Kinh Thuần-đà
Cunda Sutta
Còn gọi là: Kinh Cunda
Sáng sớm sờ đất, sờ cỏ, lạy mặt trời, tắm ba lần một ngày: những nghi thức ấy có làm người ta trong sạch không? Đức Phật chỉ ra chỗ thật sự cần được rửa sạch.
Trước khi đọc kinh
Kinh Thuần-đà (Cunda Sutta) là bài kinh thứ mười trong phẩm Jāṇussoṇi, phần Mười Pháp của Tăng Chi Bộ. Đức Thế Tôn đang trú ở Ba-bà (Pāvā), trong vườn xoài của ông Thuần-đà (Cunda), con nhà thợ; theo chú giải Tăng Chi Bộ (Manorathapūraṇī), đó là nhà thợ vàng. Kinh Đại Bát-niết-bàn (DN 16) cũng kể Đức Phật trú tại vườn xoài của ông Thuần-đà ở Ba-bà và dùng bữa cúng dường tại nhà ông. Đức Phật hỏi: ông ưa thích sự thanh tịnh theo lối của ai? Ông thưa: theo lối các vị Bà-la-môn miền Tây, những người mang bình nước, đeo vòng hoa rong nước, thờ lửa, xuống nước tắm gội (đoạn 1.4–1.5). Các vị ấy dạy đệ tử: sáng sớm vừa rời giường thì sờ tay xuống đất; không sờ đất thì sờ phân bò tươi, sờ cỏ xanh, thờ lửa, chắp tay lễ mặt trời, hoặc xuống nước tắm ba lần trong ngày, lần thứ ba vào buổi chiều (đoạn 2.3–2.8).
Đức Phật nói: sự thanh tịnh ấy là một lẽ, còn sự thanh tịnh trong giới luật của bậc Thánh là một lẽ khác (đoạn 3.1). Ngài kể mười điều không thanh tịnh: ba nơi thân (sát sinh, lấy của không cho, tà hạnh trong các dục), bốn nơi lời nói (nói dối, nói lời chia rẽ, nói lời thô ác, nói lời phù phiếm) và ba nơi ý (tham lam, sân hận, tà kiến) (đoạn 5.1–16.3). Đó là mười con đường nghiệp bất thiện (akusalakammapatha). Người mang mười điều ấy, dù có sờ đất hay không, có tắm sông hay không, vẫn là không trong sạch, vì chính mười điều ấy không trong sạch và làm cho người ta không trong sạch (đoạn 17.2–22.3). Ngược lại là mười con đường nghiệp thiện: từ bỏ mười điều kia, buông gậy buông dao, nói lời đem lại hòa hợp, nói lời hiền dịu, mong cho mọi loài không thù oán, sống an vui (đoạn 25.2–36.2). Người có mười điều này, dù có làm các nghi thức kia hay không, vẫn là trong sạch (đoạn 38.2–43.3).
Bài kinh không chế giễu ai. Đức Phật không bảo ông Thuần-đà đừng tắm, đừng chắp tay lễ; Ngài chỉ cho thấy các nghi thức ấy, làm hay không làm, đều không đổi được chỗ trong hay đục của con người. Thứ làm ta trong sạch hay ô nhiễm là việc làm, lời nói và ý nghĩ của chính mình. Người Việt có nhiều tập tục đầu năm, cuối năm, từ tắm lá đến xông nhà; giữ hay bỏ là tùy nếp nhà. Điều kinh nhắc là đừng để những việc ấy thay cho việc giữ mười điều lành. Mỗi tối, bạn có thể tự xét nhanh ba câu: hôm nay thân mình có làm hại ai không, lời mình có chia rẽ hay làm đau ai không, ý mình có ôm lòng tham hay giận không. Đó là “tắm rửa” theo cách của bậc Thánh.
Ý chính
- Các vị Bà-la-môn miền Tây dạy thanh tịnh bằng sờ đất, sờ phân bò, sờ cỏ, thờ lửa, lễ mặt trời, tắm ba lần trong ngày (2.3–2.8).
