Kinh Bāhiya
Bāhiya Sutta
Còn gọi là: Kinh Bahiya
Một người tu khổ hạnh đi suốt đêm ngày để gặp Đức Phật, xin nghe Pháp ngay giữa đường khất thực, và giải thoát chỉ sau vài câu dạy về thấy, nghe, cảm nhận, nhận biết.
Trước khi đọc kinh
Kinh Bāhiya (Bāhiya Sutta) là bài cuối của phẩm Giác Ngộ trong Kinh Phật Tự Thuyết (Udāna), tập kinh gom những lời cảm hứng Đức Phật thốt lên trong các dịp đặc biệt. Nhân vật chính là Bāhiya Dārucīriya, nghĩa là “Bāhiya mặc áo vỏ cây”, sống ở Suppāraka bên bờ biển, được nhiều người kính trọng và cúng dường (đoạn 1.3). Theo chú giải Phật Tự Thuyết (Paramatthadīpanī), ông vốn là một thương nhân; thuyền bị đắm giữa biển, ông bám vào một tấm ván dạt vào bờ, không còn manh áo, phải lấy vỏ cây kết lại che thân, rồi được dân chúng cúng dường vì tưởng ông là bậc A-la-hán. Kinh chỉ kể rằng một hôm ông tự nghĩ mình là bậc A-la-hán, và một vị thiên vốn là bà con từ đời trước đến nói thẳng: ông chưa phải, cũng chưa có con đường để thành; bậc A-la-hán đang ở thành Xá-vệ (Sāvatthī) phương bắc (đoạn 1.4–3.4).
Bāhiya lên đường ngay, mỗi nơi chỉ nghỉ một đêm, đến tinh xá Kỳ Viên (Jetavana) của ông Cấp Cô Độc (Anāthapiṇḍika) thì Đức Phật đã vào thành khất thực (đoạn 4.1–4.7). Ông vội vào thành, gặp Ngài giữa đường, cúi lạy xin nghe Pháp. Đức Phật hai lần bảo chưa phải lúc; Bāhiya thưa rằng không ai biết được hiểm nguy nào có thể cắt ngang mạng sống của Đức Thế Tôn hay của chính ông (đoạn 5.1–7.4). Lần thứ ba, Ngài dạy: khi thấy, chỉ là thấy; khi nghe, chỉ là nghe; khi cảm nhận, chỉ là cảm nhận; khi nhận biết, chỉ là nhận biết. Tập được như vậy thì ông không còn “bởi cái ấy”, không còn “ở trong cái ấy”, không ở đời này, không ở đời sau, cũng không ở khoảng giữa, và chính đó là sự chấm dứt khổ (đoạn 8.1–8.10). Ngay lúc ấy, tâm Bāhiya được giải thoát khỏi các lậu hoặc (đoạn 9.1).
Chi tiết đau lòng nằm ngay trong kinh: Đức Phật vừa đi khỏi thì một con bò mẹ đang có con nhỏ lao đến húc chết Bāhiya (đoạn 10.2). Lời ông nói về mạng sống mong manh hóa ra là sự thật. Đức Phật bảo các Tỷ-kheo hỏa táng và xây tháp cho ông, gọi ông là bạn đồng phạm hạnh, và nói rằng Bāhiya là người có trí, đã hoàn toàn tịch diệt (đoạn 11.3–12.6). Với người bận rộn hôm nay, lời dạy ngắn này rất gần: nghe một câu nói khó chịu, ta thường không dừng ở chỗ nghe, mà thêm vào “người ấy coi thường tôi”, rồi giận cả buổi. Tập dừng lại ở chỗ chỉ là nghe, dù chỉ vài giây, là bắt đầu thấy được những gì tâm tự thêm vào.
Ý chính
- Bāhiya tưởng mình đã là A-la-hán; một vị thiên thân quyến nói thẳng rằng chưa phải (1.5–2.3).
- Không ai biết hiểm nguy nào có thể cắt ngang mạng sống, nên Bāhiya xin nghe Pháp ngay (6.2).
- Khi thấy, chỉ là thấy; khi nghe, chỉ là nghe; khi cảm nhận, khi nhận biết cũng vậy (8.2).
- Không ở đời này, không ở đời sau, không ở khoảng giữa: đó là sự chấm dứt khổ (8.9–8.10).
