Chú giải Pháp Cú · Kệ 66 · Dhp 66

Tích Ông Thiện Giác Cùi

Suppabuddhakuṭṭhivatthu

Tích truyện kể duyên do Đức Phật nói kệ 66 Kinh Pháp Cú, phẩm Ngu, theo Chú giải Kinh Pháp Cú (Dhammapada-aṭṭhakathā). Bản Việt: Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli.

Bản Việt · Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli

KỆ NGÔN: (Pháp Cú số 66)

“Caranti bālā dummedhā,
Amitten’eva attanā;
Karontā pāpakaṃ kammaṃ,
Yaṃ hoti kaṭukapphalaṃ.”

“Kẻ vô trí, kẻ ngu,
Với kẻ nghịch cùng đi,
Là ác nghiệp đã tạo,
Để chịu quả đắng cay.”

Kệ Pháp Cú nầy, Đức Bổn Sư đã thuyết ra khi Ngài an ngự tại Veḷuvana, đề cập đến ông Thiện Giác cùi (Suppabuddhakuṭṭhi).

Đây chỉ là một đoạn trích trong sự tích của ông Suppabuddha (Kinh Udāna), kể từ khi ông gặp Đức Bổn Sư về sau mà thôi.

Quả nhiên, khi ông Suppabuddha cùi, ngồi ngoài vòng của cử tọa, nghe pháp do Đức Thế Tôn thuyết xong, chứng đắc quả Tu Đà Hườn, ông muốn bạch rõ sự chứng đắc của mình với Đức Bổn Sư, nhưng ông không dám rẽ lối giữa hàng tứ chúng mà đi vào chùa, cho nên ông chờ đại chúng đảnh lễ Đức Bổn Sư ra về hết rồi, ông sẽ đi.

Trong giây phút ông còn trì hoãn, Thiên Vương Đế Thích biết rằng: “Suppabuddha nầy có ý định bạch lên Đức Bổn Sư sự chứng quả Nhập Lưu của mình.”.

Thiên Vương định thử thách ông Suppabuddha bèn hiện ra đứng trên hư không, cho ông ta thấy và bảo rằng: “Nầy ông Suppabuddha! Người là kẻ bần cùng, là kẻ khốn khó, ta sẽ ban cho người một kho tàng vô biên vô lượng nếu ngươi chịu nói Phật không phải là Phật, Pháp không phải là Pháp, Tăng không phải là Tăng. Ta hết quy y Phật, ta hết quy y Pháp, ta hết quy y Tăng.”.

Nghe vậy, ông Suppabuddha hỏi: “Ông là ai?”.
- Ta là Đế Thích. – Vua Trời đáp.

Hỡi ông mù quáng ngu si, không biết xấu hổ, những lời của ông thốt ra với tôi đó, nghe không hợp lý chút nào. Ông cho rằng tôi là kẻ khốn khó, kẻ bần cùng, kẻ hành khất, nhưng tôi không hề chịu cảnh khốn khó, bần cùng đâu. Tôi đã đạt đến cảnh an vui, tôi là bậc có đại tài sản.

“Saddhādhanaṃ sīladhanaṃ,
Hirī ottappiyaṃ dhanaṃ;
Sutadhanañca cāgo ca,
Paññā ve sattamaṃ dhanaṃ.
Yassa ete dhanā atthi,
Itthiyā purisassa vā;
Adaliddoti taṃ āhu,
Amoghaṃ tassa jīvitaṃ.”
“Tín, giới, tàm, quý, văn, thí, tuệ,
Bảy thứ tài sản kể trên đây,
Ai mà có được đủ đầy,
Dầu nam hay nữ, người nầy chẳng nên.
Lấy tiếng “vô sản” gọi tên,
Đời nầy chẳng phải hư hèn rỗng không.”

Bảy Thánh sản nầy tôi đều có đủ. Những ai có đủ bảy thứ Thánh sản nầy, thì chư Phật Toàn Giác hoặc chư Phật Độc Giác và Thinh Văn Giác không bao giờ gọi họ là kẻ bần cùng vô sản cả.