- Sự thanh tịnh ấy khác với sự thanh tịnh trong giới luật của bậc Thánh (3.1).
- Có ba điều không thanh tịnh về thân, bốn về lời nói, ba về ý (5.1–5.3).
- Nói lời chia rẽ là nghe chuyện bên này đem kể bên kia cho người ta xa nhau (11.1).
- Người mang mười nghiệp bất thiện, dù làm hay không làm các nghi thức, vẫn không trong sạch (17.2–22.3).
- Người có mười nghiệp thiện, dù làm hay không làm các nghi thức, vẫn trong sạch; nhờ đó có chư thiên, loài người, các cõi lành (38.2–44.1).
Thuật ngữ Pāli trong kinh
- soceyya / asoceyya
- sự thanh tịnh / sự không thanh tịnh
- ariyassa vinaya
- giới luật của bậc Thánh
- kammapatha
- con đường nghiệp, đường đi của hành động
- kusala / akusala
- thiện / bất thiện
- pisuṇā vācā
- lời nói chia rẽ
- pharusā vācā
- lời nói thô ác
- samphappalāpa
- lời nói phù phiếm
- micchādiṭṭhi / sammādiṭṭhi
- tà kiến / chánh kiến
Kinh Thuần-đà
1Một thời, Thế Tôn trú ở Pàvà, trong vườn xoài của Cunda, con người thợ rèn. Rồi Cunda, con người thợ rèn đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Thế Tôn nói với Cunda, còn người thợ rèn đang ngồi một bên:
—Này Cunda, trong những tịnh hạnh của ai, Ông cảm thấy thích thú?
—Bạch Thế Tôn, các Bà-la-môn ở phương Tây, những người có mang theo bình nước, những người có đeo vòng hoa huệ, những người thờ lửa, những người đi xuống nước tắm, những vị này có tổ chức những lễ tịnh hạnh. Con ưa thích những lễ tịnh hạnh của những người ấy.Evaṁ me sutaṁ— ekaṁ samayaṁ bhagavā pāvāyaṁ viharati cundassa kammāraputtassa ambavane. Atha kho cundo kammāraputto yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinnaṁ kho cundaṁ kammāraputtaṁ bhagavā etadavoca: “kassa no tvaṁ, cunda, soceyyāni rocesī”ti? “Brāhmaṇā, bhante, pacchābhūmakā kamaṇḍalukā sevālamālikā aggiparicārikā udakorohakā soceyyāni paññapenti; tesāhaṁ soceyyāni rocemī”ti.So I have heard. At one time the Buddha was staying near Pāvā in Cunda the smith’s mango grove. Then Cunda the smith went to the Buddha, bowed, and sat down to one side. The Buddha said to him, “Cunda, whose purity do you believe in?” “Sir, I believe in the purity advocated by the western brahmins garlanded with aquatic flowers who carry pitchers, serve the sacred flame, and immerse themselves in water.”
2—Này Cunda, các Bà-la-môn trú ở phương Tây, những người có mang theo bình nước, những người có đeo vòng hoa huệ, những người thờ lửa, những người đi xuống nước tắm, như thế nào, những người này có tổ chức những lễ tịnh hạnh?
