Đời sống

Ghen tị, so sánh với người khác: Phật dạy gì

Lướt mạng xã hội năm phút là đủ để thấy ai đó vừa mua nhà, ai đó vừa thăng chức, ai đó đi du lịch xa. Cái nhói nhỏ trong lòng lúc ấy có tên: ganh tị. Kinh Phật gọi đúng tên nó, chỉ ra gốc rễ, và chỉ một liều thuốc rất dịu.

Tóm lại: Kinh gọi ghen tị là đố kỵ (issā): bực bội trước lợi lộc và sự kính trọng người khác nhận được. Kinh Tiểu Nghiệp Phân Biệt (MN 135) nói đố kỵ là con đường đưa đến ít uy tín. Kinh Đế Thích Sở Vấn (DN 21) chỉ gốc của nó nằm ở những gì ta ưa và ghét, và sâu hơn là ở lòng mong cầu và suy nghĩ. Liều thuốc là tâm hỷ (muditā): vui theo niềm vui của người khác.

Cái nhói nhỏ có tên gọi

Thử hình dung một chị kế toán, làm việc chăm chỉ tám năm ở cùng một công ty. Sáng thứ hai, chị nghe tin người đồng nghiệp vào sau mình ba năm được lên trưởng phòng. Chị vẫn chúc mừng, vẫn cười, nhưng cả ngày hôm ấy trong lòng nặng trĩu. Tối về, chị mở mạng xã hội và thấy bạn cũ khoe căn nhà mới. Cái nặng ấy càng nặng thêm.

Cảm giác ấy rất người, không ai đáng bị chê vì đã cảm thấy nó. Nhưng nếu để mặc nó lớn lên, nó làm khổ chính người mang nó trước tiên.

Kinh Tiểu Nghiệp Phân Biệt nói gì

Chàng thanh niên Subha hỏi Đức Phật vì sao cùng là người mà có kẻ thấp, người cao, có người ít uy tín, có người uy tín lớn. Đức Phật trả lời bằng một chuỗi những “con đường” (paṭipadā), mỗi lối sống đưa đến một kết quả. Trong đó có lối sống này:

Ở đây, này Thanh niên, có người đàn bà hay người đàn ông, tật đố, đối với người khác được quyền lợi, được tôn trọng, cung kính, tôn sùng, đảnh lễ, cúng dường, sanh tật đố, sanh tâm, ôm ấp tâm tật đố.

Trung Bộ 135, đoạn 11.1–11.2

Kinh nói lối sống ấy là con đường đưa đến ít uy tín (appesakkha): nếu người ấy sinh lại làm người, thì sinh ở đâu cũng ít ảnh hưởng (đoạn 11.4–11.5). Ngược lại, người không ganh tị trước điều tốt của người khác thì đi trên con đường đưa đến uy tín lớn (MN 135, đoạn 12.1–12.5). Điều này cũng thấy được ngay trong đời: người hay ganh tị khó được ai tin cậy, vì ai cũng ngại chia sẻ niềm vui với họ.

Gốc rễ của đố kỵ: Kinh Đế Thích Sở Vấn

Trong Trường Bộ 21, Đế-thích (Sakka), vua cõi trời, hỏi Đức Phật: vì sao chư thiên, loài người và mọi chúng sinh đều mong sống không oán thù, không bạo lực, không thù địch, vậy mà vẫn sống trong oán thù? Đức Phật đáp: vì họ bị trói buộc bởi xiềng xích của đố kỵ và keo kiệt (DN 21, đoạn 2.1.2–2.1.7). Câu trả lời ấy đáng suy ngẫm: ai cũng muốn hòa bình, nhưng chỉ cần lòng ganh tị và lòng bủn xỉn là đủ khiến ta sống trong căng thẳng.

Đế-thích hỏi tiếp: đố kỵ và keo kiệt từ đâu ra? Đức Phật chỉ từng lớp gốc: đố kỵ và keo kiệt sinh từ những gì ta ưa và ghét; ưa và ghét sinh từ lòng mong cầu; mong cầu sinh từ suy nghĩ; suy nghĩ sinh từ những nhận thức bị tâm thêu dệt, phóng đại (đoạn 2.2.5–2.2.23). Áp vào chuyện so sánh: ta nhìn thấy một bức ảnh, tâm lập tức thêu dệt thành một câu chuyện về cuộc đời người kia, rồi đặt cạnh câu chuyện về đời mình, rồi khởi lên mong muốn, rồi khó chịu vì không có. Mỗi lớp như vậy đều có thể nhận ra và dừng lại.

Liều thuốc dịu: tâm hỷ

Trong bốn tâm vô lượng, tâm hỷ (muditā) là niềm vui theo niềm vui của người khác. Kinh Kālāma tả vị Thánh đệ tử “sống trải tâm hỷ cùng khắp một phương… đến toàn thể thế giới, với tâm quảng đại, vô biên, vô lượng, không oán thù, không sân hận” (Tăng Chi Bộ 3.65, đoạn 42.3). Tâm hỷ là cái đối nghịch thẳng với đố kỵ: cùng một tin vui của người khác, đố kỵ thấy đó là mất mát của mình, tâm hỷ thấy đó là thêm một niềm vui cho thế gian.

Bài Tứ vô lượng tâm nói về bốn tâm này. Tâm hỷ thường được xem là khó tập nhất, vì nó đòi ta vui khi điều tốt không đến với mình. Nhưng cũng vì vậy mà nó giải phóng nhiều nhất.

Một gợi ý để thực hành

Lần tới khi thấy tin vui của ai đó và cảm thấy cái nhói quen thuộc, hãy làm ba bước. Một, gọi tên nó trong đầu: “Đây là ganh tị.” Không trách mình, chỉ nhận ra. Hai, thở chậm một hơi và nhớ rằng câu chuyện mình vừa dựng về người kia chỉ là một phần nhỏ của sự thật. Ba, thầm chúc người ấy: “Mong niềm vui của bạn được bền lâu.” Lúc đầu câu chúc có thể còn gượng. Cứ tập, rồi một ngày bạn sẽ thấy mình vui thật.

Viết bởi Diệu Hạnh

Nguồn trích dẫn

  1. Trung Bộ 135, Kinh Tiểu Nghiệp Phân Biệt (Cūḷakammavibhaṅga Sutta), MN 135 trên SuttaCentral.
  2. Trường Bộ 21, Kinh Đế Thích Sở Vấn (Sakkapañha Sutta), DN 21 trên SuttaCentral.
  3. Tăng Chi Bộ 3.65, Kinh Kālāma, AN 3.65 trên SuttaCentral.
  4. Các đoạn kinh trích trong khung: bản dịch tiếng Việt của HT. Thích Minh Châu (bản trên SuttaCentral), trích đăng để phụng sự Pháp thí; nếu chủ sở hữu bản quyền có yêu cầu, xin liên hệ 0902 332 970 để điều chỉnh.
  5. Các câu kinh dẫn ngắn trong thân bài do Hoan Hỉ dịch từ bản Pāli, đối chiếu bản tiếng Anh của Bhikkhu Sujato.

Tích truyện cùng chủ đề

Các tích truyện dưới đây cùng chủ đề với bài, kể theo Chú giải Kinh Pháp Cú (Dhammapada-aṭṭhakathā), không phải lời kinh gốc.

Đọc nguyên văn bài kinh