Kinh Từ Bi
Karaṇīya Metta Sutta
Còn gọi là: Kinh Tâm Từ
Mười bài kệ được tụng nhiều nhất ở các chùa Nam truyền: trước là cách sống của người muốn an tịnh, sau là tâm từ trải đến mọi loài như mẹ thương con một.
Trước khi đọc kinh
Kinh Từ Bi (còn gọi là Kinh Tâm Từ) có trong Kinh Tập và cũng được đặt trong Tiểu Tụng, bộ kinh tụng hằng ngày của người Phật tử Nam truyền.
Điều đáng chú ý là kinh không bắt đầu bằng lời chúc. Ba bài kệ đầu (1.1–3.2) là chân dung một người sống tốt: ngay thẳng, dễ khuyên bảo, khiêm tốn, biết đủ, sống giản dị, không làm điều nhỏ nào để người trí chê. Tâm từ không thể mọc trên một nếp sống bừa bộn.
Từ kệ 3.3, lời nguyện mở rộng dần: mọi loài, yếu hay mạnh, lớn hay nhỏ, thấy hay không thấy, xa hay gần, đã sinh hay sắp sinh. Hình ảnh trung tâm của kinh nằm ở kệ 7: như người mẹ dùng cả mạng sống che chở đứa con một, hãy mở lòng như vậy với mọi loài.
Tâm từ ở đây không phải cảm xúc ủy mị, mà là một phép tu: giữ niệm này khi đi, đứng, ngồi, nằm (kệ 9). Kệ cuối nhắc rằng tâm từ cần đi cùng giới và chánh kiến thì mới đưa đến giải thoát.
Ý chính
- Nền của tâm từ là nếp sống ngay thẳng, giản dị, khiêm tốn (kệ 1–3).
- Rải tâm từ đến mọi loài, không trừ ai (kệ 4–5).
- Không lừa dối, không khinh miệt, không mong ai khổ (kệ 6).
- Như mẹ thương con một (kệ 7).
- Giữ niệm từ trong mọi tư thế; đi cùng giới và chánh kiến (kệ 9–10).
Thuật ngữ Pāli trong kinh
- mettā
- từ: lòng thương mong người khác an vui
- santaṁ padaṁ
- cảnh giới an tịnh
- sukhitattā
- được an vui
- brahmavihāra
- phạm trú: chỗ trú cao thượng của tâm
- sati
- niệm
- sīla
- giới
Kinh Từ Bi
1Vị thiện xảo mục đích,
Cần phải làm như sau:
Sau khi hiểu thông suốt,
Con đường an tịnh ấy,
Có khả năng trực tánh,
Thật sự, khéo chân trực,
Dễ nói và nhu hòa,
Không có gì cao mạn.“Karaṇīyamatthakusalena, Yanta santaṁ padaṁ abhisamecca; Sakko ujū ca suhujū ca, Sūvaco cassa mudu anatimānī.Those who are skilled in the meaning of scripture should practice as follows to realize the state of peace. Let them be capable and upright, very upright, easy to speak to, gentle and humble;
2Sống cảm thấy vừa đủ,
Nuôi sống thật dễ dàng,
Ít có sự rộn ràng,
Sống đạm bạc, giản dị.
Các căn được tịnh lạc,
Khôn ngoan và thận trọng,
Không xông xáo gia đình,
Không tham ái, tham vọng.Santussako ca subharo ca, Appakicco ca sallahukavutti; Santindriyo ca nipako ca, Appagabbho kulesvananugiddho.content and unburdensome, unbusied, living lightly, alert, with senses calmed, courteous, not fawning on families.
3Các hành sở của mình,
Không nhỏ nhen, vụn vặt,
Khiến người khác có trí,
Có thể sanh chỉ trích,
Mong mọi loài chúng sanh,
Được an lạc, an ổn,
Mong chúng chứng đạt được,
Hạnh phúc và an lạc.Na ca khuddamācare kiñci, Yena viññū pare upavadeyyuṁ; Sukhino va khemino hontu, Sabbasattā bhavantu sukhitattā.Let them not do the slightest thing that others who are wise would blame. May they be happy and safe! May all beings be happy!