- Nhờ bài Pháp vắn tắt, tâm Bāhiya giải thoát khỏi các lậu hoặc ngay lúc ấy (9.1).
- Bāhiya bị bò húc chết; Đức Phật nói ông là người có trí, đã hoàn toàn tịch diệt (10.2, 12.5–12.6).
Thuật ngữ Pāli trong kinh
- dārucīriya
- người mặc áo vỏ cây
- diṭṭha
- cái được thấy
- suta
- cái được nghe
- muta
- cái được cảm nhận qua mũi, lưỡi, thân
- viññāta
- cái được nhận biết bằng ý
- matta
- chỉ là, chỉ vừa đủ
- anupādāya
- không chấp thủ
- udāna
- lời cảm hứng, Phật tự thuyết
Kinh Bāhiya
1Như vầy tôi nghe:
Một thời Thế Tôn trú ở Sàvatthi, tại Jetavana, ngôi vườn ông Anàthapindika. Lúc bấy giờ, Bàhiya Daruciriya trú ở Suppàraka, trên bờ biển, được cung kính, tôn trọng đảnh lễ, cúng dường và nhận được y, đồ ăn khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh. Rồi Bàhiya Dàcuciriya khởi lên tư tưởng như sau: "Với ai là bậc A-la-hán hay đang đi trên con đường A-la-hán, ta là một trong những vị ấy ". Rồi một Thiên nhân, trước là bà con huyết thống với Bàhiya Dàruciriya, vì lòng từ mẫn, vì muốn lợi ích, với tâm của mình biết tâm tư của Bàhiya Dàruciriya, đi đến Bàhiya Dàruciriya và nói như sau:Evaṁ me sutaṁ— ekaṁ samayaṁ bhagavā sāvatthiyaṁ viharati jetavane anāthapiṇḍikassa ārāme. Tena kho pana samayena bāhiyo dārucīriyo suppārake paṭivasati samuddatīre sakkato garukato mānito pūjito apacito lābhī cīvarapiṇḍapātasenāsanagilānapaccayabhesajjaparikkhārānaṁ. Atha kho bāhiyassa dārucīriyassa rahogatassa paṭisallīnassa evaṁ cetaso parivitakko udapādi: “ye kho keci loke arahanto vā arahattamaggaṁ vā samāpannā, ahaṁ tesaṁ aññataro”ti.So I have heard. At one time the Buddha was staying near Sāvatthī in Jeta’s Grove, Anāthapiṇḍika’s monastery. Now at that time Bāhiya of the Bark Cloth was residing by Suppāraka on the ocean shore, where he was honored, respected, revered, venerated, and esteemed. And he received robes, almsfood, lodgings, and medicines and supplies for the sick. Then as he was in private retreat this thought came to his mind, “I am one of those in the world who are perfected or on the path to perfection.”
2- Này Bàhiya. Ông không phải là A-la-hán hay đang đi trên con đường A-la-hán. Ông không có đạo lộ ấy, với đạo lộ này Ông có thể trở thành A-la-hán hay đang đi trên con đường đưa đến A-la-hán.Atha kho bāhiyassa dārucīriyassa purāṇasālohitā devatā anukampikā atthakāmā bāhiyassa dārucīriyassa cetasā cetoparivitakkamaññāya yena bāhiyo dārucīriyo tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bāhiyaṁ dārucīriyaṁ etadavoca: “neva kho tvaṁ, bāhiya, arahā, nāpi arahattamaggaṁ vā samāpanno. Sāpi te paṭipadā natthi yāya tvaṁ arahā vā assa arahattamaggaṁ vā samāpanno”ti.Then a deity who was a former relative of Bāhiya, having sympathy and wanting what’s best for him, approached him and said: “Bāhiya, you’re not a perfected one, nor on the path to perfection. You don’t have the practice by which you might become a perfected one or one on the path to perfection.”
3- Nhưng ai là những vị, trong thế giới này, với thế giới chư Thiên là những vị A-la-hán hay đang đi trên con đường A-la-hán?