—Ở đây, bạch Thế Tôn, những người Bà-la-môn trú ở phương Tây, những người có mang bình nước, những người có đeo vòng hoa huệ, những người thờ lửa, những người đi xuống nước tắm, những vị này khích lệ đệ tử như sau: “Hãy đến, này Bạn. Hãy dậy thật sớm và từ nơi giường chạm xuống đất. Nếu Bạn không chạm xuống đất thì chạm phân bò ướt; nếu Bạn không chạm phân bò ướt thời Bạn chạm cỏ xanh; nếu Bạn không chạm cỏ xanh thời Bạn hãy cúng dường lửa; nếu Bạn không cúng dường lửa, thời Bạn hãy chắp tay đảnh lễ mặt trời, nếu Bạn không chắp tay đảnh lễ mặt trời, thời Bạn hãy xuống nước lần thứ ba vào buổi chiều”. Như vậy, bạch Thế Tôn, các Bà-la-môn trú ở phương Tây, những người có mang theo bình nước, những người có đeo vòng hoa huệ, những người thờ lửa, những người đi xuống nước tắm, những vị này ấy tổ chức những lễ tịnh hạnh. Con thích thú lễ tịnh hạnh của những vị ấy.“Yathā kathaṁ pana, cunda, brāhmaṇā pacchābhūmakā kamaṇḍalukā sevālamālikā aggiparicārikā udakorohakā soceyyāni paññapentī”ti? “Idha, bhante, brāhmaṇā pacchābhūmakā kamaṇḍalukā sevālamālikā aggiparicārikā udakorohakā. Te sāvakaṁ evaṁ samādapenti: ‘ehi tvaṁ, ambho purisa, kālasseva uṭṭhahantova sayanamhā pathaviṁ āmaseyyāsi; no ce pathaviṁ āmaseyyāsi, allāni gomayāni āmaseyyāsi; no ce allāni gomayāni āmaseyyāsi, haritāni tiṇāni āmaseyyāsi; no ce haritāni tiṇāni āmaseyyāsi, aggiṁ paricareyyāsi; no ce aggiṁ paricareyyāsi, pañjaliko ādiccaṁ namasseyyāsi; no ce pañjaliko ādiccaṁ namasseyyāsi, sāyatatiyakaṁ udakaṁ oroheyyāsī’ti. Evaṁ kho, bhante, brāhmaṇā pacchābhūmakā kamaṇḍalukā sevālamālikā aggiparicārikā udakorohakā soceyyāni paññapenti; tesāhaṁ soceyyāni rocemī”ti.“But Cunda, what kind of purity do these western brahmins advocate?” “The western brahmins encourage their disciple like this: ‘Please, my man, rising early you should stroke the earth from your bed. If you don’t stroke the earth, stroke fresh cow dung. If you don’t stroke fresh cow dung, stroke green grass. If you don’t stroke green grass, serve the sacred flame. If you don’t serve the sacred flame, revere the sun with cupped palms. If you don’t revere the sun with cupped palms, immerse yourself in water three times, including at dusk.’ The western brahmins advocate this kind of purity.”
3—Sai khác này Cunda, là những lễ tịnh hạnh do những Bà-la-môn trú ở phương Tây, những người có mang bình nước, những người có đeo vòng hoa huệ, những người thờ lửa, những người đi xuống nước tắm tổ chức. Sai khác là lễ tịnh hạnh trong Luật của bậc Thánh.
—Như thế nào, bạch Thế Tôn, là lễ tịnh hạnh trong Luật của bậc Thánh? Lành thay, bạch Thế Tôn, nếu Thế Tôn thuyết pháp cho con về lễ tịnh hạnh trong Luật của bậc Thánh.“Aññathā kho, cunda, brāhmaṇā pacchābhūmakā kamaṇḍalukā sevālamālikā aggiparicārikā udakorohakā soceyyāni paññapenti, aññathā ca pana ariyassa vinaye soceyyaṁ hotī”ti. “Yathā kathaṁ pana, bhante, ariyassa vinaye soceyyaṁ hoti? Sādhu me, bhante, bhagavā tathā dhammaṁ desetu yathā ariyassa vinaye soceyyaṁ hotī”ti.“The purity advocated by the western brahmins is quite different from that in the training of the Noble One.” “But what, sir, is purity in the training of the Noble One? Sir, please teach me this.”
