Kinh Ba Căn Bản Làm Phước
Puññakiriyavatthu Sutta
Kinh Ba Căn Bản Làm Phước nêu ba căn bản làm phước là bố thí, giới đức và tu tập, rồi trình bày các trường hợp theo quy mô nhỏ, vừa và to lớn, mỗi trường hợp dẫn đến một cảnh giới tương ứng.
Trước khi đọc kinh
Tóm lại
- Ba căn bản làm phước là căn bản do bố thí, căn bản do giới đức và căn bản do tu tập.
- Người làm phước trên quy mô nhỏ được sanh làm người không may mắn, trên quy mô vừa được sanh làm người có may mắn.
- Người làm phước trên quy mô to lớn được sanh cộng trú với chư Thiên ở các tầng trời, từ Bốn thiên vương đến Tha hóa tự tại thiên.
Kinh Ba Căn Bản Làm Phước thuộc Tăng Chi Bộ của kinh Nikāya, tức năm bộ kinh gốc bằng tiếng Pāli, ngôn ngữ gốc của kinh. Kinh mở đầu ở đoạn 1.1 đến 1.3 bằng câu hỏi và câu trả lời ngắn gọn: có ba căn bản làm phước, là căn bản do bố thí, căn bản do giới đức và căn bản do tu tập.
Phần chính của kinh đi qua các trường hợp theo quy mô thực hành. Đoạn 2.1 đến 2.2 nêu trường hợp quy mô nhỏ, đoạn 3.1 đến 3.2 nêu trường hợp quy mô vừa, đoạn 4.1 đến 9.4 nêu các trường hợp quy mô to lớn với các tầng trời khác nhau. Kinh kết lại ở đoạn 9.5 đến 9.6 bằng câu nhắc lại ba căn bản phước nghiệp ấy.
Điểm đặc biệt của kinh là trong mọi trường hợp được nêu, người ấy đều chưa đạt được căn bản làm phước do tu tập, một điểm mà phần giải nghĩa dưới đây sẽ nói rõ.
Thuật ngữ Pāli trong kinh
- puññakiriyavatthu
- căn bản làm phước
- dānamaya
- do bố thí
- sīlamaya
- do giới đức
- bhāvanāmaya
- do tu tập
- deva
- chư Thiên
- tāvatiṁsa
- cõi Tam thập Tam thiên
- yāma
- Yàma thiên, Dạ-ma thiên
- tusita
- Tusità thiên, Đâu-suất thiên
Kinh Ba Căn Bản Làm Phước
1.1–1.3—Này các Tỷ-kheo, có ba căn bản làm phước. Thế nào là ba?
Căn bản làm phước do bố thí, căn bản làm phước do giới đức, căn bản làm phước do tu tập.“Tīṇimāni, bhikkhave, puññakiriyavatthūni. Katamāni tīṇi? Dānamayaṁ puññakiriyavatthu, sīlamayaṁ puññakiriyavatthu, bhāvanāmayaṁ puññakiriyavatthu.“Mendicants, there are these three grounds for making merit. What three? Giving, ethical conduct, and meditation are all grounds for making merit.
2.1–2.2Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người căn bản làm phước do bố thí trên một quy mô nhỏ, căn bản làm phước do giới đức trên một quy mô nhỏ, căn bản làm phước do tu tập trên một quy mô nhỏ. Người ấy, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh làm người không may mắn.Idha, bhikkhave, ekaccassa dānamayaṁ puññakiriyavatthu parittaṁ kataṁ hoti, sīlamayaṁ puññakiriyavatthu parittaṁ kataṁ hoti, bhāvanāmayaṁ puññakiriyavatthuṁ nābhisambhoti. So kāyassa bhedā paraṁ maraṇā manussadobhagyaṁ upapajjati.First, someone has practiced a little giving and ethical conduct as grounds for making merit, but they haven’t got as far as meditation as a ground for making merit. When their body breaks up, after death, they’re reborn among disadvantaged humans.