- Này Bàhiya, có thành phố tên là Sàvatthi trên những quốc lộ phương Bắc. Tại đấy có Thế Tôn hiện đang trú, bậc A-la-hán. Chánh Đẳng Giác. Vị ấy là bậc A-la-hán và thuyết pháp đưa đến quả A-la-hán.“Atha ke carahi sadevake loke arahanto vā arahattamaggaṁ vā samāpannā”ti? “Atthi, bāhiya, uttaresu janapadesu sāvatthī nāma nagaraṁ. Tattha so bhagavā etarahi viharati arahaṁ sammāsambuddho. So hi, bāhiya, bhagavā arahā ceva arahattāya ca dhammaṁ desetī”ti.“So who then are those in the world who are perfected or on the path to perfection?” “In the northern lands there is a city named Sāvatthī. There that Blessed One is now staying, the perfected one, the fully awakened Buddha. He is a perfected one and teaches the Dhamma for the sake of perfection.”
4Rồi Bàhiya Dàruciriya, được Thiên nhân ấy thúc dục, đi ra khỏi Sappàraka, trong suốt đường trường, chỉ nghỉ một đêm, đi đến chỗ Thế Tôn đang trú ở Sàvatthi, tại Jetavana, trong khu vườn Anàthapindika. Lúc bấy giờ nhiều Tỷ-kheo đang đi kinh hành giữa trời. Bàhiya Dàruciritya đi đến các Tỳ-kheo ấy, sau khi đến nói như sau:
- Thưa các Tôn giả, nay Thế Tôn, bậc A-la-hán Chánh Đẳng Giác ở đâu? Chúng tôi muốn được yết kiến Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác.
- Này Bàhiya, Thế Tôn đã đi vào giữa các nhà để khất thực.Atha kho bāhiyo dārucīriyo tāya devatāya saṁvejito tāvadeva suppārakamhā pakkāmi. Sabbattha ekarattiparivāsena yena sāvatthī jetavanaṁ anāthapiṇḍikassa ārāmo tenupasaṅkami. Tena kho pana samayena sambahulā bhikkhū abbhokāse caṅkamanti. Atha kho bāhiyo dārucīriyo yena te bhikkhū tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā te bhikkhū etadavoca: “kahaṁ nu kho, bhante, etarahi bhagavā viharati arahaṁ sammāsambuddho? Dassanakāmamhā mayaṁ taṁ bhagavantaṁ arahantaṁ sammāsambuddhan”ti. “Antaragharaṁ paviṭṭho kho, bāhiya, bhagavā piṇḍāyā”ti.Impelled by that deity, Bāhiya left Suppāraka right away. Sojourning no more than a single night in any place, he made his way to Anāthapiṇḍika’s monastery in the Jeta Grove at Sāvatthī. At that time several mendicants were walking mindfully in the open air. Bāhiya approached them and said, “Sirs, where is the Blessed One at present, the perfected one, the fully awakened Buddha? For I want to see him.” “He has entered an inhabited area for almsfood, Bāhiya.”
5Rồi Bàhiya Dàraciriva mau chóng ra khỏi Jetavana, đi vào Sàvatthi, và thấy Thế Tôn đang đi khất thực, khả ái, khởi lên tịnh tin, các căn an tịnh, tâm ý an tịnh, đạt được an chỉ, chế ngự tối thượng, giống như một con voi được điều phục, phòng hộ với các căn an tịnh. Thấy vậy, Bàhiya Dàruciriya liền đi đến Thế Tôn, sau khi đến, cúi đầu xuống chân Thế Tôn và bạch Thế Tôn:
- Bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy thuyết pháp cho con, Thiện Thệ hãy thuyết pháp cho con, nhờ vậy con có thể được hạnh phúc an lạc lâu dài.