4—Vậy này Cunda, hãy nghe và khéo tác ý, Ta sẽ nói:
—Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
Cunda con người thợ rèn vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau:“Tena hi, cunda, suṇāhi, sādhukaṁ manasi karohi; bhāsissāmī”ti. “Evaṁ, bhante”ti kho cundo kammāraputto bhagavato paccassosi. Bhagavā etadavoca:“Well then, brahmin, listen and apply your mind well, I will speak.” “Yes, sir,” Cunda replied. The Buddha said this:
5Này Cunda, thân không tịnh hạnh có ba, lời không tịnh hạnh có bốn, ý không tịnh hạnh có ba.“Tividhaṁ kho, cunda, kāyena asoceyyaṁ hoti; catubbidhaṁ vācāya asoceyyaṁ hoti; tividhaṁ manasā asoceyyaṁ hoti.“Cunda, impurity is threefold by way of body, fourfold by way of speech, and threefold by way of mind.
6Và này Cunda, thế nào là thân không tịnh hạnh có ba?
Ở đây, này Cunda, có người sát sanh, hung bạo, tay lấm máu, tâm chuyên sát hại, đả thương, tâm không từ bi đối với các loại hữu tình.Kathañca, cunda, tividhaṁ kāyena asoceyyaṁ hoti? Idha, cunda, ekacco pāṇātipātī hoti luddo lohitapāṇi hatapahate niviṭṭho adayāpanno sabbapāṇabhūtesu.And how is impurity threefold by way of body? It’s when someone kills living creatures. They’re violent, bloody-handed, a hardened killer, merciless to all living beings.
7Người ấy của không cho, bất cứ tài vật gì của người khác, hoặc tại thôn làng, hoặc tại rừng núi, không cho người ấy. Người ấy lấy trộm tài vật ấy.Adinnādāyī hoti. Yaṁ taṁ parassa paravittūpakaraṇaṁ gāmagataṁ vā araññagataṁ vā taṁ adinnaṁ theyyasaṅkhātaṁ ādātā hoti.They steal. With the intention to commit theft, they take the wealth or belongings of others from village or wilderness.
8Người ấy sống tà hạnh đối với các dục, tà hạnh với các hạng nữ nhân có mẹ che chở, có cha che chở, có mẹ cha che chở, có anh che chở, có chị che chở, có bà con che chở, có pháp che chở, đã có chồng, được hình phạt gậy gộc bảo vệ, cho đến những nữ nhân được trang sức bằng vòng hoa (đám cưới).Kāmesumicchācārī hoti. Yā tā māturakkhitā piturakkhitā mātāpiturakkhitā bhāturakkhitā bhaginirakkhitā ñātirakkhitā gottarakkhitā dhammarakkhitā sasāmikā saparidaṇḍā antamaso mālāguḷaparikkhittāpi, tathārūpāsu cārittaṁ āpajjitā hoti.They commit sexual misconduct. They have relations with women who have their mother, father, both mother and father, brother, sister, relatives, or clan as guardian. They have relations with a woman who is protected on principle, or who has a husband, or whose violation is punishable by law, or even one who has been garlanded as a token of betrothal.
9Như vậy, này Cunda, bất tịnh hạnh về thân có ba.Evaṁ kho, cunda, tividhaṁ kāyena asoceyyaṁ hoti.This is the threefold impurity by way of body.
10Và này Cunda, thế nào là bất tịnh hạnh về lời có bốn?
