Kinh Bậc Ẩn Sĩ
Muni Sutta
Còn gọi là: Kinh Mâu Ni, Kinh Tập 1.12
Mười lăm bài kệ phác họa một con người: không bám nhà cửa, không dao động trước khen chê, ngay thẳng như thoi dệt. Bài kinh cũng nói thẳng khoảng cách giữa đời sống tại gia và đời sống của bậc Mâu-ni.
Trước khi đọc kinh
Kinh Bậc Ẩn Sĩ (Muni Sutta) là bài kinh cuối cùng của phẩm Rắn (Uragavagga), khép lại phẩm đầu của Kinh Tập. Chữ muni chỉ người tĩnh lặng, bậc hiền giả đã điều phục thân, khẩu, ý; người Việt quen với chữ này qua danh hiệu Thích-ca Mâu-ni. Tên kinh được dịch là Bậc Ẩn Sĩ cho dễ hiểu; trong lời kinh, muni được giữ là “bậc Mâu-ni”, như ở các kinh khác của Kinh Tập. Bài kệ đầu: từ thân thiết sinh ra sợ hãi, từ nhà cửa sinh ra bụi bặm; không nhà cửa, không thân thiết, đó là cái thấy của bậc Mâu-ni (kệ 1.1–1.4). Theo chú giải Kinh Tập (Paramatthajotikā), các bài kệ của kinh không được nói trong cùng một dịp. Bốn bài kệ đầu được nói sau chuyện một người mẹ và người con trai cùng xuất gia, gặp nhau mãi thành quá thân, rồi phạm giới và hoàn tục; chú giải giải “thân thiết” ở đây là sự gắn bó do ái và kiến. Bậc Mâu-ni đã chặt bỏ cái đã mọc, không vun bón cái đang mọc (kệ 2.1–2.4), không tưới thêm nước cho hạt giống nảy mầm (kệ 3.1–3.4), không mong cầu một chốn tái sinh nào, như người đã đến bờ bên kia thì không còn phải gắng sức bơi (kệ 4.1–4.4).
Từ kệ 5 đến kệ 13, mỗi bài đều khép bằng câu: người trí biết vị ấy là bậc Mâu-ni. Chú giải kể duyên của từng bài. Kệ 5 Đức Phật nói về chính Ngài, liên quan đến du sĩ Upaka, người đã gặp Ngài trên đường đến Ba-la-nại (Bārāṇasī) sau khi thành đạo. Kệ 6 nói về Ngài Ly-bà-đa (Revata), khi có vị Tỷ-kheo cho rằng Ngài chỉ lo xây cất. Kệ 7, với hình ảnh sư tử không giật mình trước tiếng động, gió không mắc vào lưới, hoa sen không dính nước (kệ 7.3–7.5), được nói với vua cha Tịnh Phạn (Suddhodana) ở Ca-tỳ-la-vệ (Kapilavatthu), khi vua hỏi vì sao Ngài bỏ vải lụa thơm mà mặc y phấn tảo. Kệ 9 được nói cho một cô gái nhà trưởng giả ở Xá-vệ (Sāvatthī), thấy thoi dệt thẳng mà ước mọi người đều ngay thẳng như vậy. Kệ 14 so sánh người tại gia nuôi vợ con với vị không còn chấp “của ta” (kệ 14.1–14.4); theo chú giải, đó là khi dân làng nghi một vị Tỷ-kheo ở rừng mách chỗ thú cho người thợ săn vì ông này hay dâng thịt cho vị ấy, và Đức Phật nói hai người sống cách xa nhau như vậy. Kệ cuối ví người tại gia với con công không bao giờ bay kịp thiên nga (kệ 15.1–15.4); chú giải kể khi dòng Thích-ca bàn rằng vị Tỷ-kheo chứng Nhập lưu sau nên đảnh lễ người tại gia chứng Nhập lưu trước, Đức Phật dạy rằng dù người tại gia đã chứng Bất lai cũng nên đảnh lễ một chú Sa-di mới xuất gia trong ngày.