Khi được nói vậy, Thế Tôn nói với Bàhiya Dàruciriya:
- Không phải thời, này Bàhiya, Ta đang khất thực.Atha kho bāhiyo dārucīriyo taramānarūpo jetavanā nikkhamitvā sāvatthiṁ pavisitvā addasa bhagavantaṁ sāvatthiyaṁ piṇḍāya carantaṁ pāsādikaṁ pasādanīyaṁ santindriyaṁ santamānasaṁ uttamadamathasamathamanuppattaṁ dantaṁ guttaṁ yatindriyaṁ nāgaṁ. Disvāna yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavato pāde sirasā nipatitvā bhagavantaṁ etadavoca: “desetu me, bhante, bhagavā dhammaṁ; desetu sugato dhammaṁ, yaṁ mamassa dīgharattaṁ hitāya sukhāyā”ti. Evaṁ vutte, bhagavā bāhiyaṁ dārucīriyaṁ etadavoca: “akālo kho tāva, bāhiya, antaragharaṁ paviṭṭhamhā piṇḍāyā”ti.Then Bāhiya rushed out of the Jeta Grove and entered Sāvatthī, where he saw the Buddha walking for alms. He was impressive and inspiring, with peaceful faculties and heart, attained to the highest self-control and serenity, like an elephant with tamed, guarded, and controlled faculties. Bāhiya went up to the Buddha, bowed down with his head to the Buddha’s feet, and said, “Sir, let the Blessed One teach me the Dhamma! Let the Holy One teach me the Dhamma! That would be for my lasting welfare and happiness.” The Buddha said this: “It’s not the time, Bāhiya, so long as I have entered an inhabited area for almsfood.”
6Lần thứ hai Bàhiya Dàruciriya Bạch Thế Tôn:
- Thật khó biết, bạch Thế Tôn, là chướng ngại cho mạng sống của Thế Tôn, hay chướng ngại cho mạng sống của con. Bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy thuyết pháp cho con. Thiện Thệ hãy thuyết pháp cho con, nhờ vậy con có thể được hạnh phúc an lạc lâu dài.Dutiyampi kho bāhiyo dārucīriyo bhagavantaṁ etadavoca: “dujjānaṁ kho panetaṁ, bhante, bhagavato vā jīvitantarāyānaṁ, mayhaṁ vā jīvitantarāyānaṁ. Desetu me, bhante, bhagavā dhammaṁ; desetu sugato dhammaṁ, yaṁ mamassa dīgharattaṁ hitāya sukhāyā”ti. Dutiyampi kho bhagavā bāhiyaṁ dārucīriyaṁ etadavoca: “akālo kho tāva, bāhiya, antaragharaṁ paviṭṭhamhā piṇḍāyā”ti.For a second time, Bāhiya said, “But you never know, sir, when life is at risk, either the Buddha’s or my own. Let the Blessed One teach me the Dhamma! Let the Holy One teach me the Dhamma! That would be for my lasting welfare and happiness.” For a second time, the Buddha said, “It’s not the time, Bāhiya, so long as I have entered an inhabited area for almsfood.”
7Lần thứ hai, Thế Tôn nói với Màhiya Dàruciriya:
- Không phải thời, này Bàhiya, Ta đang khất thực.
Lần thứ ba, Bàhiya Dàruciriya bạch Thế Tôn:
- Thật khó biết... hạnh phúc lâu dài.Tatiyampi kho bāhiyo dārucīriyo bhagavantaṁ etadavoca: “dujjānaṁ kho panetaṁ, bhante, bhagavato vā jīvitantarāyānaṁ, mayhaṁ vā jīvitantarāyānaṁ. Desetu me, bhante, bhagavā dhammaṁ; desetu sugato dhammaṁ, yaṁ mamassa dīgharattaṁ hitāya sukhāyā”ti.For a third time, Bāhiya said, “But you never know, sir, when life is at risk, either the Buddha’s or my own. Let the Blessed One teach me the Dhamma! Let the Holy One teach me the Dhamma! That would be for my lasting welfare and happiness.”