Ở đây, này Cunda, có người nói láo, đến chỗ tập hội, hay đến chỗ chúng hội, hay đến giữa các thân tộc, hay đến giữa các tổ hợp, hay đến giữa các vương tộc, khi bị dẫn xuất làm chứng và được hỏi: “Này người kia, hãy nói những gì ông biết”. Dầu cho vị ấy không biết, vị ấy nói: “Tôi biết”. Dầu cho vị ấy biết, vị ấy nói: “Tôi không biết”. Hay dầu cho vị ấy không thấy, vị ấy nói: “Tôi thấy”. Hay dầu cho vị ấy thấy, vị ấy nói: “Tôi không thấy”. Như vậy lời nói của người ấy trở thành cố ý nói láo, hoặc nguyên nhân vì mình, hoặc nguyên nhân vì người, hoặc nguyên nhân vì một vài quyền lợi gì.Kathañca, cunda, catubbidhaṁ vācāya asoceyyaṁ hoti? Idha, cunda, ekacco musāvādī hoti. Sabhaggato vā parisaggato vā ñātimajjhagato vā pūgamajjhagato vā rājakulamajjhagato vā abhinīto sakkhipuṭṭho: ‘ehambho purisa, yaṁ jānāsi taṁ vadehī’ti, so ajānaṁ vā āha: ‘jānāmī’ti, jānaṁ vā āha: ‘na jānāmī’ti; apassaṁ vā āha: ‘passāmī’ti, passaṁ vā āha: ‘na passāmī’ti. Iti attahetu vā parahetu vā āmisakiñcikkhahetu vā sampajānamusā bhāsitā hoti.And how is impurity fourfold by way of speech? It’s when someone lies. They’re summoned to a council, an assembly, a family meeting, a guild, or to the royal court, and asked to bear witness: ‘Please, my friend, say what you know.’ Not knowing, they say ‘I know.’ Knowing, they say ‘I don’t know.’ Not seeing, they say ‘I see.’ And seeing, they say ‘I don’t see.’ So they deliberately lie for the sake of themselves or another, or for some trivial worldly reason.
11Và người ấy là người nói hai lưỡi, nghe điều gì ở chỗ này, đến chỗ kia nói, để sanh chia rẽ ở những người này; nghe điều gì ở chỗ kia, đi nói với những người này để sanh chia rẽ ở những người kia. Như vậy, vị ấy ly gián những kẻ hòa hợp, hay xúi giục những kẻ ly gián, ưa thích chia rẽ, vui thích chia rẽ, thích thú chia rẽ, nói những lời đưa đến chia rẽ.Pisuṇavāco hoti. Ito sutvā amutra akkhātā imesaṁ bhedāya, amutra vā sutvā imesaṁ akkhātā amūsaṁ bhedāya. Iti samaggānaṁ vā bhettā, bhinnānaṁ vā anuppadātā, vaggārāmo vaggarato vagganandī vaggakaraṇiṁ vācaṁ bhāsitā hoti.They backbite. They repeat in one place what they heard in another so as to divide people against each other. And so they divide those who are harmonious, supporting division, delighting in division, loving division, speaking words that promote division.
12Và người ấy là người nói lời thô ác, bất cứ lời gì thô bạo, thô tục, khiến người đau khổ, khiến người tức giận, liên hệ đến phẫn nộ, không đưa đến Thiền định. Người ấy nói những lời như vậy.Pharusavāco hoti. Yā sā vācā aṇḍakā kakkasā parakaṭukā parābhisajjanī kodhasāmantā asamādhisaṁvattanikā, tathārūpiṁ vācaṁ bhāsitā hoti.They speak harshly. They use the kinds of words that are cruel, nasty, hurtful, offensive, bordering on anger, not leading to immersion.
13Và người ấy nói những lời phù phiếm, nói phi thời, nói những lời phi chơn, nói những lời không lợi ích, nói những lời phi pháp, nói những lời phi luật, nói những lời không đáng gìn giữ. Vì nói phi thời, nên lời nói không có thuận lý, không có mạch lạc, hệ thống, không có lợi ích.
Như vậy, này Cunda, không tịnh hạnh về lời có bốn.Samphappalāpī hoti akālavādī abhūtavādī anatthavādī adhammavādī avinayavādī; anidhānavatiṁ vācaṁ bhāsitā hoti akālena anapadesaṁ apariyantavatiṁ anatthasaṁhitaṁ. Evaṁ kho, cunda, catubbidhaṁ vācāya asoceyyaṁ hoti.They talk nonsense. Their speech is untimely, and is neither factual nor beneficial. It has nothing to do with the teaching or the training. Their words have no value, and are untimely, unreasonable, rambling, and pointless. This is the fourfold impurity by way of speech.
14Và này Cunda, thế nào là không tịnh hạnh về ý có ba?
