Kinh Bọt Nước
Pheṇapiṇḍūpama Sutta
Bên bờ sông Hằng, Đức Phật dùng năm hình ảnh quen thuộc để chỉ cho các Tỷ-kheo thấy năm uẩn rỗng không, không có lõi cứng.
Trước khi đọc kinh
Kinh được giảng khi Đức Thế Tôn trú gần Ayujjhā, trên bờ sông Hằng (đoạn 1.1). Hình ảnh đầu tiên lấy từ chính dòng sông ấy: con sông cuốn theo một khối bọt lớn; một người có mắt sáng nhìn kỹ, xem xét đúng đắn, thì thấy nó chỉ là rỗng ruột, trống trơn, không có lõi (đoạn 2.1). Sắc cũng vậy: bất cứ sắc nào, quá khứ, vị lai hay hiện tại, gần hay xa, khi được vị Tỷ-kheo xem xét đúng đắn đều hiện ra không có lõi (đoạn 2.2).
Bốn uẩn còn lại đi kèm bốn hình ảnh khác. Thọ như bong bóng nước nổi lên rồi tan khi trời mưa hạt lớn (đoạn 3.1–3.2). Tưởng như ảo ảnh sóng nắng lung linh giữa trưa tháng cuối mùa hạ (đoạn 4.1–4.2). Các hành như thân cây chuối lớn, thẳng, non (theo chú giải, chữ akukkukajāta nghĩa là bên trong chưa thành cọng cứng): người đi tìm lõi cây chặt nó xuống, bóc từng lớp bẹ, mà không thấy cả giác cây, huống gì lõi (đoạn 5.1–5.2). Thức như màn ảo thuật bày ra ở ngã tư đường (đoạn 6.1–6.2). Thấy như vậy, vị Thánh đệ tử nhàm chán năm uẩn, ly tham và giải thoát (đoạn 7.1–7.2).
Phần kệ tóm lại năm ví dụ (đoạn 9.1–9.6) rồi nhắc một sự thật ai cũng sẽ gặp: khi thọ mạng, hơi ấm và thức lìa khỏi thân, thân nằm đó bị vứt bỏ, làm mồi cho loài khác, không còn hay biết (đoạn 12.1–12.4). Lời kết là một lời thúc giục nhẹ mà mạnh: hãy quán các uẩn ngày đêm với tỉnh giác và chánh niệm, tự làm chỗ nương cho mình, sống như người có đầu đang bị lửa cháy, mong cầu cảnh giới bất diệt (đoạn 14.1–15.4). Quán năm uẩn không lõi không làm bạn bi quan, mà giúp bạn bớt bám vào những gì vốn đang tan.
Ý chính
- Sắc như khối bọt trên sông Hằng: xem kỹ thì rỗng không, không lõi (2.1–2.2).
- Thọ như bong bóng nước nổi lên rồi tan (3.1–3.2).
- Tưởng như ảo ảnh sóng nắng giữa trưa (4.1–4.2).
- Các hành như thân cây chuối, bóc hết bẹ không thấy lõi; thức như trò ảo thuật (5.1–6.2).
- Thấy như vậy thì nhàm chán, ly tham, giải thoát (7.1–7.3).
- Khi thọ mạng, hơi ấm, thức lìa thân, thân bị bỏ lại vô tri (12.1–12.4).
Thuật ngữ Pāli trong kinh
- pheṇapiṇḍa
- khối bọt nước
- udakapubbuḷa
- bong bóng nước
- marīcikā
- ảo ảnh sóng nắng
- kadalikkhandha
- thân cây chuối
- māyā
- trò ảo thuật
- sāra
- lõi, phần cốt lõi
- yoniso upaparikkhati
- xem xét một cách đúng đắn
- khandha
- uẩn, nhóm
Kinh Bọt Nước
1Một thời Thế Tôn ở Ayujjàya, trên bờ sông Hằng.
Ở đấy Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo …Ekaṁ samayaṁ bhagavā ayujjhāyaṁ viharati gaṅgāya nadiyā tīre. Tatra kho bhagavā bhikkhū āmantesi:At one time the Buddha was staying near Ayodhya on the bank of the Ganges River. There the Buddha addressed the mendicants:
2—Ví như, này các Tỷ-kheo, sông Hằng này chảy mang theo đống bọt nước lớn. Có người có mắt nhìn đống bọt nước ấy, chuyên chú, như lý quán sát. Do nhìn chuyên chú, như lý quán sát nó, đống bọt nước ấy hiện rõ ra là trống không, hiện rõ ra là rỗng không, hiện rõ ra là không có lõi cứng. Làm sao, này các Tỷ-kheo, lại có lõi cứng trong đống bọt nước được?
Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, phàm có sắc gì thuộc quá khứ, vị lai, hiện tại, hoặc nội hay ngoại, hoặc thô hay tế, hoặc liệt hay thắng, hoặc xa hay gần; vị Tỷ-kheo thấy sắc, chuyên chú, như lý quán sát sắc. Do vị Tỷ-kheo nhìn chuyên chú, như lý quán sát sắc, sắc ấy hiện rõ ra là trống không, hiện rõ ra là rỗng không, hiện rõ ra là không có lõi cứng. Làm sao, này các Tỷ-kheo, lại có lõi cứng trong sắc được?“Seyyathāpi, bhikkhave, ayaṁ gaṅgā nadī mahantaṁ pheṇapiṇḍaṁ āvaheyya. Tamenaṁ cakkhumā puriso passeyya nijjhāyeyya yoniso upaparikkheyya. Tassa taṁ passato nijjhāyato yoniso upaparikkhato rittakaññeva khāyeyya, tucchakaññeva khāyeyya, asārakaññeva khāyeyya. Kiñhi siyā, bhikkhave, pheṇapiṇḍe sāro? Evameva kho, bhikkhave, yaṁ kiñci rūpaṁ atītānāgatapaccuppannaṁ …pe… yaṁ dūre santike vā taṁ bhikkhu passati nijjhāyati yoniso upaparikkhati. Tassa taṁ passato nijjhāyato yoniso upaparikkhato rittakaññeva khāyati, tucchakaññeva khāyati, asārakaññeva khāyati. Kiñhi siyā, bhikkhave, rūpe sāro?“Mendicants, suppose this Ganges River was carrying along a big lump of foam. And a person with clear eyes would see it and contemplate it, examining it rationally. And it would appear to them as completely vacuous, hollow, and insubstantial. For what essence could there be in a lump of foam? In the same way, a mendicant sees and contemplates any kind of form at all—past, future, or present; internal or external; solid or subtle; inferior or superior; far or near—examining it rationally. And it appears to them completely vacuous, hollow, and insubstantial. For what essence could there be in form?
3Ví như, này các Tỷ-kheo, trong mùa thu, khi trời mưa những giọt mưa lớn, trên mặt nước, các bong bóng nước hiện ra rồi tan biến. Một người có mắt nhìn chuyên chú, như lý quán sát nó, bong bóng nước ấy hiện rõ ra là trống không, hiện rõ ra là rỗng không, hiện rõ ra là không có lõi cứng. Làm sao, này các Tỷ-kheo, lại có lõi cứng trong bong bóng nước được?
Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, phàm có thọ gì thuộc quá khứ, vị lai, hiện tại, hoặc nội hay ngoại, hoặc thô hay tế, hoặc liệt hay thắng, hoặc xa hay gần; Tỷ-kheo nhìn chuyên chú, như lý quán sát thọ ấy. Do Tỷ-kheo nhìn chuyên chú, như lý quán sát nó, thọ ấy hiện rõ ra là trống không, hiện rõ ra là rỗng không, hiện rõ ra là không có lõi cứng. Làm sao, này các Tỷ-kheo, lại có lõi cứng trong thọ được?Seyyathāpi, bhikkhave, saradasamaye thullaphusitake deve vassante udake udakapubbuḷaṁ uppajjati ceva nirujjhati ca. Tamenaṁ cakkhumā puriso passeyya nijjhāyeyya yoniso upaparikkheyya. Tassa taṁ passato nijjhāyato yoniso upaparikkhato rittakaññeva khāyeyya, tucchakaññeva khāyeyya, asārakaññeva khāyeyya. Kiñhi siyā, bhikkhave, udakapubbuḷe sāro? Evameva kho, bhikkhave, yā kāci vedanā atītānāgatapaccuppannā …pe… yā dūre santike vā taṁ bhikkhu passati nijjhāyati yoniso upaparikkhati. Tassa taṁ passato nijjhāyato yoniso upaparikkhato rittakaññeva khāyati, tucchakaññeva khāyati, asārakaññeva khāyati. Kiñhi siyā, bhikkhave, vedanāya sāro?Suppose it was autumn, when the heavens rain heavily, and a bubble on the water forms and pops right away. And a person with clear eyes would see it and contemplate it, examining it rationally. And it would appear to them as completely vacuous, hollow, and insubstantial. For what essence could there be in a water bubble? In the same way, a mendicant sees and contemplates any kind of feeling at all … examining it rationally. And it appears to them completely vacuous, hollow, and insubstantial. For what essence could there be in feeling?