8- Vậy này Bàhiya, Ông cần phải học tập như sau: "Trong cái thấy, sẽ chỉ là cái thấy. Trong cái nghe, sẽ chỉ là cái nghe. Trong cái thọ tưởng, sẽ chỉ là cái thọ tưởng. Trong cái thức tri, sẽ chỉ là các thức tri ". Như vậy, này Bàhiya, Ông cần phải học tập. Vì rằng, này Bàhiya, nếu với Ông, trong cái thấy, sẽ chỉ là cái thấy; trong cái nghe, sẽ chỉ là cái nghe; trong cái thọ tưởng, sẽ chỉ là cái thọ tưởng; trong cái thức tri, sẽ chỉ là cái thức tri. Do vậy, này Bàhiva, ông không là chỗ ấy. Vì rằng, này Bàhiya, Ông không là đời này, không là đời sau, không là đời chặng giữa. Như vậy là đoạn tận khổ đau.“Tasmātiha te, bāhiya, evaṁ sikkhitabbaṁ: ‘diṭṭhe diṭṭhamattaṁ bhavissati, sute sutamattaṁ bhavissati, mute mutamattaṁ bhavissati, viññāte viññātamattaṁ bhavissatī’ti. Evañhi te, bāhiya, sikkhitabbaṁ. Yato kho te, bāhiya, diṭṭhe diṭṭhamattaṁ bhavissati, sute sutamattaṁ bhavissati, mute mutamattaṁ bhavissati, viññāte viññātamattaṁ bhavissati, tato tvaṁ, bāhiya, na tena. Yato tvaṁ, bāhiya, na tena; tato tvaṁ, bāhiya, na tattha. Yato tvaṁ, bāhiya, na tattha, tato tvaṁ, bāhiya, nevidha na huraṁ na ubhayamantarena. Esevanto dukkhassā”ti.“In that case, Bāhiya, you should train like this: ‘In the seen will be merely the seen; in the heard will be merely the heard; in the thought will be merely the thought; in the known will be merely the known.’ That’s how you should train. When you have trained in this way, you won’t be ‘by that’. When you’re not ‘by that’, you won’t be ‘in that’. When you’re not ‘in that’, you won’t be in this life or the next or between the two. Just this is the end of suffering.”
9–11Nhờ lời thuyết pháp tóm tắt này của Thế Tôn, tâm của Bàhiya Dàruciriya được giải thoát khỏi các lậu hoặc, không có chấp thủ. Thế Tôn sau khi thuyết cho Bàhiya Dàruciriya lời giáo giới tóm tắt này, liền ra đi. Thế Tôn ra đi không bao lâu, một con bò con húc chết Bàhiya Dàruciriya. Thế Tôn sau khi khất thực ở Sàvatthi xong, sau buổi ăn, trên con đường đi khất thực trở về, đi ra khỏi thành với nhiều Tỷ-kheo, thấy Bàhiya Dàruciriya bị chết, thấy vậy liền nói với các Tỳ-kheo:
- Này các Tỳ-kheo, hãy lấy thân xác Bàhiya Dàruciriya, đặt lên trên cái chõng, đem đi hỏa thiêu, rồi xây tháp lên trên. Này các Tỷ-kheo, một vị đồng Phạm hạnh với các Thầy đã qua đời!Atha kho bāhiyassa dārucīriyassa bhagavato imāya saṅkhittāya dhammadesanāya tāvadeva anupādāya āsavehi cittaṁ vimucci. Atha kho bhagavā bāhiyaṁ dārucīriyaṁ iminā saṅkhittena ovādena ovaditvā pakkāmi. Atha kho acirapakkantassa bhagavato bāhiyaṁ dārucīriyaṁ gāvī taruṇavacchā adhipatitvā jīvitā voropesi. Atha kho bhagavā sāvatthiyaṁ piṇḍāya caritvā pacchābhattaṁ piṇḍapātapaṭikkanto sambahulehi bhikkhūhi saddhiṁ nagaramhā nikkhamitvā addasa bāhiyaṁ dārucīriyaṁ kālaṅkataṁ; disvāna bhikkhū āmantesi: “gaṇhatha, bhikkhave, bāhiyassa dārucīriyassa sarīrakaṁ; mañcakaṁ āropetvā nīharitvā jhāpetha; thūpañcassa karotha. Sabrahmacārī vo, bhikkhave, kālaṅkato”ti.Then, due to this brief Dhamma teaching of the Buddha, Bāhiya’s mind was right away freed from defilements by not grasping. And when the Buddha had given Bāhiya this brief advice he left. But soon after the Buddha had left, a cow with a baby calf charged at Bāhiya and took his life. Then the Buddha wandered for alms in Sāvatthī. After the meal, on his return from almsround, he exited the city together with several mendicants and saw that Bāhiya had passed away. He said to the monks, “Mendicants, pick up Bāhiya’s corpse. Having lifted it onto a cot and carried it, cremate it and build a monument. Mendicants, one of your spiritual companions has passed away.”