Ở đây, này Cunda, có người có tham ái, tham lam tài vật kẻ khác, nghĩ rằng: “Ôi, mong rằng mọi tài vật của người khác trở thành của mình! “.Kathañca, cunda, tividhaṁ manasā asoceyyaṁ hoti? Idha, cunda, ekacco abhijjhālu hoti. Yaṁ taṁ parassa paravittūpakaraṇaṁ taṁ abhijjhātā hoti: ‘aho vata yaṁ parassa taṁ mamassā’ti.And how is impurity threefold by way of mind? It’s when someone is covetous. They covet the wealth and belongings of others: ‘Oh, if only their belongings were mine!’
15Có người có sân tâm, khởi lên hại ý, hại niệm như sau: “Mong rằng những loài hữu tình này bị giết, hay bị tàn sát, hay bị tiêu diệt, hay bị tàn hại, hay mong chúng không còn tồn tại! “.Byāpannacitto hoti paduṭṭhamanasaṅkappo: ‘ime sattā haññantu vā bajjhantu vā ucchijjantu vā vinassantu vā mā vā ahesun’ti.They have ill will and malicious intentions: ‘May these sentient beings be killed, slaughtered, slain, destroyed, or annihilated!’
16Lại có người có tà kiến, có tưởng điên đảo, như: “Không có bố thí, không có cúng dường, không có tế lễ, các hành vi thiện ác không có kết quả dị thục, không có đời này, không có đời sau, không có mẹ, không có cha, không có các loại hóa sanh, trong đời không có các Sa-môn, Bà-la-môn chân chánh hành trì, chân chánh thành tựu, sau khi tự tri, tự chứng, lại tuyên bố cho đời này và cho đời sau”.
Như vậy, này Cunda, không tịnh hạnh về ý có ba.Micchādiṭṭhiko hoti viparītadassano: ‘natthi dinnaṁ, natthi yiṭṭhaṁ, natthi hutaṁ, natthi sukaṭadukkaṭānaṁ kammānaṁ phalaṁ vipāko, natthi ayaṁ loko, natthi paro loko, natthi mātā, natthi pitā, natthi sattā opapātikā, natthi loke samaṇabrāhmaṇā sammaggatā sammāpaṭipannā ye imañca lokaṁ parañca lokaṁ sayaṁ abhiññā sacchikatvā pavedentī’ti. Evaṁ kho, cunda, manasā tividhaṁ asoceyyaṁ hoti.They have wrong view. Their perspective is distorted: ‘There’s no meaning in giving, sacrifice, or offerings. There’s no fruit or result of good and bad deeds. There’s no afterlife. There’s no such thing as mother and father, or beings that are reborn spontaneously. And there’s no ascetic or brahmin who is rightly comported and rightly practiced, and who describes the afterlife after realizing it with their own insight.’ This is the threefold impurity by way of mind.
17Này Cunda, có mười bất thiện nghiệp đạo này. Này Cunda, với ai thành tựu mười bất thiện nghiệp đạo này, có thể dậy sớm và từ giường nếu vị ấy chạm đất, vị ấy vẫn bất tịnh. Dầu cho vị ấy không chạm xuống đất, vị ấy vẫn bất tịnh.Ime kho, cunda, dasa akusalakammapathā. Imehi kho, cunda, dasahi akusalehi kammapathehi samannāgato kālasseva uṭṭhahantova sayanamhā pathaviñcepi āmasati, asuciyeva hoti; no cepi pathaviṁ āmasati, asuciyeva hoti.These are the ten ways of doing unskillful deeds. When you have these ten ways of doing unskillful deeds, then if you rise early, whether or not you stroke the earth from your bed, you’re still impure.
18Nếu vị ấy chạm phân bò ướt, vị ấy vẫn bất tịnh. Nếu vị ấy không chạm phân bò ướt, vị ấy vẫn bất tịnh.Allāni cepi gomayāni āmasati, asuciyeva hoti; no cepi allāni gomayāni āmasati, asuciyeva hoti.Whether or not you stroke fresh cow dung, you’re still impure.