4Mong tất cả những ai,
Hữu tình có mạng sống,
Kẻ yếu hay kẻ mạnh,
Không bỏ sót một ai,
Kẻ dài hay kẻ lớn,
Trung thấp, loài lớn, nhỏ.Ye keci pāṇabhūtatthi, Tasā vā thāvarā vanavasesā; Dīghā vā ye va mahantā, Majjhimā rassakā aṇukathūlā.Whatever living creatures there are with not a one left out— frail or firm, long or large, medium, small, tiny or round,
5Loài được thấy, không thấy,
Loài sống xa, không xa,
Các loài hiện đang sống,
Các loài sẽ được sanh,
Mong mọi loài chúng sanh,
Sống hạnh phúc an lạc.Diṭṭhā vā ye va adiṭṭhā, Ye va dūre vasanti avidūre; Bhūtā va sambhavesī va, Sabbasattā bhavantu sukhitattā.seen or unseen, living far or near, those who have been born and those about to be born— may all beings be happy!
6Mong rằng không có ai,
Lường gạt, lừa dối ai,
Không có ai khinh mạn,
Tại bất cứ chỗ nào,
Không vì giận hờn nhau,
Không vì tưởng chống đối.
Lại có người mong muốn,
Làm đau khổ cho nhau.Na paro paraṁ nikubbetha, Nātimaññetha katthaci na kañci; Byārosanā paṭighasañña, Nāññamaññassa dukkhamiccheyya.Let none deceive another, nor look down on anyone anywhere. Though provoked or aggrieved, let them not wish pain on each other.
7Như tấm lòng người mẹ,
Đối với con của mình,
Trọn đời lo che chở,
Con độc nhất mình sanh.
Cũng vậy, đối tất cả
Các hữu tình chúng sanh,
Hãy tu tập tâm ý,
Không hạn lượng, rộng lớn.Mātā yathā niyaṁ puttam Āyusā ekaputtamanurakkhe; Evampi sabbabhūtesu, Mānasaṁ bhāvaye aparimāṇaṁ.Even as a mother would protect with her life her child, her only child, so too for all creatures unfold a boundless heart.
8Hãy tu tập từ tâm,
Trong tất cả thế giới,
Hãy tu tập tâm ý,
Không hạn lượng, rộng lớn,
Phía trên và phía dưới,
Cũng vậy cả bề ngang,
Không hạn chế, trói buộc,
Không hận, không thù địch.Mettañca sabbalokasmi, Mānasaṁ bhāvaye aparimāṇaṁ; Uddhaṁ adho ca tiriyañca, Asambādhaṁ averamasapattaṁ.With love for the whole world, unfold a boundless heart: above, below, all round, unconstricted, without enmity or foe.
9Khi đứng hay khi ngồi,
Khi ngồi hay khi nằm,
Lâu cho đến khi nào,
Khi đang còn tỉnh thức,
Hãy an trú niệm này,
Nếp sống này như vậy.
Được đời đề cập đến,
Là nếp sống tối thượng.Tiṭṭhaṁ caraṁ nisinno va, Sayāno yāvatāssa vitamiddho; Etaṁ satiṁ adhiṭṭheyya, Brahmametaṁ vihāramidhamāhu.When standing, walking, sitting, or lying down while yet unweary, keep this ever in mind; for this, they say, is a divine meditation in this life.
10Ai từ bỏ tà kiến,
Giữ giới, đủ chánh kiến,
Nhiếp phục được tham ái,
Đối với các dục vọng,
Không còn phải tái sanh, Đi đến thai tạng nữa.Diṭṭhiñca anupaggamma, Sīlavā dassanena sampanno; Kāmesu vinaya gedhaṁ, Na hi jātuggabbhaseyya punaretī”ti.Avoiding harmful views, virtuous, accomplished in insight, with desire for sensual pleasures dispelled, they never return to a womb again.
Viết bởi Diệu Hạnh
Nguồn trích dẫn
- Kinh Tập 1.8 (Karaṇīya Metta Sutta). Bản Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka, Snp 1.8 trên SuttaCentral.
- Bản tiếng Anh: Bhikkhu Sujato dịch, SuttaCentral, phát hành theo giấy phép CC0.
- Bản tiếng Việt: HT. Thích Minh Châu dịch (bản trên SuttaCentral). Bản dịch tiếng Việt của HT. Thích Minh Châu, trích đăng để phụng sự Pháp thí; nếu chủ sở hữu bản quyền có yêu cầu, xin liên hệ 0902 332 970 để điều chỉnh.