Kinh Tập 1.1 · Snp 1.1

Kinh Con Rắn

Uraga Sutta

Còn gọi là: Kinh Rắn, Kinh Tập 1.1

Mười bảy bài kệ, mỗi bài kết bằng một hình ảnh: như con rắn trút bỏ lớp xác già đã sờn, người tu rời bỏ cả bờ gần lẫn bờ xa.

Trước khi đọc kinh

Kinh Con Rắn (Uraga Sutta) là bài kinh đầu tiên của Kinh Tập (Sutta Nipāta), một trong những tập kinh được nhiều học giả xem là có lớp văn xưa trong Tiểu Bộ. Bài kinh gồm mười bảy bài kệ, mỗi bài nêu một điều cần buông bỏ, và tất cả cùng khép lại bằng một điệp khúc: vị Tỷ-kheo ấy rời bỏ cả bờ gần lẫn bờ xa, như con rắn trút bỏ lớp xác già đã sờn (kệ 1). Con rắn không xé lớp da cũ, cũng không nuối tiếc nó. Đến lúc, lớp da tự tuột ra và con rắn trườn đi. Đó là hình ảnh của sự buông bỏ tự nhiên khi tâm đã chín.

Năm bài kệ đầu mỗi bài một hình ảnh đời thường. Chế ngự cơn giận vừa bùng lên như dùng thảo dược chặn nọc rắn đang loang (kệ 1). Cắt lìa tham dục như người lội xuống hồ bẻ đóa sen (kệ 2). Cắt lìa khát ái như làm cạn khô dòng sông chảy xiết (kệ 3). Phá tan ngã mạn như lũ lớn cuốn phăng chiếc cầu lau mỏng manh (kệ 4). Và không tìm thấy lõi bền chắc trong bất cứ cõi hữu nào, như người đi tìm hoa trên cây sung, loài cây không trổ hoa ra ngoài (kệ 5).

Các bài kệ sau đi vào chiều sâu của tâm: không còn giận hờn bên trong, vượt qua hữu này hữu khác (kệ 6); các tầm đã được đốt sạch (kệ 7); không chạy vượt quá, cũng không chạy lùi, đã đi quá khỏi mọi hý luận (kệ 8). Năm bài kệ liền nhau lặp lại một hiểu biết: mọi thứ ở đời đều không thật như vẻ ngoài, và nhờ thấy vậy mà lìa tham, lìa sân, lìa si (kệ 9–13). Phần cuối nói về những gốc rễ sâu nhất: không còn tùy miên, các gốc bất thiện đã nhổ sạch (kệ 14), không còn gì trói buộc vào đời sống mới (kệ 16), đã bỏ năm triền cái, vượt qua nghi ngờ, không còn mũi tên (kệ 17).

Ý chính

  • Chế ngự cơn giận vừa bùng lên như thảo dược chặn nọc rắn (kệ 1).
  • Cắt lìa tham dục, khát ái, phá tan ngã mạn (kệ 2–4).
  • Không tìm thấy lõi bền chắc trong các cõi hữu, như tìm hoa trên cây sung (kệ 5).
  • Không chạy vượt quá, cũng không chạy lùi, đi quá khỏi mọi hý luận (kệ 8).
  • Biết mọi thứ đều không thật như vẻ ngoài, nên lìa tham, sân, si (kệ 9–13).
  • Bỏ năm triền cái, vượt nghi ngờ, không còn mũi tên (kệ 17).
Thuật ngữ Pāli trong kinh
uraga
con rắn
orapāra
bờ gần và bờ xa
kodha
cơn giận
māna
ngã mạn
papañca
hý luận, sự sinh sôi của ý niệm
vitatha
không thật, không như vẻ ngoài
anusaya
tùy miên: khuynh hướng ngủ ngầm
nīvaraṇa
triền cái: chướng ngại của tâm

Kinh Con Rắn

1Ai nhiếp phục phẫn nộ
Đang được dấy khởi lên,
Như dùng chất linh dược,
Ngăn độc rắn lan rộng
Tỷ-kheo ấy từ bỏ,
Bờ này và bờ kia,
Như loài rắn thoát bỏ
Da rắn cũ già xưa.
Yo uppatitaṁ vineti kodhaṁ, Visaṭaṁ sappavisaṁva osadhehi; So bhikkhu jahāti orapāraṁ, Urago jiṇṇamivattacaṁ purāṇaṁ.When anger surges, they drive it out, as with medicine a cobra’s spreading venom. Such a mendicant sheds the near shore and the far, as a serpent its old worn-out skin.