Hiểu đúng: bài kinh không chê người tại gia, mà nói rõ hai lối sống khác nhau, như đã nói trong Kinh Tê Giác Một Sừng (Snp 1.3). Người tại gia vẫn có thể học từng nét của bậc Mâu-ni. Không dao động trước khen chê là bài học của tám pháp thế gian (AN 8.6). Nhận phần đầu nồi hay phần cuối nồi mà không khen cũng không chê (kệ 11.1–11.4) là một cách ăn uống ai cũng tập được. Ngay thẳng như thoi dệt là điều bạn có thể giữ trong công việc hôm nay. Bạn thử chọn một hình ảnh trong kệ 7, sư tử, gió hay hoa sen, mang theo suốt một ngày, và nhớ đến nó khi nghe một lời khen hay một lời chê.
Ý chính
- Từ thân thiết sinh ra sợ hãi, từ nhà cửa sinh ra bụi bặm (1.1–1.4).
- Đã hiểu rõ mọi chốn tái sinh, không mong cầu chốn nào, không còn phải gắng sức bơi (4.1–4.4).
- Không dao động trước khen chê, như sư tử, như gió, như hoa sen (7.1–7.7).
- Ngay thẳng như thoi dệt, nhàm chán những việc làm xấu ác (9.1–9.4).
- Nhận vật thực đầu nồi hay cuối nồi, không khen cũng không chê (11.1–11.4).
- Như công không theo kịp thiên nga, người tại gia không sánh được bậc Mâu-ni tọa thiền trong rừng (15.1–15.4).
Thuật ngữ Pāli trong kinh
- muni
- bậc Mâu-ni (tên kinh dịch là bậc ẩn sĩ): người tĩnh lặng, đã điều phục thân, khẩu, ý
- santhava
- sự thân thiết, gắn bó; theo chú giải là do ái và kiến
- niketa
- nhà cửa, chỗ bám víu
- mahesi
- bậc đại hiền
- nindāpasaṁsā
- lời chê và lời khen
- tasara
- thoi dệt
- paradattūpajīvī
- người sống nhờ của người khác cho, tức người xuất gia
- amama
- không chấp “của ta”
Kinh Bậc Ẩn Sĩ
1Thân mật, sanh sợ hãi,
Trú xứ, sanh bụi bặm,
Không trú xứ, không thân,
Hình ảnh bậc ẩn sĩ.Santhavāto bhayaṁ jātaṁ, niketā jāyate rajo; Aniketamasanthavaṁ, etaṁ ve munidassanaṁ.Peril stems from intimacy, dust comes from an abode. Freedom from abode and intimacy: that is the sage’s vision.
2Ai đã chặt sanh hữu,
Không còn gieo giống thêm,
Sanh hữu đã đoạn tận,
Không muốn nó tùy sanh,
Được gọi là ẩn sĩ,
Một mình đi im lặng,
Bậc đại sĩ đã thấy,
Con đường tịch tịnh ấy.Yo jātamucchijja na ropayeyya, Jāyantamassa nānuppavecche; Tamāhu ekaṁ muninaṁ carantaṁ, Addakkhi so santipadaṁ mahesi.Having cut down what’s grown, they wouldn’t replant, nor would they nurture what’s growing. That’s who they call a sage wandering alone, the great seer has seen the state of peace.
3Sau khi ước lượng đất,
Tìm hiểu được hột giống,
Không còn muốn tham ái,
Được tiếp tục tùy sanh,
Vị ấy chân ẩn sĩ,
Thấy sanh diệt chấm dứt,
Đoạn tận mọi lý luận,
Không rơi vào tính toán.Saṅkhāya vatthūni pamāya bījaṁ, Sinehamassa nānuppavecche; Sa ve munī jātikhayantadassī, Takkaṁ pahāya na upeti saṅkhaṁ.Having appraised the fields and measured the seeds, they wouldn’t nurture them with moisture. Truly that sage who sees the ending of rebirth has left speculation behind and is beyond reckoning.
4Đã rõ mọi trú xứ,
Không ham trú xứ nào,
Vị ấy chân ẩn sĩ,
Không tham, không say đắm.
Không còn phải ra sức,
Đã đạt bờ bên kia.Aññāya sabbāni nivesanāni, Anikāmayaṁ aññatarampi tesaṁ; Sa ve munī vītagedho agiddho, Nāyūhatī pāragato hi hoti.Understanding all the planes of rebirth, not wanting a single one of them; truly that sage freed of greed need not swim, for they have reached the far shore.
5–6Bậc chiến thắng toàn diện,
Bậc toàn tri, thiện tuệ,
Đối với tất cả pháp,
Không còn bị ô nhiễm.