3.1–3.2Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người căn bản làm phước do bố thí trên một quy mô vừa, căn bản làm phước do giới đức trên một quy mô vừa, không đạt được căn bản làm phước do tu tập. Người ấy, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh làm người có may mắn.Idha pana, bhikkhave, ekaccassa dānamayaṁ puññakiriyavatthu mattaso kataṁ hoti, sīlamayaṁ puññakiriyavatthu mattaso kataṁ hoti, bhāvanāmayaṁ puññakiriyavatthuṁ nābhisambhoti. So kāyassa bhedā paraṁ maraṇā manussasobhagyaṁ upapajjati.Next, someone has practiced a moderate amount of giving and ethical conduct as grounds for making merit, but they haven’t got as far as meditation as a ground for making merit. When their body breaks up, after death, they’re reborn among well-off humans.
4.1–5.5Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người căn bản làm phước do bố thí trên một quy mô to lớn, căn bản làm phước do giới đức trên một quy mô to lớn, nhưng không đạt được căn bản làm phước do tu tập. Người ấy, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh cọng trú với chư Thiên ở Tam thập Tam thiên. Tại đây, này các Tỷ-kheo, Thiên chủ Sakka sau khi làm thật nhiều căn bản phước nghiệp do bố thí, sau khi làm thật nhiều căn bản phước nghiệp do giới đức, vượt qua Bốn thiên vương trên mười điểm: tuổi thọ chư Thiên, dung sắc chư Thiên, an lạc chư Thiên, danh tiếng chư Thiên, Tăng thượng lực chư Thiên, thiên sắc, thiên hương, thiên vị, thiên xúc.
Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người căn bản làm phước do bố thí trên một quy mô to lớn, căn bản làm phước do giới đức trên một quy mô to lớn, nhưng không đạt được căn bản làm phước do tu tập. Người ấy, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh cọng trú với chư Thiên ở Tam thập Tam thiên. Tại đây, này các Tỷ-kheo, Thiên chủ Sakka sau khi làm thật nhiều căn bản phước nghiệp do bố thí, sau khi làm thật nhiều căn bản phước nghiệp do giới đức, vượt qua chư Thiên ở Tàvatimsa trên mười điểm: tuổi thọ chư Thiên, dung sắc chư Thiên, an lạc chư Thiên, danh tiếng chư Thiên, Tăng thượng lực chư Thiên, thiên sắc, thiên hương, thiên vị, thiên xúc.Idha pana, bhikkhave, ekaccassa dānamayaṁ puññakiriyavatthu adhimattaṁ kataṁ hoti, sīlamayaṁ puññakiriyavatthu adhimattaṁ kataṁ hoti, bhāvanāmayaṁ puññakiriyavatthuṁ nābhisambhoti. So kāyassa bhedā paraṁ maraṇā cātumahārājikānaṁ devānaṁ sahabyataṁ upapajjati. Tatra, bhikkhave, cattāro mahārājāno dānamayaṁ puññakiriyavatthuṁ atirekaṁ karitvā, sīlamayaṁ puññakiriyavatthuṁ atirekaṁ karitvā, cātumahārājike deve dasahi ṭhānehi adhigaṇhanti— dibbena āyunā, dibbena vaṇṇena, dibbena sukhena, dibbena yasena, dibbena ādhipateyyena, dibbehi rūpehi, dibbehi saddehi, dibbehi gandhehi, dibbehi rasehi, dibbehi phoṭṭhabbehi. Idha pana, bhikkhave, ekaccassa dānamayaṁ puññakiriyavatthu adhimattaṁ kataṁ hoti, sīlamayaṁ puññakiriyavatthu adhimattaṁ kataṁ hoti, bhāvanāmayaṁ puññakiriyavatthuṁ nābhisambhoti. So kāyassa bhedā paraṁ maraṇā tāvatiṁsānaṁ devānaṁ sahabyataṁ upapajjati. Tatra, bhikkhave, sakko devānamindo dānamayaṁ puññakiriyavatthuṁ atirekaṁ karitvā sīlamayaṁ puññakiriyavatthuṁ atirekaṁ karitvā tāvatiṁse deve dasahi ṭhānehi adhigaṇhāti— dibbena āyunā …pe… dibbehi phoṭṭhabbehi.Next, someone has practiced to an extraordinary degree giving and ethical conduct as grounds for making merit, but they haven’t got as far as meditation as a ground for making merit. When their body breaks up, after death, they’re reborn in the company of the gods of the four great kings. There, the four great kings themselves have practiced giving and ethical conduct as grounds for making merit to a greater degree than the