2Ái cắt đứt tham dục,
Không còn chút dư tàn,
Như kẻ hái hoa sen
Sanh ra từ ao hồ.
Tỷ-kheo ấy từ bỏ,
Bờ này và bờ kia,
Như loài rắn thoát bỏ
Da rắn cũ già xưa.
Yo rāgamudacchidā asesaṁ, Bhisapupphaṁva saroruhaṁ vigayha; So bhikkhu jahāti orapāraṁ, Urago jiṇṇamivattacaṁ purāṇaṁ.They’ve cut off greed entirely, like a lotus plucked flower and stalk. Such a mendicant sheds the near shore and the far, as a serpent its old worn-out skin.

3Ai cắt đứt tham ái,
Không còn chút dư tàn,
Làm cho nước cạn khô,
Dòng nước chảy nhanh mạnh
Tỷ-kheo ấy từ bỏ,
Bờ này và bờ kia,
Như loài rắn thoát bỏ
Da rắn cũ già xưa.
Yo taṇhamudacchidā asesaṁ, Saritaṁ sīghasaraṁ visosayitvā; So bhikkhu jahāti orapāraṁ, Urago jiṇṇamivattacaṁ purāṇaṁ.They’ve cut off craving entirely, drying up that swift-flowing stream. Such a mendicant sheds the near shore and the far, as a serpent its old worn-out skin.

4Ai phá hoại kiêu mạn
Không còn chút dư tàn,
Như nước mạnh tàn phá
Cây cỏ lau yếu hèn,
Tỷ-kheo ấy từ bỏ,
Bờ này và bờ kia,
Như loài rắn thoát bỏ
Da rắn cũ già xưa.
Yo mānamudabbadhī asesaṁ, Naḷasetuṁva sudubbalaṁ mahogho; So bhikkhu jahāti orapāraṁ, Urago jiṇṇamivattacaṁ purāṇaṁ.They’ve swept away conceit entirely, as a fragile bridge of reeds by a great flood. Such a mendicant sheds the near shore and the far, as a serpent its old worn-out skin.

5–6Ai trong các sanh hữu,
Không tìm thấy lõi cây,
Như kẻ đi hái hoa,
Trên cây sung không hoa.
Tỷ-kheo ấy từ bỏ,
Bờ này và bờ kia,
Như loài rắn thoát bỏ
Da rắn cũ già xưa.

Với ai trong nội tâm,
Không còn có phẫn hận,
Đã vượt thoát ra khỏi,
Cả hữu và phi hữu.
Tỷ-kheo ấy từ bỏ,
Bờ này và bờ kia,
Như loài rắn thoát bỏ
Da rắn cũ già xưa.
Yo nājjhagamā bhavesu sāraṁ, Vicinaṁ pupphamivā udumbaresu; So bhikkhu jahāti orapāraṁ, Urago jiṇṇamivattacaṁ purāṇaṁ. Yassantarato na santi kopā, Itibhavābhavatañca vītivatto; So bhikkhu jahāti orapāraṁ, Urago jiṇṇamivattacaṁ purāṇaṁ.In future lives they find no worth, as an inspector of fig trees finds no flower. Such a mendicant sheds the near shore and the far, as a serpent its old worn-out skin. They hide no anger within, passed beyond any kind of existence. Such a mendicant sheds the near shore and the far, as a serpent its old worn-out skin.