Bậc từ bỏ tất cả,
Ái đoạn diệt, giải thoát.
Các bậc trí nhận thức,
Vị ấy thật ẩn sĩ.
Vị có trí tuệ lực,
Giới cấm được đầy đủ,
Định tĩnh, thích thiền định,
Gìn giữ trì chánh niệm,
Giải thoát các trói buộc,
Không hoang vu, lậu tận,
Các bậc trí nhận thức,
Vị ấy thật ẩn sĩ.Sabbābhibhuṁ sabbaviduṁ sumedhaṁ, Sabbesu dhammesu anūpalittaṁ; Sabbañjahaṁ taṇhakkhaye vimuttaṁ, Taṁ vāpi dhīrā muni vedayanti. Paññābalaṁ sīlavatūpapannaṁ, Samāhitaṁ jhānarataṁ satīmaṁ; Saṅgā pamuttaṁ akhilaṁ anāsavaṁ, Taṁ vāpi dhīrā muni vedayanti.The vanquisher of all, knower of all, so very intelligent, unsullied in the midst of all things, has given up all, freed in the ending of craving: that’s who the attentive know as a sage. Strong in wisdom, with precepts and observances intact, serene, loving absorption, mindful, released from chains, kind, undefiled: that’s who the attentive know as a sage.
7Bộ hành, riêng một mình,
ẩn sĩ, không phóng dật,
Trước chê bai, tán thán,
Không có bị dao động.
Như sư tử, không sợ,
Giữa các tiếng vang động.
Như gió không vướng lưới,
Như son không dính nước,
Bậc lãnh đạo mọi người,
Người không ai lãnh đạo.
Các bậc trí nhận thức,
Vị ấy thật ẩn sĩ.Ekaṁ carantaṁ munimappamattaṁ, Nindāpasaṁsāsu avedhamānaṁ; Sīhaṁva saddesu asantasantaṁ, Vātaṁva jālamhi asajjamānaṁ; Padmaṁva toyena alippamānaṁ, Netāramaññesamanaññaneyyaṁ; Taṁ vāpi dhīrā muni vedayanti.The diligent sage wandering alone, is unshaken by blame and praise— like a lion not startled by sounds, like wind not caught in a net, like water not sticking to a lotus. Leader of others, not by others led: that’s who the attentive know as a sage.
8Vị nào biết xử sự,
Như cột trụ hồ tắm,
Khi người khác nói lời,
Lời khen chê cực đoạn,
Vị không có tham ái,
Với căn khéo định tĩnh,
Các bậc trí nhận thức,
Vị ấy thật ẩn sĩ.Yo ogahaṇe thambhorivābhijāyati, Yasmiṁ pare vācāpariyantaṁ vadanti; Taṁ vītarāgaṁ susamāhitindriyaṁ, Taṁ vāpi dhīrā muni vedayanti.Steady as a post in a bathing-place when others speak endlessly against them, freed of greed, with senses stilled: that’s who the attentive know as a sage.
9Ai thật tự mình đứng
Thẳng như cây thoi đưa,
Nhàm chán các nghiệp ác,
Quán sát chánh, bất chánh,
Các bậc trí nhận thức,
Vị ấy thật ẩn sĩ.Yo ve ṭhitatto tasaraṁva ujju, Jigucchati kammehi pāpakehi; Vīmaṁsamāno visamaṁ samañca, Taṁ vāpi dhīrā muni vedayanti.Steadfast, straight as a spindle, horrified by wicked deeds, discerning the just and the unjust: that’s who the attentive know as a sage.
10Ai biết tự chế ngự,
Không làm các điều ác,
Trẻ và hạng trung niên,
Bậc ẩn sĩ chế ngự,
Vị không nên chọc giận,
Vì không làm ai giận,
Các bậc trí nhận thức,
Vị ấy thật ẩn sĩ.Yo saññatatto na karoti pāpaṁ, Daharo majjhimo ca muni yatatto; Arosaneyyo na so roseti kañci, Taṁ vāpi dhīrā muni vedayanti.Restrained, they do no evil, young or middle-aged, the sage is self-controlled. Irreproachable, he does not insult anyone: that’s who the attentive know as a sage.
