Tiểu Tụng 4 · Khp 4

Câu Hỏi Của Sa-di

Kumārapañha

“Một là gì?” “Tất cả chúng sinh nương vào vật thực mà tồn tại.” Mười câu hỏi đáp ngắn như trò chơi đếm số, mà gói gần trọn lời Phật dạy.

Trước khi đọc kinh

Câu Hỏi Của Sa-di (Kumārapañha) là bài thứ tư của Tiểu Tụng (Khuddakapāṭha), gồm mười câu hỏi đáp, từ “Một là gì?” đến “Mười là gì?” (đoạn 1.1–10.2). Chữ kumāra nghĩa là cậu bé. Theo chú giải Tiểu Tụng (Paramatthajotikā), người trả lời là Ngài Sopāka, một vị đại đệ tử của Đức Phật, đã chứng quả A-la-hán khi mới bảy tuổi, lúc chưa thọ Cụ túc giới; vì vậy bài thường được gọi là Câu Hỏi Của Sa-di. Đức Phật muốn cho vị ấy thọ Cụ túc giới, nên đặt các câu hỏi này để xem vị ấy có đủ sức trả lời không; vị ấy trả lời làm Đức Phật hài lòng, và chính việc trả lời ấy là lễ thọ Cụ túc giới của vị ấy. Bài này đứng sau Ba Mươi Hai Thể Trược (Khp 3); theo chú giải, sau giới và phép quán thân, bài này mở ra phần tu tuệ.

Các câu trả lời là những khung lớn của giáo pháp: tất cả chúng sinh nương vào vật thực mà tồn tại; danh và sắc; ba cảm thọ; bốn Thánh đế; năm thủ uẩn; sáu nội xứ; bảy giác chi; Con đường Thánh tám chi phần; chín chỗ trú của chúng sinh; và người đầy đủ mười chi phần được gọi là A-la-hán (đoạn 1.2–10.2). Chú giải giải thích “vật thực” ở câu một theo nghĩa rộng là điều kiện (paccaya): mọi chúng sinh đều tồn tại nhờ điều kiện. Mười câu hỏi này cũng có trong Tăng Chi Bộ 10.27 (Kinh Đại Vấn Đáp), nhưng ở đó có bốn câu đáp khác: bốn loại vật thực, bảy chỗ trú của thức, tám pháp thế gian và mười nghiệp đạo bất thiện. Chú giải đối chiếu hai kinh: ở Tăng Chi Bộ 10.27, mỗi câu đáp là điều người tu cần thấy rõ để nhàm chán, buông bỏ; còn ở bài này có những câu đáp là điều cần khéo tu tập, như bảy giác chi và Bát chánh đạo, giống cách đáp của vị Tỷ-kheo-ni ở Kajaṅgalā trong Tăng Chi Bộ 10.28, cách đáp mà Đức Phật đã tán thành. Mười chi phần của A-la-hán, theo chú giải, là tám chi của chánh đạo ở bậc vô học, thêm chánh trí và chánh giải thoát.

Bài này giống một bảng mục lục để nhớ Pháp theo con số. Nhiều người học Phật lâu năm vẫn lẫn lộn năm uẩn với sáu xứ, bảy giác chi với tám chi đạo; mười câu này giúp xếp chúng vào đúng chỗ. Bạn có thể dùng nó như một trò ôn bài: mỗi tối chọn một con số, tự hỏi “số này là gì?”, rồi thử kể ra từng phần và liên hệ với một việc trong ngày. Với trẻ nhỏ trong nhà, đây cũng là cách vừa đếm số vừa làm quen với Pháp, như câu chuyện về vị Sa-di chứng quả khi mới bảy tuổi. Muốn đi sâu hơn, bạn có thể đọc Kinh Chuyển Pháp Luân (SN 56.11) cho câu số bốn và Kinh Bát Chánh Đạo (SN 45.8) cho câu số tám.