4Ví như, này các Tỷ-kheo, trong tháng cuối mùa hạ, vào đúng giữa trưa đứng bóng, một ráng mặt trời rung động hiện lên. Một người có mắt nhìn chuyên chú, như lý quán sát nó. Do người ấy nhìn chuyên chú, như lý quán sát, nên ráng mặt trời ấy hiện rõ ra là trống không, rỗng không, không có lõi cứng … Làm sao, này các Tỷ-kheo, lại có lõi cứng trong ráng mặt trời được?
Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, phàm có tưởng gì …Seyyathāpi, bhikkhave, gimhānaṁ pacchime māse ṭhite majjhanhike kāle marīcikā phandati. Tamenaṁ cakkhumā puriso passeyya nijjhāyeyya yoniso upaparikkheyya. Tassa taṁ passato nijjhāyato yoniso upaparikkhato rittakaññeva khāyeyya, tucchakaññeva khāyeyya …pe… kiñhi siyā, bhikkhave, marīcikāya sāro? Evameva kho, bhikkhave, yā kāci saññā …pe….Suppose that in the last month of summer, at noon, a shimmering mirage appears. And a person with clear eyes would see it and contemplate it, examining it rationally. And it would appear to them as completely vacuous, hollow, and insubstantial. For what essence could there be in a mirage? In the same way, a mendicant sees and contemplates any kind of perception at all … examining it carefully. And it appears to them completely vacuous, hollow, and insubstantial. For what substance could there be in perception?
5Ví như, này các Tỷ-kheo, một người cần có lõi cây, tìm cầu lõi cây, đi tìm lõi cây, cầm cái búa sắc bén đi vào ngôi rừng. Ở đây, người ấy thấy một cụm cây chuối lớn, mọc thẳng, mới lớn, cao vút. Người ấy chặt rễ cây ấy. Sau khi chặt rễ, người ấy chặt ngọn. Sau khi chặt ngọn, người ấy lột vỏ chuối ngoài. Khi lột vỏ chuối ngoài, giác cây còn tìm không được, tìm đâu cho có được lõi cây?
Một người có mắt nhìn chuyên chú, như lý quán sát cụm chuối ấy. Khi người ấy nhìn chuyên chú, như lý quán sát cụm chuối ấy, cụm chuối ấy hiện rõ ra là trống không, hiện rõ ra là trống rỗng, hiện rõ ra là không có lõi cây. Làm sao, này các Tỷ-kheo, lại có lõi cây trong cụm chuối được?
Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, phàm các hành gì thuộc quá khứ, vị lai, hiện tại, hoặc nội hay ngoại, hoặc thô hay tế, hoặc liệt hay thắng, hoặc xa hay gần; Tỷ-kheo nhìn chuyên chú, như lý quán sát hành ấy. Khi người ấy nhìn chuyên chú, như lý quán sát, hành ấy hiện rõ ra là trống không, hiện rõ ra là trống rỗng, hiện rõ ra là không có lõi cây. Làm sao, này các Tỷ-kheo, lại có lõi cây trong các hành được?Seyyathāpi, bhikkhave, puriso sāratthiko sāragavesī sārapariyesanaṁ caramāno tiṇhaṁ kuṭhāriṁ ādāya vanaṁ paviseyya. So tattha passeyya mahantaṁ kadalikkhandhaṁ ujuṁ navaṁ akukkukajātaṁ. Tamenaṁ mūle chindeyya; mūle chetvā agge chindeyya, agge chetvā pattavaṭṭiṁ vinibbhujeyya. So tassa pattavaṭṭiṁ vinibbhujanto pheggumpi nādhigaccheyya, kuto sāraṁ. Tamenaṁ cakkhumā puriso passeyya nijjhāyeyya yoniso upaparikkheyya. Tassa taṁ passato nijjhāyato yoniso upaparikkhato rittakaññeva khāyeyya, tucchakaññeva khāyeyya, asārakaññeva khāyeyya. Kiñhi siyā, bhikkhave, kadalikkhandhe sāro? Evameva kho, bhikkhave, ye keci saṅkhārā atītānāgatapaccuppannā …pe… ye dūre santike vā taṁ bhikkhu passati nijjhāyati yoniso upaparikkhati. Tassa taṁ passato nijjhāyato yoniso upaparikkhato rittakaññeva khāyati, tucchakaññeva khāyati, asārakaññeva khāyati. Kiñhi siyā, bhikkhave, saṅkhāresu sāro?Suppose there was a person in need of heartwood. Wandering in search of heartwood, they’d take a sharp axe and enter a forest. There they’d see a big banana trunk, straight and young and grown unskewed. They’d cut it down at the base, cut off the top, and unroll the coiled sheaths. But they wouldn’t even find sapwood, much less heartwood. And a person with clear eyes would see it and contemplate it, examining it rationally. And it would appear to them as completely vacuous, hollow, and insubstantial. For what essence could there be in a banana trunk? In the same way, a mendicant sees and contemplates any kind of choices at all … examining them rationally. And they appear to them as completely vacuous, hollow, and insubstantial. For what essence could there be in choices?
