Đời sống

Tâm từ là gì, rải tâm từ thế nào, và được lợi ích gì

Ai cũng từng thương một người. Tâm từ là tập cho tình thương ấy rộng ra, không phân biệt người quen kẻ lạ, và không đổi thành oán giận khi bị đối xử tệ.

Tóm lại: Tâm từ (mettā) là lòng mong cho mình và mọi loài được an vui. Đó không phải cảm xúc ủy mị, mà là một phẩm chất có thể tập luyện, như tập thể dục cho trái tim. Kinh dạy rải tâm từ đến mọi hướng, không phân biệt, và kể ra mười một lợi ích cho người thực hành.

Tâm từ trong lời kinh

Bài kinh nổi tiếng nhất về tâm từ là Kinh Từ Bi (Kinh Tập 1.8), được tụng ở hầu hết các chùa Nam truyền. Trái tim của bài kinh là một ước nguyện giản dị:

Mong mọi loài chúng sanh,
Được an lạc, an ổn,
Mong chúng chứng đạt được,
Hạnh phúc và an lạc.

Kinh Tập 1.8, kệ 3

Rồi kinh mở rộng ra từng loại chúng sinh: yếu hay mạnh, lớn hay nhỏ, thấy được hay không thấy được, ở xa hay ở gần, đã sinh hay sắp sinh (kệ 4–5). Không ai bị bỏ sót.

Hình ảnh đẹp nhất của kinh là người mẹ: “Như người mẹ dùng cả mạng sống che chở đứa con một của mình, cũng vậy, đối với mọi loài, hãy tu tập tâm vô lượng” (kệ 7). Tình thương của người mẹ là thước đo; tâm từ là mở thước đo ấy ra cho mọi người.

Tâm từ không phải là dễ dãi

Có người nghĩ thương mọi người là để người ta muốn làm gì mình cũng được. Kinh không nói vậy. Ngay trong Kinh Từ Bi, phần mở đầu dạy người thực hành phải ngay thẳng, có năng lực, không làm điều nhỏ nhặt nào bị người trí chê trách (kệ 1–3). Tâm từ đi cùng với giới và trí tuệ.

Kinh còn dạy: “dù tức giận hay bất bình, đừng mong người khác gặp khổ đau” (kệ 6). Bạn vẫn có thể không đồng ý, vẫn có thể nói “không”, vẫn có thể tránh xa người làm hại mình. Điều tâm từ bỏ đi là lòng mong cho người kia đau khổ.

Trong Kinh Ví Dụ Cái Cưa, Đức Phật đặt ra tình huống khó nhất: ngay cả khi bọn cướp dùng cưa cưa đứt từng chi thể, ai để tâm sinh ác ý thì không phải là người làm theo lời Ngài dạy. Ngài dạy các Tỷ-kheo học tập: “Tâm chúng ta sẽ không bị biến đổi, chúng ta sẽ không thốt ra lời ác độc, chúng ta sẽ sống với lòng thương tưởng mong điều lợi ích, với tâm từ, không ôm ấp sân hận bên trong” (MN 21, đoạn 20.1–20.4). Đó là mức cao nhất; người mới tập chỉ cần biết hướng đi.

Cách rải tâm từ cho người mới

Kinh dạy rải tâm từ “bên trên, bên dưới và chung quanh, không ngăn ngại, không oán thù, không đối địch” (kệ 8). Để dễ bắt đầu, truyền thống chú giải (Thanh Tịnh Đạo, Visuddhimagga) khuyên đi theo từng bước, từ gần đến xa:

  • Chính mình: thầm nhắc “mong tôi được an vui, không oán thù, không khổ não”.
  • Một người thầy, một người bạn quý: hình dung gương mặt họ và gửi cùng lời mong ấy.
  • Một người bình thường: người bán hàng đầu ngõ, đồng nghiệp ít nói chuyện.
  • Một người khó thương: chỉ khi tâm đã ấm. Nếu thấy khó, quay lại người dễ thương.
  • Mọi loài, mọi hướng: mở rộng ra cả khu phố, thành phố, mọi chúng sinh.

Năm phút mỗi bước là đủ. Kinh Từ Bi còn dạy giữ niệm này “khi đứng, khi đi, khi ngồi, hay khi nằm mà còn tỉnh thức” (kệ 9). Ví dụ đời thường: trên chuyến xe buýt đông người, bạn thầm nhìn từng người và nghĩ “mong anh được bình an”. Kẹt xe cũng thành chỗ tập.

Mười một lợi ích

Trong Tăng Chi Bộ 11.15, Đức Phật nói khi tâm từ giải thoát được tu tập, làm cho sung mãn, người thực hành có thể mong đợi mười một lợi ích (AN 11.15, đoạn 1.1–2.2):

  • Ngủ an lành, thức dậy an lành, không thấy ác mộng.
  • Được loài người thương mến, được loài phi nhân thương mến, được chư thiên hộ trì.
  • Lửa, thuốc độc, đao kiếm không phạm đến.
  • Tâm mau định tĩnh, sắc mặt trong sáng.
  • Lâm chung không mê loạn; nếu chưa chứng đạt cao hơn, được sinh về cõi Phạm thiên.

Nhiều lợi ích trong số đó bạn có thể tự kiểm chứng: thử rải tâm từ năm phút trước khi ngủ trong một tuần, rồi xem giấc ngủ của mình thế nào.

Một gợi ý nhỏ

Tối nay, trước khi ngủ, hãy nằm yên và gửi lời mong lành đến ba người: chính bạn, một người bạn thương, và một người hôm nay đã làm bạn khó chịu. Không cần cảm thấy gì đặc biệt. Chỉ cần thật lòng mong cho họ được an. Hạt giống tâm từ lớn lên từ những lần gieo nhỏ như vậy.

Viết bởi Diệu Hạnh

Nguồn trích dẫn

  1. Kinh Tập 1.8, Kinh Từ Bi (Karaṇīyamettā Sutta), Snp 1.8 trên SuttaCentral.
  2. Tăng Chi Bộ 11.15, Kinh Tâm Từ (Mettā Sutta), AN 11.15 trên SuttaCentral.
  3. Trung Bộ 21, Kinh Ví Dụ Cái Cưa (Kakacūpama Sutta), MN 21 trên SuttaCentral.
  4. Thanh Tịnh Đạo (Visuddhimagga), chương IX, về thứ tự rải tâm từ, theo truyền thống chú giải.
  5. Các đoạn kinh trích trong khung: bản dịch tiếng Việt của HT. Thích Minh Châu (bản trên SuttaCentral; các bài thuộc Tiểu Bộ theo bản trên BuddhaSasana, budsas.org), trích đăng để phụng sự Pháp thí; nếu chủ sở hữu bản quyền có yêu cầu, xin liên hệ 0902 332 970 để điều chỉnh.
  6. Các câu kinh dẫn ngắn trong thân bài do Hoan Hỉ dịch từ bản Pāli, đối chiếu bản tiếng Anh của Bhikkhu Sujato.

Tích truyện cùng chủ đề

Các tích truyện dưới đây cùng chủ đề với bài, kể theo Chú giải Kinh Pháp Cú (Dhammapada-aṭṭhakathā), không phải lời kinh gốc.

Đọc nguyên văn bài kinh