Nghe dứt lời đối đáp của ông Thiện Giác cùi, Đức Đế Thích bèn từ giã ông ở khoảng giữa đường, đến chỗ ngự của Đức Bổn Sư và thuật lại tất cả những lời biện giải của ông ấy. Đức Bổn Sư bèn phán rằng:

- Nầy Đế Thích, dầu cho một trăm hay một ngàn người như ông, cũng không thể nào bảo Suppabuddha phủ nhận Phật, Pháp, Tăng cho được.

Ông Suppabuddha cũng tự mình đến đảnh lễ Đức Bổn Sư. Sau khi trả lời những câu hỏi thân thiện xả giao của Ngài, ông bèn đem việc mình được đắc quả Tu Đà Hườn bạch lên, rồi từ chỗ ngồi đứng dậy ra đi.

Ông đi không bao lâu thì bị con bò cái tơ húc chết dọc đường.

Nghe nói rằng: Con bò cái ấy là một nữ Dạ xoa, hóa hiện ra để báo oán. Nó đã từng hóa làm bò cái húc chết bốn người là Ngài Bāhiyadārucīriya, Ngài Pukkusāti, Ngài Tambadāṭhika (Đao phủ râu đỏ) và Ngài Suppabuddha.

Tương truyền rằng: Vào thời quá khứ, bốn vị ấy là bốn vị công tử, một hôm có dắt theo một nàng kỹ nữ đi dạo chơi trong hoa viên, họ vui thú cùng nhau trọn ngày, khi chiều xuống, bốn công tử bàn tính cùng nhau rằng: “Chỗ nầy vắng vẻ, không có ai lai vãng, nàng nầy đã đập đổ chúng ta với thù lao là một ngàn đồng vàng. Ta hãy giết chết cô ta, để khỏi trả một ngàn đồng vàng và thâu đoạt hết những trang sức mà cô ta mang trên mình đi.”.

Cô gái giang hồ nghe được việc mưu sát của bốn công tử ấy, nghĩ rằng: “Những kẻ vô sỉ nầy đã cùng ta hoan lạc, bây giờ lại muốn giết chết ta. Ta sẽ biết cách đối phó với họ.”.

Khi bị họ sắp hạ sát, cô nguyện rằng: “Bốn tên nầy giết ta như thế nào, chết rồi ta nguyện làm Dạ xoa để có thể giết họ trở lại mà báo thù nầy.”. Do nhân ấy mà nữ Dạ xoa ấy đã hóa làm bò cái húc chết cả bốn người, trong đó có Suppabuddha.

Nhiều Tỳ khưu đem việc Suppabuddha vừa từ trần bạch lên Đức Bổn Sư và hỏi: “Ông ấy nay sanh về đâu? Do nhân gì mà Suppabuddha bị bịnh cùi?”.

Đức Bổn Sư giải rằng: “Ông đã đắc quả Dự lưu và sanh về cõi Đao Lợi. Có một kiếp ông gặp Đức Phật Độc Giác Tagarasikhi, ông đã phun nước bọt lên mình Đức Phật, nên khi mệnh chung phải thọ khổ rất lâu ở cõi địa ngục và quả của nghiệp còn dư sót nên kiếp nầy mang bịnh cùi phun lở lói.”.

Đức Bổn Sư kết luận rằng: “Nầy các Tỳ khưu, những chúng sanh ấy đi lang thang trên con đường hành ác, tự mình tạo nghiệp và tự mình hứng chịu hậu quả đắng cay như thế.”.

Đoạn Đức Bổn Sư thuyết thêm một thời pháp cao thượng, rồi đọc lên kệ ngôn rằng:

“Caranti bālā dummedhā,
Amitten’eva attanā;
Karontā pāpakaṃ kammaṃ,
Yaṃ hoti kaṭukapphalaṃ.”
“Người ngu, vô trí chung đàng,
Với kẻ thù địch mưu toan hại mình,
Là nghiệp ác lúc bình sinh,
Hậu quả cay đắng tự mình mà ra.”

CHÚ GIẢI:

Tiếng Caranti nghĩa là đi, là một trong bốn oai nghi, theo nghĩa thông thường. Ở đây nghĩa là tạo nghiệp bất thiện.

Bālā: Những kẻ ngu là những kẻ không biết được sự lợi ích lớn trong kiếp nầy và kiếp sau.