6Ví như, này các Tỷ-kheo, một ảo thuật sư hay đệ tử một ảo thuật sư, tại ngã tư đường bày trò ảo thuật. Một người có mắt nhìn chuyên chú, như lý quán sát trò ảo thuật ấy. Do người ấy nhìn chuyên chú, như lý quán sát, ảo thuật ấy hiện rõ ra là trống không, hiện rõ ra là trống rỗng, hiện rõ ra là không có lõi cứng. Làm sao, này các Tỷ-kheo, lại có lõi cứng trong ảo thuật được?
Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, phàm thức gì thuộc quá khứ, vị lai, hiện tại … hoặc xa hay gần; Tỷ-kheo nhìn chuyên chú, như lý quán sát, thức ấy hiện rõ ra là trống không, hiện rõ ra là trống rỗng, hiện rõ ra là không có lõi cây. Làm sao, này các Tỷ-kheo, lại có lõi cây trong thức được?Seyyathāpi, bhikkhave, māyākāro vā māyākārantevāsī vā catumahāpathe māyaṁ vidaṁseyya. Tamenaṁ cakkhumā puriso passeyya nijjhāyeyya yoniso upaparikkheyya. Tassa taṁ passato nijjhāyato yoniso upaparikkhato rittakaññeva khāyeyya, tucchakaññeva khāyeyya, asārakaññeva khāyeyya. Kiñhi siyā, bhikkhave, māyāya sāro? Evameva kho, bhikkhave, yaṁ kiñci viññāṇaṁ atītānāgatapaccuppannaṁ …pe… yaṁ dūre santike vā, taṁ bhikkhu passati nijjhāyati yoniso upaparikkhati. Tassa taṁ passato nijjhāyato yoniso upaparikkhato rittakaññeva khāyati, tucchakaññeva khāyati, asārakaññeva khāyati. Kiñhi siyā, bhikkhave, viññāṇe sāro?Suppose an illusionist or their apprentice was to demonstrate an illusion at the crossroads. And a person with clear eyes would see it and contemplate it, examining it rationally. And it would appear to them as completely vacuous, hollow, and insubstantial. For what essence could there be in an illusion? In the same way, a mendicant sees and contemplates any kind of consciousness at all—past, future, or present; internal or external; solid or subtle; inferior or superior; far or near—examining it rationally. And it appears to them completely vacuous, hollow, and insubstantial. For what essence could there be in consciousness?
7Thấy vậy, này các Tỷ-kheo, vị Đa văn Thánh đệ tử nhàm chán đối với sắc … đối với thọ … đối với tưởng … đối với các hành … nhàm chán đối với thức. Do nhàm chán, vị ấy ly tham. Do ly tham, vị ấy giải thoát. Trong sự giải thoát, trí khởi lên: “Ta đã giải thoát … không còn trở lui trạng thái này nữa”. Vị ấy biết rõ như vậy.Evaṁ passaṁ, bhikkhave, sutavā ariyasāvako rūpasmimpi nibbindati, vedanāyapi … saññāyapi … saṅkhāresupi … viññāṇasmimpi nibbindati. Nibbindaṁ virajjati; virāgā vimuccati. Vimuttasmiṁ vimuttamiti ñāṇaṁ hoti …pe… nāparaṁ itthattāyāti pajānāti”.Seeing this, a learned noble disciple grows disillusioned with form, feeling, perception, choices, and consciousness. Being disillusioned, desire fades away. When desire fades away they’re freed. When they’re freed, they know they’re freed. They understand: ‘… there is nothing further for this place.’”
