Chú giải Pháp Cú · Kệ 63 · Dhp 63

Tích Người Điếm Móc Túi

Gaṇṭhibhedakacoravatthu

Tích truyện kể duyên do Đức Phật nói kệ 63 Kinh Pháp Cú, phẩm Ngu, theo Chú giải Kinh Pháp Cú (Dhammapada-aṭṭhakathā). Bản Việt: Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli.

Bản Việt · Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli

KỆ NGÔN: (Pháp Cú số 63)

“Yo bālo maññati bālyaṃ,
Paṇḍito vā'pi tena so;
Bālo ca paṇḍitamānī,
Sa ve bālo’ti vuccati.”

“Ngu mà tự biết ngu,
Người vậy ắt thành trí,
Ngu mà tưởng mình trí,
Thật đáng gọi là ngu.”

Kệ Pháp Cú nầy Đức Bổn Sư đã thuyết ra khi Ngài an ngự tại Jetavana, đề cập đến một tên móc túi.

Tương truyền rằng: Thời ấy có hai người bạn, cùng đi với đại chúng đến chùa Jetavana để nghe thuyết pháp. Một người chăm chỉ theo dõi thời pháp, một người để ý xem cái gì trộm được thì lấy ngay.

Người nghe pháp chứng đắc quả Dự lưu. Người kia thì rút được một món tiền của người vô ý.

Tên móc túi ở nhà, ngày nào cũng ăn uống sung sướng thỏa thê, còn bạn của anh ta thì cửa nhà có hơi bẩn chật. Thấy vậy, kẻ trộm đạo hỏi rằng:

- Hai vợ chồng anh là người thông minh, trí tuệ, sao không làm cho ra tiền để ăn tiêu, để chi mà thiếu trước hụt sau vậy.

Vị Thánh Thinh Văn nghĩ thầm: “Anh nầy quả thật là người ngu si mà lại tự cho mình là bậc hiền trí.”. Rồi vị ấy rủ các quyến thuộc cùng đi đến chùa Jetavana, thuật lại việc nầy với Đức Bổn Sư.

Đức Bổn Sư thuyết pháp cho họ nghe, rồi Ngài ngâm lên kệ:

“Yo bālo maññati bālyaṃ,
Paṇḍito vā'pi tena so;
Bālo ca paṇḍitamānī,
Sa ve bālo’ti vuccati.”
“Ngu mà tự nghĩ mình khôn,
Thật là ngu đặc, không còn biết chi.
Ngu mà tự biết mình si,
Cũng là người trí, không suy nghĩ lầm.”

CHÚ GIẢI:

Câu Yo bālo maññati bālyaṃ nghĩa là: Người nào ngu dốt kém trí tuệ, tự mình có ý nghĩ rằng: “Ta là kẻ ngu dốt” người đó tuy ngu nhưng biết nhận thức đúng trạng thái ngu dốt của mình: Nghĩa là do lẽ đó mà người ấy (tena kāraṇena so puggalo) Paṇḍito vā'pi: Cũng bằng như bậc hiền trí vậy. Quả nhiên, nhờ biết rằng: “Ta là kẻ ngu” người ấy lân la thân cận với bậc đáng thân cận, là bậc hiền trí để tìm cách mở mang trí tuệ. Nhờ cố gắng học hỏi, ghi nhớ những lời giáo huấn, hàng ngày ôn tập các điều đã học, về sau sẽ thành bậc hiền trí hoặc là cao hơn thầy mình.

Sa ve bālo’ti: Người nào ngu mà có ý nghĩ rằng: “Ta là người quảng kiến đa văn, thuyết pháp lưu loát, rành rẽ Tạng Luật, nguyện giữ hạnh Đầu đà, không có ai sánh bằng”. Vì tự cho mình là bậc hiền trí nên không tìm lân la thân cận với bậc hiền trí nào khác, không chịu học thêm Tam Tạng, không chịu tiến hành các pháp thiền Chỉ Quán, thiên chấp một cách ngu xuẩn. Đức Thế Tôn cho rằng: “Thật đáng gọi là người ngu.”.

Đức Bổn Sư vừa thuyết dứt bài pháp, những quyến thuộc của vị Thánh Thinh Văn chứng đắc Tu Đà Hườn quả một lượt với hàng đại chúng.

Hằng ngày móc túi để sanh nhai,
Nhà cửa trang hoàng chẳng kém ai,
Liếc mắt nhìn sang anh bạn khó,
Chê anh hữu trí, lại vô tài.
Bậc trí thà cam chịu cảnh nghèo,
Ai giàu phi nghĩa chẳng đua theo,
Cùng nhau dắt dẫn trên đường chánh,
Dốc núi dầu cao cũng cứ trèo.

DỨT TÍCH NGƯỜI ĐIẾM MÓC TÚI

Gaṇṭhibhedakacoravatthu

Bản Pāli · Chaṭṭhasaṅgāyana Tipiṭaka

Yo bāloti imaṃ dhammadesanaṃ satthā jetavane viharanto gaṇṭhibhedakacore ārabbha kathesi.

