aversion does not underlie that. When you experience a neutral feeling, if you truly understand that feeling’s origin, disappearance, gratification, drawback, and escape, the underlying tendency to ignorance does not underlie that. Mendicants, after giving up the underlying tendency to greed for pleasant feeling, after dispelling the underlying tendency to aversion toward painful feeling, after eradicating ignorance in the case of neutral feeling, after giving up ignorance and giving rise to knowledge, it’s quite possible to make an end of suffering in this very life.
40Này các Tỷ-kheo, do thấy vậy, vị Đa văn Thánh đệ tử yếm ly mắt, yếm ly các sắc, yếm ly nhãn thức; yếm ly nhãn xúc, yếm ly thọ, yếm ly ái.Evaṁ passaṁ, bhikkhave, sutavā ariyasāvako cakkhusmiṁ nibbindati, rūpesu nibbindati, cakkhuviññāṇe nibbindati, cakkhusamphasse nibbindati, vedanāya nibbindati, taṇhāya nibbindati.Seeing this, a learned noble disciple grows disillusioned with the eye, sights, eye consciousness, eye contact, feeling, and craving.
41Vị ấy yếm ly tai, yếm ly các tiếng…; yếm ly mũi, yếm ly các hương…; yếm ly lưỡi, yếm ly các vị…; yếm ly thân, yếm ly các xúc…; yếm ly ý, yếm ly các pháp; yếm ly ý thức, yếm ly ý xúc, yếm ly thọ, yếm ly ái.
Do yếm ly, vị ấy ly tham. Do ly tham, vị ấy giải thoát. Trong sự giải thoát là sự hiểu biết: “Ta đã được giải thoát”. Và vị ấy tuệ tri: “Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, các việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa”.
Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Các Tỷ-kheo ấy hoan hỷ tín thọ lời Thế Tôn dạy. Trong khi sự thuyết giảng này được nói lên, tâm của sáu mươi Tỷ-kheo ấy được giải thoát khỏi các lậu hoặc, không có chấp thủ.Sotasmiṁ nibbindati, saddesu nibbindati …pe… ghānasmiṁ nibbindati, gandhesu nibbindati … jivhāya nibbindati, rasesu nibbindati … kāyasmiṁ nibbindati, phoṭṭhabbesu nibbindati … manasmiṁ nibbindati, dhammesu nibbindati, manoviññāṇe nibbindati, manosamphasse nibbindati, vedanāya nibbindati, taṇhāya nibbindati. Nibbindaṁ virajjati, virāgā vimuccati. Vimuttasmiṁ vimuttamiti ñāṇaṁ hoti. ‘Khīṇā jāti, vusitaṁ brahmacariyaṁ, kataṁ karaṇīyaṁ, nāparaṁ itthattāyā’ti pajānātī”ti. Idamavoca bhagavā. Attamanā te bhikkhū bhagavato bhāsitaṁ abhinandunti. Imasmiṁ kho pana veyyākaraṇasmiṁ bhaññamāne saṭṭhimattānaṁ bhikkhūnaṁ anupādāya āsavehi cittāni vimucciṁsūti. Chachakkasuttaṁ niṭṭhitaṁ chaṭṭhaṁ.They grow disillusioned with the ear … nose … tongue … body … mind, ideas, mind consciousness, mind contact, feeling, and craving. Being disillusioned, desire fades away. When desire fades away they’re freed. When it is freed, they know it is freed. They understand: ‘Rebirth is ended, the spiritual journey has been completed, what had to be done has been done, there is nothing further for this place.’” That is what the Buddha said. Satisfied, the mendicants approved what the Buddha said. And while this discourse was being spoken, the minds of sixty mendicants were freed from defilements by not grasping.
Viết bởi Tuệ Minh
Nguồn trích dẫn
- Trung Bộ 148 (Chachakka Sutta). Bản Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka, MN 148 trên SuttaCentral.
- Bản tiếng Anh: Bhikkhu Sujato dịch, SuttaCentral, phát hành theo giấy phép CC0.
- Bản tiếng Việt: HT. Thích Minh Châu dịch (bản trên SuttaCentral). Bản dịch tiếng Việt của HT. Thích Minh Châu, trích đăng để phụng sự Pháp thí; nếu chủ sở hữu bản quyền có yêu cầu, xin liên hệ 0902 332 970 để điều chỉnh.