Dummedhā: Những kẻ thiểu trí và vô trí tuệ.
Amitten’eva: Như là những kẻ thù nghịch.

Kaṭukapphalaṃ: Là quả cay đắng, khổ sở cùng cực.

Đến cuối thời Pháp, nhiều vị Tỳ khưu chứng đắc Thánh quả, nhất là quả Dự lưu.

Khoa học ngày nay nói bịnh phong,
Sanh ra vì bị nhiễm vi trùng,
Tích xưa có chuyện chàng Thiện Giác,
Khạc nhổ lên thân Đức Đại Hùng.
Do mình tạo nghiệp quả mình mang,
Nghiệp ác không rời kẻ ác gian,
Chỉ đợi thời cơ là trổ quả,
Mới hay thù địch vẫn chung đàng.

DỨT TÍCH ÔNG THIỆN GIÁC CÙI

Suppabuddhakuṭṭhivatthu

Bản Pāli · Chaṭṭhasaṅgāyana Tipiṭaka

Caranti bālā dummedhāti imaṃ dhammadesanaṃ satthā veḷuvane viharanto suppabuddhakuṭṭhiṃ ārabbha kathesi. Suppabuddhakuṭṭhivatthu udāne (udā. 43) āgatameva.

Tadā hi suppabuddhakuṭṭhi parisapariyante nisinno bhagavato dhammadesanaṃ sutvā sotāpattiphalaṃ patvā attanā paṭiladdhaguṇaṃ satthu ārocetukāmo parisamajjhe ogāhituṃ avisahanto mahājanassa satthāraṃ vanditvā anugantvā nivattanakāle vihāraṃ agamāsi. Tasmiṃ khaṇe sakko devarājā “ayaṃ suppabuddhakuṭṭhi attano satthu sāsane paṭiladdhaguṇaṃ pākaṭaṃ kātukāmo”ti ñatvā “vīmaṃsissāmi na”nti gantvā ākāse ṭhitova etadavoca – “suppabuddha, tvaṃ manussadaliddo manussavarāko, ahaṃ te apariyantaṃ dhanaṃ dassāmi, ‘buddho na buddho, dhammo na dhammo, saṅgho na saṅgho, alaṃ me buddhena, alaṃ me dhammena, alaṃ me saṅghenā’ti vadehī”ti. Atha naṃ so āha – “kosi tva”nti? “Ahaṃ sakko”ti. Andhabāla, ahirika tvaṃ mayā saddhiṃ kathetuṃ na yuttarūpo, tvaṃ maṃ “duggato daliddo kapaṇo”ti vadesi, nevāhaṃ duggato, na daliddo, sukhappatto ahamasmi mahaddhano –

“Saddhādhanaṃ sīladhanaṃ, hirī ottappiyaṃ dhanaṃ;
Sutadhanañca cāgo ca, paññā ve sattamaṃ dhanaṃ.

“Yassa ete dhanā atthi, itthiyā purisassa vā;
‘Adaliddo’ti taṃ āhu, amoghaṃ tassa jīvita”nti. (a. ni. 7.5-6) –

Imāni me sattavidhaariyadhanāni santi, yesañhi imāni satta dhanāni santi, na te buddhehi vā paccekabuddhehi vā “daliddā”ti vuccantīti. Sakko tassa kathaṃ sutvā taṃ antarāmagge ohāya satthu santikaṃ gantvā sabbaṃ taṃ vacanapaṭivacanaṃ ārocesi. Atha naṃ bhagavā āha – “na kho, sakka, sakkā tādisānaṃ satenapi sahassenapi suppabuddhakuṭṭhiṃ ‘buddho na buddho’ti vā, ‘dhammo na dhammo’ti vā, ‘saṅgho na saṅgho’ti vā kathāpetu”nti. Suppabuddhopi kho kuṭṭhi satthu santikaṃ gantvā satthārā katapaṭisanthāro sammodamāno attanā paṭiladdhaguṇaṃ ārocetvā vuṭṭhāyāsanā pakkāmi. Atha naṃ acirapakkantaṃ gāvī taruṇavacchā jīvitā voropesi.