19Nếu vị ấy chạm cỏ xanh, vị ấy vẫn bất tịnh. Nếu vị ấy không chạm cỏ xanh, vị ấy vẫn bất tịnh.Haritāni cepi tiṇāni āmasati, asuciyeva hoti; no cepi haritāni tiṇāni āmasati, asuciyeva hoti.Whether or not you stroke green grass, you’re still impure.
20Nếu vị ấy cúng dường lửa, vị ấy vẫn bất tịnh. Nếu vị ấy không cúng dường lửa, vị ấy vẫn bất tịnh.Aggiñcepi paricarati, asuciyeva hoti, no cepi aggiṁ paricarati, asuciyeva hoti.Whether or not you serve the sacred flame, you’re still impure.
21Nếu vị ấy chắp tay đảnh lễ mặt trời, vị ấy vẫn bất tịnh. Nếu vị ấy không chắp tay đảnh lễ mặt trời, vị ấy vẫn bất tịnh.Pañjaliko cepi ādiccaṁ namassati, asuciyeva hoti; no cepi pañjaliko ādiccaṁ namassati, asuciyeva hoti.Whether or not you revere the sun with cupped palms, you’re still impure.
22Nếu vị ấy vào buổi chiều xuống nước lần thứ ba, vị ấy vẫn bất tịnh. Vì sao? Này Cunda, mười bất thiện nghiệp đạo này là bất tịnh, không tạo ra tịnh.Sāyatatiyakañcepi udakaṁ orohati, asuciyeva hoti; no cepi sāyatatiyakaṁ udakaṁ orohati, asuciyeva hoti. Taṁ kissa hetu? Ime, cunda, dasa akusalakammapathā asucīyeva honti asucikaraṇā ca.Whether or not you immerse yourself in water three times, you’re still impure. Why is that? These ten ways of doing unskillful deeds are impure and make things impure.
23Này Cunda, do nhân thành tựu mười bất thiện nghiệp đạo này, địa ngục được trình bày, bàng sanh được trình bày, ngạ quỉ được trình bày hay là ác thú khác được trình bày.Imesaṁ pana, cunda, dasannaṁ akusalānaṁ kammapathānaṁ samannāgamanahetu nirayo paññāyati, tiracchānayoni paññāyati, pettivisayo paññāyati, yā vā panaññāpi kāci duggatiyo.It’s because of those who do these ten kinds of unskillful deeds that hell, the animal realm, the ghost realm, or any other bad places are found.
24Này Cunda, tịnh hạnh về thân có ba, tịnh hạnh về lời có bốn, tịnh hạnh về ý có ba.Tividhaṁ kho, cunda, kāyena soceyyaṁ hoti; catubbidhaṁ vācāya soceyyaṁ hoti; tividhaṁ manasā soceyyaṁ hoti.Cunda, purity is threefold by way of body, fourfold by way of speech, and threefold by way of mind.
25Này Cunda, thế nào là tịnh hạnh về thân có ba?
Ở đây, này Cunda, có người đoạn tận sát sanh, từ bỏ sát sanh, bỏ trượng, bỏ kiếm, biết tàm quý, có lòng từ, sống thương xót đến hạnh phúc tất cả chúng sanh, và loài hữu tình.Kathaṁ, cunda, tividhaṁ kāyena soceyyaṁ hoti? Idha, cunda, ekacco pāṇātipātaṁ pahāya pāṇātipātā paṭivirato hoti nihitadaṇḍo nihitasattho, lajjī dayāpanno, sabbapāṇabhūtahitānukampī viharati.And how is purity threefold by way of body? It’s when someone gives up killing living creatures, renouncing the rod and the sword. They’re scrupulous and kind, living full of sympathy for all living beings.
26Đoạn tận lấy của không cho, từ bỏ lấy của không cho; bất cứ vật gì của người khác, hoặc tại thôn làng, hoặc tại rừng núi, không có cho người ấy, người ấy không lấy với ý niệm trộm cắp.Adinnādānaṁ pahāya, adinnādānā paṭivirato hoti. Yaṁ taṁ parassa paravittūpakaraṇaṁ gāmagataṁ vā araññagataṁ vā, na taṁ adinnaṁ theyyasaṅkhātaṁ ādātā hoti.They give up stealing. They don’t, with the intention to commit theft, take the wealth or belongings of others from village or wilderness.