Te kira dve sahāyakā dhammassavanatthāya gacchantena mahājanena saddhiṃ jetavanaṃ gantvā eko dhammakathaṃ assosi, eko attano gayhūpagaṃ olokesi. Tesu eko dhammaṃ suṇamāno sotāpattiphalaṃ pāpuṇi, itaro ekassa dussante baddhaṃ pañcamāsakamattaṃ labhi. Tassa taṃ gehe pākabhattaṃ jātaṃ, itarassa gehe na paccati. Atha naṃ sahāyakacoro attano bhariyāya saddhiṃ uppaṇḍayamāno “tvaṃ atipaṇḍitatāya attano gehe pākabhattamūlampi na nipphādesī”ti āha. Itaro pana “bālabhāveneva vatāyaṃ attano paṇḍitabhāvaṃ maññatī”ti taṃ pavattiṃ satthu ārocetuṃ ñātīhi saddhiṃ jetavanaṃ gantvā ārocesi. Satthā tassa dhammaṃ desento imaṃ gāthamāha –

“Yo bālo maññati bālyaṃ, paṇḍito vāpi tena so;
Bālo ca paṇḍitamānī, sa ve ‘bālo’ti vuccatī”ti.

Tattha yo bāloti yo andhabālo apaṇḍito samāno “bālo aha”nti attano bālyaṃ bālabhāvaṃ maññati jānāti. Tena soti tena kāraṇena so puggalo paṇḍito vāpi hoti paṇḍitasadiso vā. So hi “bālo aha”nti jānamāno aññaṃ paṇḍitaṃ upasaṅkamanto payirupāsanto tena paṇḍitabhāvatthāya ovadiyamāno anusāsiyamāno taṃ ovādaṃ gaṇhitvā paṇḍito vā hoti paṇḍitataro vā. Sa ve bāloti yo ca bālo samāno “ko añño mayā sadiso bahussuto vā dhammakathiko vā vinayadharo vā dhutaṅgadharo vā atthī”ti evaṃ paṇḍitamānī hoti. So aññaṃ paṇḍitaṃ anupasaṅkamanto apayirupāsanto neva pariyattiṃ uggaṇhāti, na paṭipattiṃ pūreti, ekantabālabhāvameva pāpuṇāti. So gaṇṭhibhedakacoro viya. Tena vuttaṃ “sa ve ‘bālo’ti vuccatī”ti.

Desanāpariyosāne itarassa ñātakehi saddhiṃ mahājano sotāpattiphalādīni pāpuṇīti.

Gaṇṭhibhedakacoravatthu catutthaṃ.

V. 4. The Pickpocket

Bản Anh · E. W. Burlingame, Buddhist Legends (1921)

63. The fool who thinks he is a fool...

This religious instruction was given by the Teacher while he was in residence at Jetavana with reference to two thieves who broke their bonds.

The story goes that these two men, who were boon companions, accompanied a great throng to Jetavana to hear the Law. One of them listened to the Law; the other watched for a chance to steal something. The first, through listening to the Law, obtained the Fruit of Conversion; the second found a matter of five farthings tied to the skirt of a certain man and stole the money. The confirmed thief had food cooked as usual in his house, but there was no cooking done in the house of the convert. His comrade the thief, and likewise the thief’s wife, ridiculed him, saying, “You are so excessively wise that you cannot obtain money enough to have regular meals cooked in your own house.” The convert thought to himself, “This man, just because he is a fool, does not think that he is wise.” And going to Jetavana with his kinsfolk, he told the Teacher of the incident. The Teacher, instructing him in the Law, pronounced the following Stanza,

63. The fool who thinks he is a fool is for that very reason a wise man;
But the fool who thinks he is a wise man is rightly called a fool.

  1. Text: N ii. 29-30.

Biên tập trang: Tuệ Minh

Nguồn trích dẫn

  1. Bản Việt: Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli, Chú giải Kinh Pháp Cú (Dhammapada-aṭṭhakathā), quyển 2, NXB Tôn Giáo, 2011; bản số hoá trên theravada.vn. Chép nguyên văn bản dịch, chỉ trình bày lại cho dễ đọc.
  2. Bản Pāli: Dhammapada-aṭṭhakathā, Chaṭṭhasaṅgāyana Tipiṭaka, Viện Nghiên cứu Vipassana (VRI), tipitaka.org.
  3. Bản Anh: Eugene Watson Burlingame dịch, Buddhist Legends, Harvard Oriental Series 28–30, 1921 (thuộc phạm vi công cộng); bản số hoá do Ānandajoti Bhikkhu hiệu đính, ancient-buddhist-texts.net.
  4. Bản dịch tiếng Việt thuộc quyền của dịch giả và nơi ấn hành, được đăng để học Pháp, không thu phí. Nếu chủ sở hữu bản quyền yêu cầu, xin liên hệ Hoan Hỉ (0902 332 970) để chúng tôi điều chỉnh ngay.