7Với ai những tầm tư,
Được làm cho tan biến
Nội tâm khéo sửa soạn,
Không còn chút dư tàn.
Tỷ-kheo ấy từ bỏ,
Bờ này và bờ kia,
Như loài rắn thoát bỏ
Da rắn cũ già xưa.
Yassa vitakkā vidhūpitā, Ajjhattaṁ suvikappitā asesā; So bhikkhu jahāti orapāraṁ, Urago jiṇṇamivattacaṁ purāṇaṁ.Their mental vibrations are cleared away, internally clipped off entirely. Such a mendicant sheds the near shore and the far, as a serpent its old worn-out skin.

8Ai không đi quá trớn,
Cũng không quá chậm trễ,
Đã nhiếp phục toàn diện,
Hý luận chướng ngại này.
Tỷ-kheo ấy từ bỏ,
Bờ này và bờ kia,
Như loài rắn thoát bỏ
Da rắn cũ già xưa.
Yo nāccasārī na paccasārī, Sabbaṁ accagamā imaṁ papañcaṁ; So bhikkhu jahāti orapāraṁ, Urago jiṇṇamivattacaṁ purāṇaṁ.They have not run too far nor run back, but have gone beyond all this proliferation. Such a mendicant sheds the near shore and the far, as a serpent its old worn-out skin.

9Ai không đi quá trớn,
Cũng không quá chậm trễ,
Biết rõ được ở đời,
Sự này toàn hư vọng.
Tỷ-kheo ấy từ bỏ,
Bờ này và bờ kia,
Như loài rắn thoát bỏ
Da rắn cũ già xưa.
Yo nāccasārī na paccasārī, Sabbaṁ vitathamidanti ñatva loke; So bhikkhu jahāti orapāraṁ, Urago jiṇṇamivattacaṁ purāṇaṁ.They have not run too far nor run back, for they know that nothing in the world is what it seems. Such a mendicant sheds the near shore and the far, as a serpent its old worn-out skin.

10Ai không đi quá trớn,
Cũng không quá chậm trễ,
Từ bỏ, không có tham,
Sự này toàn hư vọng.
Tỷ-kheo ấy từ bỏ,
Bờ này và bờ kia,
Như loài rắn thoát bỏ
Da rắn cũ già xưa.
Yo nāccasārī na paccasārī, Sabbaṁ vitathamidanti vītalobho; So bhikkhu jahāti orapāraṁ, Urago jiṇṇamivattacaṁ purāṇaṁ.They have not run too far nor run back, knowing nothing is what it seems, free of greed. Such a mendicant sheds the near shore and the far, as a serpent its old worn-out skin.

11Ai không đi quá trớn,
Cũng không quá chậm trễ,
Từ bỏ, không tham dục,
Sự này toàn hư vọng.
Tỷ-kheo ấy từ bỏ,
Bờ này và bờ kia,
Như loài rắn thoát bỏ
Da rắn cũ già xưa.
Yo nāccasārī na paccasārī, Sabbaṁ vitathamidanti vītarāgo; So bhikkhu jahāti orapāraṁ, Urago jiṇṇamivattacaṁ purāṇaṁ.They have not run too far nor run back, knowing nothing is what it seems, free of lust. Such a mendicant sheds the near shore and the far, as a serpent its old worn-out skin.

12Ai không đi quá trớn,
Cũng không quá chậm trễ,
Từ bỏ, ly sân hận,
Sự này toàn hư vọng.
Tỷ-kheo ấy từ bỏ,
Bờ này và bờ kia,
Như loài rắn thoát bỏ
Da rắn cũ già xưa.
Yo nāccasārī na paccasārī, Sabbaṁ vitathamidanti vītadoso; So bhikkhu jahāti orapāraṁ, Urago jiṇṇamivattacaṁ purāṇaṁ.They have not run too far nor run back, knowing nothing is what it seems, free of hate. Such a mendicant sheds the near shore and the far, as a serpent its old worn-out skin.