11Ai sống nhờ người cho,
Nhận lãnh đồ khất thực,
Nhận từ trên, từ giữa,
Hay từ chỗ còn lại,
Không đủ để tán thán,
Không nói lời hạ mình,
Các bậc trí nhận thức,
Vị ấy thật ẩn sĩ.Yadaggato majjhato sesato vā, Piṇḍaṁ labhetha paradattūpajīvī; Nālaṁ thutuṁ nopi nipaccavādī, Taṁ vāpi dhīrā muni vedayanti.When one who lives on charity receives alms, from the top, the middle, or the leftovers, they think it unworthy to praise or put down: that’s who the attentive know as a sage.
12Sống thụ hạnh ẩn sĩ,
Từ bỏ sự dâm dục,
Ai lúc còn tuổi trẻ,
Không bị trói buộc gì,
Từ bỏ mạn, phóng dật,
Được hoàn toàn giải thoát,
Các bậc trí nhận thức,
Vị ấy thật ẩn sĩ.Muniṁ carantaṁ virataṁ methunasmā, Yo yobbane nopanibajjhate kvaci; Madappamādā virataṁ vippamuttaṁ, Taṁ vāpi dhīrā muni vedayanti.The sage lives refraining from sex, even when young is not tied down, refraining from indulgence and negligence, freed: that’s who the attentive know as a sage.
13Rõ biết được thế giới,
Thấy được lý chân đế,
Vượt khỏi được bộc lưu,
Vượt biển lớn như vậy.
Vị chặt đứt trói buộc,
Không ỷ lại, vô lậu.
Các bậc trí nhận thức,
Vị ấy thật ẩn sĩ.Aññāya lokaṁ paramatthadassiṁ, Oghaṁ samuddaṁ atitariya tādiṁ; Taṁ chinnaganthaṁ asitaṁ anāsavaṁ, Taṁ vāpi dhīrā muni vedayanti.Understanding the world, the seer of the ultimate goal, the unaffected one, having crossed the flood and the ocean, has cut the ties, unattached and undefiled: that’s who the attentive know as a sage.
14Hai nếp sống không giống.
An trú, thật xa nhau,
Gia chủ, có vợ con,
Không ngã sở, khéo nhiếp,
Gia chủ không chế ngự,
Ngăn chận hữu tình khác,
Bậc ẩn sĩ luôn luôn,
Che chở loài hữu tình.Asamā ubho dūravihāravuttino, Gihī dāraposī amamo ca subbato; Parapāṇarodhāya gihī asaññato, Niccaṁ munī rakkhati pāṇine yato.The two are not the same, far apart in lifestyle and conduct— the householder providing for a wife, and the selfless one true to their vows. The unrestrained householder kills other creatures, while the restrained sage always protects living creatures.
15–17Giống như loại chim công,
Loại chim có cổ xanh,
Không bao giờ sánh bằng
Chim thiên nga nhanh nhẹn.
Cũng vậy, người gia chủ,
Không sánh bằng Tỷ-kheo,
Bậc ẩn sĩ viễn ly,
Sống thiền định trong rừng.Sikhī yathā nīlagīvo vihaṅgamo, Haṁsassa nopeti javaṁ kudācanaṁ; Evaṁ gihī nānukaroti bhikkhuno, Munino vivittassa vanamhi jhāyatoti. Munisuttaṁ dvādasamaṁ. Uragavaggo paṭhamo. Tassuddānaṁ Urago dhaniyo ceva, visāṇañca tathā kasi; Cundo parābhavo ceva, vasalo mettabhāvanā. Sātāgiro āḷavako, Vijayo ca tathā muni; Dvādasetāni suttāni, Uragavaggoti vuccatīti.As the crested blue-necked peacock flying through the sky never approaches the speed of the swan, so the householder cannot compete with the mendicant, the sage meditating secluded in the woods.
Viết bởi Chánh Tín
Nguồn trích dẫn
- Kinh Tập 1.12 (Muni Sutta). Bản Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka, Snp 1.12 trên SuttaCentral.
- Bản tiếng Anh: Bhikkhu Sujato dịch, SuttaCentral, phát hành theo giấy phép CC0.
- Bản tiếng Việt: HT. Thích Minh Châu dịch (Đại Tạng Kinh Việt Nam, Tiểu Bộ Kinh tập I; bản trên BuddhaSasana, budsas.org). Bản dịch tiếng Việt của HT. Thích Minh Châu, trích đăng để phụng sự Pháp thí; nếu chủ sở hữu bản quyền có yêu cầu, xin liên hệ 0902 332 970 để điều chỉnh.