other gods. So they surpass them in ten respects: heavenly lifespan, beauty, happiness, glory, sovereignty, sights, sounds, smells, tastes, and touches. Next, someone has practiced to an extraordinary degree giving and ethical conduct as grounds for making merit, but they haven’t got as far as meditation as a ground for making merit. When their body breaks up, after death, they’re reborn in the company of the gods of the thirty-three. There, Sakka, lord of gods, has practiced giving and ethical conduct as grounds for making merit to a greater degree than the other gods. So he surpasses them in ten respects …
6.1–6.5Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người căn bản làm phước do bố thí trên một quy mô to lớn, căn bản làm phước do giới đức trên một quy mô to lớn, nhưng không đạt được căn bản làm phước do tu tập. Người ấy, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh cọng trú với chư Thiên ở Yàma thiên. Tại đây, này các Tỷ-kheo, Thiên tử Suyàma sau khi làm thật nhiều căn bản phước nghiệp do bố thí, sau khi làm thật nhiều căn bản phước nghiệp do giới đức, vượt qua chư Thiên ở Yàma trên mười điểm: tuổi thọ chư Thiên, … thiên vị, thiên xúc.Idha pana, bhikkhave, ekaccassa dānamayaṁ puññakiriyavatthu adhimattaṁ kataṁ hoti, sīlamayaṁ puññakiriyavatthu adhimattaṁ kataṁ hoti, bhāvanāmayaṁ puññakiriyavatthuṁ nābhisambhoti. So kāyassa bhedā paraṁ maraṇā yāmānaṁ devānaṁ sahabyataṁ upapajjati. Tatra, bhikkhave, suyāmo devaputto dānamayaṁ puññakiriyavatthuṁ atirekaṁ karitvā, sīlamayaṁ puññakiriyavatthuṁ atirekaṁ karitvā, yāme deve dasahi ṭhānehi adhigaṇhāti— dibbena āyunā …pe… dibbehi phoṭṭhabbehi.Next, someone has practiced to an extraordinary degree giving and ethical conduct as grounds for making merit, but they haven’t got as far as meditation as a ground for making merit. When their body breaks up, after death, they’re reborn in the company of the gods of Yama. There, the godling Suyāma has practiced giving and ethical conduct as grounds for making merit to a greater degree than the other gods. So he surpasses them in ten respects …
7.1–7.5Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người căn bản làm phước do bố thí trên một quy mô to lớn, căn bản làm phước do giới đức trên một quy mô to lớn, nhưng không đạt được căn bản làm phước do tu tập. Người ấy, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh cọng trú với chư Thiên ở Tusità thiên. Tại đây, này các Tỷ-kheo, Thiên tử Santusità, sau khi làm thật nhiều căn bản phước nghiệp do bố thí, sau khi làm thật nhiều căn bản phước nghiệp do giới đức, vượt qua chư Thiên ở Tusità trên mười điểm: tuổi thọ chư Thiên, … thiên vị, thiên xúc.Idha pana, bhikkhave, ekaccassa dānamayaṁ puññakiriyavatthu adhimattaṁ kataṁ hoti, sīlamayaṁ puññakiriyavatthu adhimattaṁ kataṁ hoti, bhāvanāmayaṁ puññakiriyavatthuṁ nābhisambhoti. So kāyassa bhedā paraṁ maraṇā tusitānaṁ devānaṁ sahabyataṁ upapajjati. Tatra, bhikkhave, santusito devaputto dānamayaṁ puññakiriyavatthuṁ atirekaṁ karitvā, sīlamayaṁ puññakiriyavatthuṁ atirekaṁ karitvā, tusite deve dasahi ṭhānehi adhigaṇhāti— dibbena āyunā …pe… dibbehi phoṭṭhabbehi.Next, someone has practiced to an extraordinary degree giving and ethical conduct as grounds for making merit, but they haven’t got as far as meditation as a ground for making merit. When their body breaks up, after death, they’re reborn in the company of the joyful gods. There, the godling Santusita has practiced giving and ethical conduct as grounds for making merit to a greater degree than the other gods. So he surpasses them in ten respects …