Ý chính

  • Tất cả chúng sinh đều nương vào vật thực mà tồn tại (1.2).
  • Hai là danh và sắc; ba là ba cảm thọ (2.2, 3.2).
  • Bốn là bốn Thánh đế; năm là năm thủ uẩn (4.2, 5.2).
  • Sáu là sáu nội xứ; bảy là bảy giác chi (6.2, 7.2).
  • Tám là Con đường Thánh tám chi phần; chín là chín chỗ trú của chúng sinh (8.2, 9.2).
  • Người đầy đủ mười chi phần được gọi là A-la-hán (10.2).
Thuật ngữ Pāli trong kinh
kumārapañha
câu hỏi cho cậu bé, câu hỏi của Sa-di
āhāraṭṭhitika
nương vào vật thực mà tồn tại; theo chú giải, vật thực ở đây là điều kiện
nāmarūpa
danh và sắc: phần tâm và phần thân
vedanā
cảm thọ: lạc, khổ, không khổ không lạc
upādānakkhandha
thủ uẩn, các uẩn là đối tượng của chấp thủ
ajjhattika āyatana
nội xứ: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý
bojjhaṅga
giác chi, yếu tố của sự giác ngộ
sattāvāsa
chỗ trú của chúng sinh; chín chỗ theo cách sống và cách nhận biết

Câu Hỏi Của Sa-di

1Thế nào là một? - Mọi loài hữu tình đều tồn tại nhờ thức ăn.Ekaṁ nāma kiṁ? Sabbe sattā āhāraṭṭhitikā.What is the one? All sentient beings are sustained by food.

2Thế nào là hai? - Danh và sắc.Dve nāma kiṁ? Nāmañca rūpañca.What is the two? Name and form.

3Thế nào là ba? - Ba loại cảm thọ.Tīṇi nāma kiṁ? Tisso vedanā.What is the three? Three feelings.

4Thế nào là bốn? - Bốn Thánh đế.Cattāri nāma kiṁ? Cattāri ariyasaccāni.What is the four? Four noble truths.

5Thế nào là năm? - Năm thủ uẩn.Pañca nāma kiṁ? Pañcupādānakkhandhā.What is the five? Five grasping aggregates.

6Thế nào là sáu? - Sáu nội xứ.Cha nāma kiṁ? Cha ajjhattikāni āyatanāni.What is the six? Six interior sense fields.

7Thế nào là bảy? - Bảy giác chi.Satta nāma kiṁ? Satta bojjhaṅgā.What is the seven? Seven awakening factors.

8Thế nào là tám? - Thánh đạo tám ngành.Aṭṭha nāma kiṁ? Ariyo aṭṭhaṅgiko maggo.What is the eight? The noble eightfold path.

9Thế nào là chín? - Chín nơi cư trú của các loài hữu tình.Nava nāma kiṁ? Nava sattāvāsā.What is the nine? Nine abodes of sentient beings.

10–11Thế nào là mười? - Vị nào có đủ mười đức tánh được gọi là vị A-la-hán.Dasa nāma kiṁ? Dasahaṅgehi samannāgato “arahā”ti vuccatīti. Kumārapañhā.What is the ten? One endowed with ten factors is called “perfected”.

Viết bởi Tuệ Minh

Nguồn trích dẫn

  1. Tiểu Tụng 4 (Kumārapañha). Bản Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka, Khp 4 trên SuttaCentral.
  2. Bản tiếng Anh: Bhikkhu Sujato dịch, SuttaCentral, phát hành theo giấy phép CC0.
  3. Bản tiếng Việt: HT. Thích Minh Châu dịch (bản trên SuttaCentral). Bản dịch tiếng Việt của HT. Thích Minh Châu, trích đăng để phụng sự Pháp thí; nếu chủ sở hữu bản quyền có yêu cầu, xin liên hệ 0902 332 970 để điều chỉnh.

Đọc tiếp