8Thế Tôn thuyết như vậy. Bậc Thiện Thệ sau khi nói như vậy, bậc Đạo Sư lại nói thêm:Idamavoca bhagavā. Idaṁ vatvāna sugato athāparaṁ etadavoca satthā:That is what the Buddha said. Then the Holy One, the Teacher, went on to say:
9Sắc ví với đống bọt,
Thọ ví bong bóng nước,
Tưởng ví ráng mặt trời,
Hành ví với cây chuối,
Thức ví với ảo thuật,
Đấng bà con mặt trời,
Đã thuyết giảng như vậy.“Pheṇapiṇḍūpamaṁ rūpaṁ, vedanā bubbuḷūpamā; Marīcikūpamā saññā, saṅkhārā kadalūpamā; Māyūpamañca viññāṇaṁ, desitādiccabandhunā.“Form is like a lump of foam; feeling is like a bubble; perception seems like a mirage; choices like a banana plant; and consciousness like an illusion: so taught the Kinsman of the Sun.
10Nếu như vậy chuyên chú,
Như lý chơn quán sát,
Như lý nhìn các pháp,
Hiện rõ tánh trống không.Yathā yathā nijjhāyati, yoniso upaparikkhati; Rittakaṁ tucchakaṁ hoti, yo naṁ passati yoniso.However you contemplate them, examining them rationally, they’re vacuous and hollow when you look at them closely.
11Bắt đầu với thân này,
Bậc Đại Tuệ thuyết giảng,
Đoạn tận cả ba pháp,
Thấy sắc bị quăng bỏ.Imañca kāyaṁ ārabbha, bhūripaññena desitaṁ; Pahānaṁ tiṇṇaṁ dhammānaṁ, rūpaṁ passatha chaḍḍitaṁ.Concerning this body, he of vast wisdom has taught that when three things are given up, you’ll see this form discarded.
12Thân bị quăng, vô tri,
Không thọ, sức nóng, thức,
Bị quăng đi, nó nằm,
Làm đồ ăn kẻ khác.Āyu usmā ca viññāṇaṁ, yadā kāyaṁ jahantimaṁ; Apaviddho tadā seti, parabhattaṁ acetanaṁ.When vitality, warmth, and consciousness leave this body, it lies dumped there, food for others, insentient.
13Cái thân liên tục này,
Ảo sư, kẻ ngu nói,
Được gọi kẻ sát nhân,
Không tìm thấy lõi cây.Etādisāyaṁ santāno, māyāyaṁ bālalāpinī; Vadhako esa akkhāto, sāro ettha na vijjati.Such is this continuity, this illusion, this lament of fools. It’s said to be a killer, for no core is found here.
14Hãy quán uẩn như vậy,
Vị Tỷ-kheo tinh cần,
Suốt cả đêm lẫn ngày,
Tỉnh giác, chánh tư niệm.Evaṁ khandhe avekkheyya, bhikkhu āraddhavīriyo; Divā vā yadi vā rattiṁ, sampajāno paṭissato.An energetic mendicant should examine the aggregates like this, with situational awareness and mindfulness whether by day or by night.
15Hãy bỏ mọi kiết sử,
Làm chỗ mình nương tựa,
Sống như lửa cháy đầu,
Cầu chứng cảnh bất động.Jaheyya sabbasaṁyogaṁ, kareyya saraṇattano; Careyyādittasīsova, patthayaṁ accutaṁ padan”ti. Tatiyaṁ.They should give up all fetters, and make a refuge for themselves. They should live as though their head was on fire, aspiring to the state that does not pass.”
Viết bởi Tuệ Minh
Nguồn trích dẫn
- Tương Ưng Bộ 22.95 (Pheṇapiṇḍūpama Sutta). Bản Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka, SN 22.95 trên SuttaCentral.
- Bản tiếng Anh: Bhikkhu Sujato dịch, SuttaCentral, phát hành theo giấy phép CC0.
- Bản tiếng Việt: HT. Thích Minh Châu dịch (bản trên SuttaCentral). Bản dịch tiếng Việt của HT. Thích Minh Châu, trích đăng để phụng sự Pháp thí; nếu chủ sở hữu bản quyền có yêu cầu, xin liên hệ 0902 332 970 để điều chỉnh.