8.1–8.5Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người căn bản làm phước do bố thí trên một quy mô to lớn, căn bản làm phước do giới đức trên một quy mô to lớn, nhưng không đạt được căn bản làm phước do tu tập. Người ấy, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh cọng trú với chư Thiên ở Hóa lạc thiên. Tại đây, này các Tỷ-kheo, Thiên tử Sunimmita, sau khi làm thật nhiều căn bản phước nghiệp do bố thí, sau khi làm thật nhiều căn bản phước nghiệp do giới đức, vượt qua chư Thiên ở Hóa lạc thiên trên mười điểm: tuổi thọ chư Thiên, … thiên vị, thiên xúc.Idha pana, bhikkhave, ekaccassa dānamayaṁ puññakiriyavatthu adhimattaṁ kataṁ hoti, sīlamayaṁ puññakiriyavatthu adhimattaṁ kataṁ hoti, bhāvanāmayaṁ puññakiriyavatthuṁ nābhisambhoti. So kāyassa bhedā paraṁ maraṇā nimmānaratīnaṁ devānaṁ sahabyataṁ upapajjati. Tatra, bhikkhave, sunimmito devaputto dānamayaṁ puññakiriyavatthuṁ atirekaṁ karitvā, sīlamayaṁ puññakiriyavatthuṁ atirekaṁ karitvā, nimmānaratīdeve dasahi ṭhānehi adhigaṇhāti— dibbena āyunā …pe… dibbehi phoṭṭhabbehi.Next, someone has practiced to an extraordinary degree giving and ethical conduct as grounds for making merit, but they haven’t got as far as meditation as a ground for making merit. When their body breaks up, after death, they’re reborn in the company of the gods who love to create. There, the godling Sunimmita has practiced giving and ethical conduct as grounds for making merit to a greater degree than the other gods. So he surpasses them in ten respects …
9.1–9.4Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người căn bản làm phước do bố thí trên một quy mô to lớn, căn bản làm phước do giới đức trên một quy mô to lớn, nhưng không đạt được căn bản làm phước do tu tập. Người ấy, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh cọng trú với chư Thiên ở Tha hóa tự tại thiên. Tại đây, này các Tỷ-kheo, Thiên tử Vasavattì, sau khi làm thật nhiều căn bản phước nghiệp do bố thí, sau khi làm thật nhiều căn bản phước nghiệp do giới đức, vượt qua chư Thiên ở Tha hóa Tự tại thiên trên mười điểm: tuổi thọ chư Thiên, … thiên vị, thiên xúc.Idha pana, bhikkhave, ekaccassa dānamayaṁ puññakiriyavatthu adhimattaṁ kataṁ hoti, sīlamayaṁ puññakiriyavatthu adhimattaṁ kataṁ hoti, bhāvanāmayaṁ puññakiriyavatthuṁ nābhisambhoti. So kāyassa bhedā paraṁ maraṇā paranimmitavasavattīnaṁ devānaṁ sahabyataṁ upapajjati. Tatra, bhikkhave, vasavattī devaputto dānamayaṁ puññakiriyavatthuṁ atirekaṁ karitvā, sīlamayaṁ puññakiriyavatthuṁ atirekaṁ karitvā, paranimmitavasavattīdeve dasahi ṭhānehi adhigaṇhāti— dibbena āyunā, dibbena vaṇṇena, dibbena sukhena, dibbena yasena, dibbena ādhipateyyena, dibbehi rūpehi, dibbehi saddehi, dibbehi gandhehi, dibbehi rasehi, dibbehi phoṭṭhabbehi.Next, someone has practiced to an extraordinary degree giving and ethical conduct as grounds for making merit, but they haven’t got as far as meditation as a ground for making merit. When their body breaks up, after death, they’re reborn in the company of the gods who control what is created by others. There, the godling Vasavattī has practiced giving and ethical conduct as grounds for making merit to a greater degree than the other gods. So he surpasses them in ten respects: heavenly lifespan, beauty, happiness, glory, sovereignty, sights, sounds, smells, tastes, and touches.
9.5–9.6Này các Tỷ-kheo, có ba căn bản phước nghiệp này.
Bộ kinh nầy được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch từ tạng Pali sang Việt ngữ năm 1976–1977, và được Viện Phật Học Vạn Hạnh, Sài Gòn, ấn hành năm 1980–1981. Trong chương trình phiên dịch và ấn hành Đại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được hiệu đính thành 4 tập và tái bản năm 1996, qua số thứ tự 21, 22, 23, và 24.