Sā kira ekā yakkhinī pukkusātikulaputtaṃ, bāhiyaṃ dārucīriyaṃ, tambadāṭhikacoraghātakaṃ, suppabuddhakuṭṭhinti imesaṃ catunnaṃ janānaṃ anekasate attabhāve gāvī hutvā jīvitā voropesi. Te kira atīte cattāro seṭṭhiputtā hutvā ekaṃ nagarasobhiniṃ gaṇikaṃ uyyānaṃ netvā divasaṃ sampattiṃ anubhavitvā sāyanhasamaye evaṃ sammantayiṃsu – “imasmiṃ ṭhāne añño natthi, imissā amhehi dinnaṃ kahāpaṇasahassañca sabbañca pasādhanabhaṇḍaṃ gahetvā imaṃ māretvā gacchāmā”ti. Sā tesaṃ kathaṃ sutvā “ime nillajjā, mayā saddhiṃ abhiramitvā idāni maṃ māretukāmā, jānissāmi nesaṃ kattabbayuttaka”nti tehi māriyamānā “ahaṃ yakkhinī hutvā yathā maṃ ete mārenti, evameva te māretuṃ samatthā bhaveyya”nti patthanaṃ akāsi. Tassa nissandena ime māresi. Sambahulā bhikkhū tassa kālakiriyaṃ bhagavato ārocetvā “tassa kā gati, kena ca kāraṇena kuṭṭhibhāvaṃ patto”ti pucchiṃsu. Satthā sotāpattiphalaṃ patvā tassa tāvatiṃsabhavane uppannabhāvañca tagarasikhipaccekabuddhaṃ disvā niṭṭhubhitvā apasabyaṃ katvā dīgharattaṃ niraye paccitvā vipākāvasesena idāni kuṭṭhibhāvappattiñca byākaritvā, “bhikkhave, ime sattā attanāva attano kaṭukavipākakammaṃ karontā vicarantī”ti vatvā anusandhiṃ ghaṭetvā uttari dhammaṃ desento imaṃ gāthamāha –

“Caranti bālā dummedhā, amitteneva attanā;
Karontā pāpakaṃ kammaṃ, yaṃ hoti kaṭukapphala”nti.

Tattha carantīti catūhi iriyāpathehi akusalameva karontā vicaranti. Bālāti idhalokatthañca paralokatthañca ajānantā idha bālā nāma. Dummedhāti duppaññā. Amitteneva attanāti attanā amittabhūtena viya verinā hutvā. Kaṭukapphalanti tikhiṇaphalaṃ dukkhaphalanti.

Desanāvasāne bahū sotāpattiphalādīni pāpuṇiṃsūti.

Suppabuddhakuṭṭhivatthu sattamaṃ.

V. 7. A Leper is Tempted to Deny his Faith

Bản Anh · E. W. Burlingame, Buddhist Legends (1921)

66. Fools of little wit walk with their very selves for enemies,
Committing evil deeds the fruit whereof is bitter.

This religious instruction was given by the Teacher while he was in residence at Veḷuvana with reference to the leper Suppabuddha. The story of the leper Suppabuddha is found in the Udāna.

For at that time the leper Suppabuddha, seated in the outer circle of the congregation, heard the Exalted One preach the Law and attained the Fruit of Conversion. Desiring to inform the Teacher of the blessing he had received, but not daring to force his way into the midst of the congregation, he waited until the populace had paid obeisance to the Teacher, had accompanied him a little way, and had turned back; then he went to the monastery.

At that moment Sakka king of gods thought to himself, “Yonder leper Suppabuddha desires to make known the blessing he has received in the Religion of the Teacher. I will test him.” So he went to him, and poised in the air, spoke thus to him, “Suppabuddha, you are a poor man, a man afflicted with misery. I will give you limitless wealth if you will say, ‘The Buddha is not the Buddha, the Law is not the Law, the Order is not the Order. I have had enough of the Buddha, I have had enough of the Law, I have had enough of the Order.’ ” The leper said to him, “Who are you?” “I am Sakka.” “Fool, shameless one, you are not fit to talk to me. You say that I am poor and needy and afflicted. On the contrary I have attained happiness and great wealth:

The wealth of faith, the wealth of morality, the wealth of modesty, of fear of sin,
The wealth of sacred lore, of renunciation, of wisdom, the seven stores of wealth are mine.