12–13- Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
Các vị Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn, sau khi đặt xác thân của Bàhiya Dàruciriya lên trên cái chõng, đem đi hỏa thiêu, xây dựng cái tháp cho vị ấy, rồi đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, các Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:
- Bạch Thế Tôn, thân xác của Bàhiya Dàruciriya đã được hỏa thiêu, tháp đã được xây dựng xong cho vị ấy. Sanh thứ cho vị ấy là gì? Đời sau vị ấy là gì?“Evaṁ, bhante”ti kho te bhikkhū bhagavato paṭissutvā bāhiyassa dārucīriyassa sarīrakaṁ mañcakaṁ āropetvā nīharitvā jhāpetvā thūpañcassa katvā yena bhagavā tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdiṁsu. Ekamantaṁ nisinnā kho te bhikkhū bhagavantaṁ etadavocuṁ: “daḍḍhaṁ, bhante, bāhiyassa dārucīriyassa sarīraṁ, thūpo cassa kato. Tassa kā gati, ko abhisamparāyo”ti? “Paṇḍito, bhikkhave, bāhiyo dārucīriyo paccapādi dhammassānudhammaṁ; na ca maṁ dhammādhikaraṇaṁ vihesesi. Parinibbuto, bhikkhave, bāhiyo dārucīriyo”ti. Atha kho bhagavā etamatthaṁ viditvā tāyaṁ velāyaṁ imaṁ udānaṁ udānesi:“Yes, sir,” replied those mendicants. They did as the Buddha asked, then returned to the Buddha and said, “Sir, Bāhiya’s corpse has been cremated and a monument built for him. Where has he been reborn in his next life?” “Mendicants, Bāhiya was astute. He practiced in line with the teaching, and did not trouble me about the teachings. Bāhiya of the Bark Cloth has become fully quenched.” Then, understanding this matter, on that occasion the Buddha expressed this heartfelt sentiment:
14–17- Này các Tỷ-kheo, Hiền trí là Bàhiya Dàruciriya đã hành trì tùy pháp, đúng pháp và không có phiền nhiễu Ta với những tranh luận về pháp. Này các Tỷ-kheo, Bàhiya Dàruciriya đã nhập Niết Bàn.
Rồi Thế Tôn sau khi hiểu biết ý nghĩa này, ngay trong lúc ấy, nói lên lời cảm hứng này:
Chỗ nào nước và đất,
Lửa, gió không chấp trước,
Tại đây sao không chói,
Mặt trời không chiếu sáng,
Tại đây trăng không chiếu,
Tại đây u ám không,
Khi ẩn sĩ Phạm chí,
Tự mình với trí tuệ,
Thể nhập vào Chánh pháp,
Vị ấy được giải thoát
Khỏi sắc và vô sắc,
Khỏi an lạc, đau khổ.
Lời cảm hứng này được Thế Tôn thuyết giảng và tôi được nghe như vậy.“Yattha āpo ca pathavī, tejo vāyo na gādhati; Na tattha sukkā jotanti, ādicco nappakāsati; Na tattha candimā bhāti, tamo tattha na vijjati. Yadā ca attanāvedi, muni monena brāhmaṇo; Atha rūpā arūpā ca, sukhadukkhā pamuccatī”ti. Dasamaṁ. Ayampi udāno vutto bhagavatā iti me sutanti. Bodhivaggo paṭhamo. Tassuddānaṁ Tayo bodhī ca huṁhuṅko, brāhmaṇā kassapena ca; Aja saṅgāma jaṭilā, bāhiyenāti te dasāti.“Where water and earth, fire and air have no footing— there no star does shine, nor does the sun shed its light; there the moon glows not, yet no darkness is found. And when a sage, a brahmin, finds understanding through their own sagacity, then, from forms and formless, from pleasure and pain they are released.” This too is a heartfelt saying that was spoken by the Blessed One: that is what I heard.
Viết bởi Diệu Hạnh
Nguồn trích dẫn
- Phật Tự Thuyết 1.10 (Bāhiya Sutta). Bản Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka, Ud 1.10 trên SuttaCentral.
- Bản tiếng Anh: Bhikkhu Sujato dịch, SuttaCentral, phát hành theo giấy phép CC0.
- Bản tiếng Việt: HT. Thích Minh Châu dịch (Đại Tạng Kinh Việt Nam, Tiểu Bộ Kinh tập I; bản trên BuddhaSasana, budsas.org). Bản dịch tiếng Việt của HT. Thích Minh Châu, trích đăng để phụng sự Pháp thí; nếu chủ sở hữu bản quyền có yêu cầu, xin liên hệ 0902 332 970 để điều chỉnh.