These texts have been used with the kind permission of the webmaster of http://www.budsas.net/
Prepared for SuttaCentral by Ayya Vimala.Imāni kho, bhikkhave, tīṇi puññakiriyavatthūnī”ti. Chaṭṭhaṁ.These are the three grounds for making merit.”
Giải nghĩa ngắn
Theo cách đọc của người viết, không phải câu trong kinh: bố thí là cho đi, chia sẻ vật chất và sự giúp đỡ cho người khác. Giới đức là giữ gìn đời sống không gây hại, không lấy của không cho, không tà hạnh, không nói dối và không đắm say rượu men. Tu tập là rèn luyện tâm, nuôi dưỡng chánh niệm và trí tuệ. Năm điều của giới đức nêu trên lấy từ kinh khác, kinh AN 8.36 chỉ nêu tên mà không định nghĩa. Theo cách đọc của người viết, không phải câu trong kinh, ba căn bản này bao quát cả việc làm bên ngoài và việc rèn luyện bên trong.
Kinh phân biệt các trường hợp theo quy mô thực hành. Người làm phước do bố thí và do giới đức trên quy mô nhỏ được sanh làm người không may mắn. Người làm trên quy mô vừa được sanh làm người có may mắn. Người làm trên quy mô to lớn được sanh cộng trú với chư Thiên ở các tầng trời: Bốn thiên vương, Tam thập Tam thiên, Yàma (Dạ-ma) thiên, Tusità (Đâu-suất) thiên, Hóa lạc thiên và Tha hóa tự tại thiên. Ở mỗi tầng trời, kinh còn nêu vị Thiên chủ hay Thiên tử vượt qua chư Thiên ở tầng ấy trên mười điểm, từ tuổi thọ đến thiên sắc, thiên hương, thiên vị và thiên xúc.
Chú thích của người biên soạn: bản dịch của Hòa thượng Thích Minh Châu ở đoạn 2.1 khác Pāli và bản Anh; theo Pāli thì người ấy chưa đạt được căn bản làm phước do tu tập, và lời bài viết giữ đúng ý này, không sửa lời bản dịch. Chú thích của người biên soạn: bản dịch của Hòa thượng Thích Minh Châu ở đoạn 4.1 đến 5.5 ghi lặp và nhầm tên cõi so với Pāli 4.1 đến 4.4; theo Pāli đoạn 4 là cõi Bốn thiên vương, đoạn 5 là Tam thập Tam thiên.
Ví dụ của người viết, không phải chuyện trong kinh: chú Khải mỗi tháng trích một phần thu nhập giúp đỡ người khó khăn, giữ gìn năm giới trong đời sống hằng ngày và dành thời gian buổi sáng ngồi yên để biết rõ hơi thở.
Một điểm đáng chú ý là trong mọi trường hợp kinh nêu, người ấy đều chưa đạt được căn bản làm phước do tu tập. Theo cách đọc của người viết, không phải câu trong kinh, kinh vì vậy đặt bố thí và giới đức đi cùng nhau làm nền tảng, và nêu tên tu tập như căn bản thứ ba mà bài kinh này chưa trình bày trường hợp đạt được. Người đọc không nên tự thêm một trường hợp đạt được tu tập vào bài kinh, mà nên đọc tiếp các kinh khác để hiểu phần tu tập.
Bố thí, giới đức và tu tập là ba căn bản làm phước, và quy mô thực hành theo đó dẫn đến các cảnh giới khác nhau.
Viết bởi Diệu Hạnh
Nguồn trích dẫn
- Tăng Chi Bộ 8.36 (Puññakiriyavatthu Sutta). Bản Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka, AN 8.36 trên SuttaCentral.
- Bản tiếng Anh: Bhikkhu Sujato dịch, SuttaCentral, phát hành theo giấy phép CC0.
- Bản tiếng Việt: HT. Thích Minh Châu dịch (bản trên SuttaCentral). Bản dịch tiếng Việt của HT. Thích Minh Châu, trích đăng để phụng sự Pháp thí; nếu chủ sở hữu bản quyền có yêu cầu, xin liên hệ 0902 332 970 để điều chỉnh.