Whoso possesses these stores of wealth, be it a woman or a man.
Such a one men call not poor; the life of such a one is not in vain.

“These are the seven stores of honorable wealth. They that possess these stores of wealth are not called poor by Buddhas or Private Buddhas.” When Sakka heard him speak thus, he left him by the way, went to the Teacher, and told him all the questions and answers. The Exalted One said to him, “Sakka, it is not possible, even with a hundred such pieces of money, even with a thousand, to prevail upon the leper Suppabuddha to say, ‘The Buddha is not the Buddha, the Law is not the Law, the Order is not the Order.’ ”

So Suppabuddha the leper went to the Teacher, and the Teacher received him in a friendly manner. And having informed the Teacher of the blessing he had received, he arose from his seat and went his way. When he had gone but a little way, he was killed by a young heifer. We are told that this heifer was an ogress who had been a cow in each of a hundred existences, and that as a cow she had killed four youths: Pukkusāti, a young man of station; Bāhiya Dārucīriya; Tambadāṭhika, the robber outlaw and Suppabuddha the leper.

7 a. Story of the Past: The four youths and the courtezan

The story goes that in a former state of existence these four youths were sons of wealthy merchants, and the ogress was a beautiful courtezan. One day they accompanied her to a pleasure garden, took their pleasure with her, and when the evening came, decided on the following course of action, “There is no one here except ourselves. We will take from this woman the thousand pieces of money we have given her, rob her of all the jewels she possesses, kill her, and go our way.” The courtezan heard what they said and thought to herself, “These shameless fellows have taken their pleasure with me and now wish to kill me. I will get even with them.” So as they were killing her, she made the following Earnest Wish, “May I become an ogress, and may I be able to kill them, even as they are now killing me.” As the fruit of this Earnest Wish, she killed them.

Several monks informed the Exalted One of the death of the leper and asked him, “What will be his future state? How did he come to be a leper?” The Teacher explained that since he had attained the Fruit of Conversion, he had been reborn in the World of the Thirty-three.

7 b. Story of the Past: The insolent youth

In a previous state of existence, seeing the Private Buddha Tagarasikhi, he showed want of forbearance by spitting on him. He was therefore tormented in Hell for a long period of time, and because the fruit of that evil deed was not yet exhausted, he was reborn as a leper.

“Monks,” said he, “all living beings in this world reap the bitter fruit of every single evil deed they commit.” And joining the connection and instructing them in the Law, he pronounced the following Stanza,

66. Fools of little wit walk with their very selves for enemies,
Committing evil deeds the fruit whereof is bitter.

  1. This story is derived from Udāna, v. 3: 48-50, as the text expressly says at ii. 3321. Text: N ii. 33-37.
  2. Commentary on Majjhima 140.
  3. Dhammapada Commentary, viii. 2.
  4. Dhammapada Commentary, viii. 1.

Biên tập trang: Tuệ Minh

Nguồn trích dẫn

  1. Bản Việt: Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli, Chú giải Kinh Pháp Cú (Dhammapada-aṭṭhakathā), quyển 2, NXB Tôn Giáo, 2011; bản số hoá trên theravada.vn. Chép nguyên văn bản dịch, chỉ trình bày lại cho dễ đọc.
  2. Bản Pāli: Dhammapada-aṭṭhakathā, Chaṭṭhasaṅgāyana Tipiṭaka, Viện Nghiên cứu Vipassana (VRI), tipitaka.org.
  3. Bản Anh: Eugene Watson Burlingame dịch, Buddhist Legends, Harvard Oriental Series 28–30, 1921 (thuộc phạm vi công cộng); bản số hoá do Ānandajoti Bhikkhu hiệu đính, ancient-buddhist-texts.net.
  4. Bản dịch tiếng Việt thuộc quyền của dịch giả và nơi ấn hành, được đăng để học Pháp, không thu phí. Nếu chủ sở hữu bản quyền yêu cầu, xin liên hệ Hoan Hỉ (0902 332 970) để chúng tôi điều chỉnh ngay.