13Ai không đi quá trớn,
Cũng không quá chậm trễ,
Từ bỏ, ly si ám,
Sự này toàn hư vọng.
Tỷ-kheo ấy từ bỏ,
Bờ này và bờ kia,
Như loài rắn thoát bỏ
Da rắn cũ già xưa.
Yo nāccasārī na paccasārī, Sabbaṁ vitathamidanti vītamoho; So bhikkhu jahāti orapāraṁ, Urago jiṇṇamivattacaṁ purāṇaṁ.They have not run too far nor run back, knowing nothing is what it seems, free of delusion. Such a mendicant sheds the near shore and the far, as a serpent its old worn-out skin.

14Với ai, các tùy miên,
Hoàn toàn không hiện hữu,
Các nguồn gốc bất thiện
Được nhổ lên trừ sạch.
Tỷ-kheo ấy từ bỏ,
Bờ này và bờ kia,
Như loài rắn thoát bỏ
Da rắn cũ già xưa.
Yassānusayā na santi keci, Mūlā ca akusalā samūhatāse; So bhikkhu jahāti orapāraṁ, Urago jiṇṇamivattacaṁ purāṇaṁ.They have no underlying tendencies at all, and are rid of unskillful roots, Such a mendicant sheds the near shore and the far, as a serpent its old worn-out skin.

15Với ai, không có gì,
Do phiền não sanh khởi,
Làm duyên trở lui lại,
Về lại bờ bên này.
Tỷ-kheo ấy từ bỏ,
Bờ này và bờ kia,
Như loài rắn thoát bỏ
Da rắn cũ già xưa.
Yassa darathajā na santi keci, Oraṁ āgamanāya paccayāse; So bhikkhu jahāti orapāraṁ, Urago jiṇṇamivattacaṁ purāṇaṁ.They have nothing born of distress at all to make them to return to the near shore. Such a mendicant sheds the near shore and the far, as a serpent its old worn-out skin.

16Với ai, không có gì,
Do rừng ái sanh khởi,
Tạo nhân khiến trói buộc
Con người vào tái sanh.
Tỷ-kheo ấy từ bỏ,
Bờ này và bờ kia,
Như loài rắn thoát bỏ
Da rắn cũ già xưa.
Yassa vanathajā na santi keci, Vinibandhāya bhavāya hetukappā; So bhikkhu jahāti orapāraṁ, Urago jiṇṇamivattacaṁ purāṇaṁ.No snarl grows in them at all, that would shackle them to a new life. Such a mendicant sheds the near shore and the far, as a serpent its old worn-out skin.

17Ai đoạn năm triền cái,
Không sầu khổ bực phiền,
Vượt qua được nghi hoặc,
Thoát mũi tên phiền não.
Tỷ-kheo ấy từ bỏ,
Bờ này và bờ kia,
Như loài rắn thoát bỏ
Da rắn cũ già xưa.
Yo nīvaraṇe pahāya pañca, Anigho tiṇṇakathaṅkatho visallo; So bhikkhu jahāti orapāraṁ, Urago jiṇṇamivattacaṁ purāṇanti.They’ve given up the five hindrances, untroubled, rid of indecision, free of thorns. Such a mendicant sheds the near shore and the far, as a serpent its old worn-out skin.

Viết bởi Tuệ Minh

Nguồn trích dẫn

  1. Kinh Tập 1.1 (Uraga Sutta). Bản Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka, Snp 1.1 trên SuttaCentral.
  2. Bản tiếng Anh: Bhikkhu Sujato dịch, SuttaCentral, phát hành theo giấy phép CC0.
  3. Bản tiếng Việt: HT. Thích Minh Châu dịch (Đại Tạng Kinh Việt Nam, Tiểu Bộ Kinh tập I; bản trên BuddhaSasana, budsas.org). Bản dịch tiếng Việt của HT. Thích Minh Châu, trích đăng để phụng sự Pháp thí; nếu chủ sở hữu bản quyền có yêu cầu, xin liên hệ 0902 332 970 để điều chỉnh.

Đọc tiếp