27Đoạn tận tà hạnh trong các dục, từ bỏ tà hạnh trong các dục, không hành tà hạnh với hạng nữ nhân có mẹ che chở, có cha che chở, có anh che chở, có chị che chở, có bà con che chở, có pháp che chở, đã có chồng, được hình phạt gậy gộc bảo vệ, cho đến những nữ nhân được trang sức bằng vòng hoa (đám cưới).Kāmesumicchācāraṁ pahāya, kāmesumicchācārā paṭivirato hoti yā tā māturakkhitā piturakkhitā mātāpiturakkhitā bhāturakkhitā bhaginirakkhitā ñātirakkhitā gottarakkhitā dhammarakkhitā sasāmikā saparidaṇḍā antamaso mālāguḷaparikkhittāpi, tathārūpāsu na cārittaṁ āpajjitā hoti.They give up sexual misconduct. They don’t have relations with women who have their mother, father, both mother and father, brother, sister, relatives, or clan as guardian. They don’t have relations with a woman who is protected on principle, or who has a husband, or whose violation is punishable by law, or even one who has been garlanded as a token of betrothal.
28Như vậy, này Cunda, tịnh hạnh về thân có ba.Evaṁ kho, cunda, tividhaṁ kāyena soceyyaṁ hoti.This is the threefold purity by way of body.
29Và này Cunda, thế nào là tịnh hạnh về lời có bốn?
Ở đây, này Cunda có người đoạn tận nói láo, từ bỏ nói láo, đến chỗ tập hội hay đến chỗ chúng tội, hay đến giữa các thân tộc, hay đến giữa các tổ hợp, hay đến giữa các vương tộc, khi bị dẫn xuất làm chứng và được hỏi: “Này người kia, hãy nói những gì người biết”. Nếu không biết, người ấy nói: “Tôi không biết”. Nếu biết, người ấy nói: “Tôi biết”. Hay nếu không thấy, người ấy nói: “Tôi không thấy”. Nếu thấy, người ấy nói: “Tôi thấy”. Như vậy lời nói của người ấy không trở thành cố ý vọng ngữ, hoặc nguyên nhân vì mình, hoặc nguyên nhân vì người, hoặc nguyên nhân vì một vài quyền lợi gì.Kathañca, cunda, catubbidhaṁ vācāya soceyyaṁ hoti? Idha, cunda, ekacco musāvādaṁ pahāya musāvādā paṭivirato hoti. Sabhaggato vā parisaggato vā ñātimajjhagato vā pūgamajjhagato vā rājakulamajjhagato vā abhinīto sakkhipuṭṭho: ‘ehambho purisa, yaṁ jānāsi taṁ vadehī’ti, so ajānaṁ vā āha: ‘na jānāmī’ti, jānaṁ vā āha: ‘jānāmī’ti, apassaṁ vā āha: ‘na passāmī’ti, passaṁ vā āha: ‘passāmī’ti. Iti attahetu vā parahetu vā āmisakiñcikkhahetu vā na sampajānamusā bhāsitā hoti.And how is purity fourfold by way of speech? It’s when someone gives up lying. They’re summoned to a council, an assembly, a family meeting, a guild, or to the royal court, and asked to bear witness: ‘Please, my friend, say what you know.’ Not knowing, they say ‘I don’t know.’ Knowing, they say ‘I know.’ Not seeing, they say ‘I don’t see.’ And seeing, they say ‘I see.’ So they don’t deliberately lie for the sake of themselves or another, or for some trivial worldly reason.
30Đoạn tận nói hai lưỡi, từ bỏ nói hai lưỡi, nghe điều gì ở chỗ này, không đi đến chỗ kia nói, để sanh chia rẽ ở những người này; nghe điều gì ở chỗ kia, không đi nói với những người này, để sanh chia rẽ ở những người kia. Như vậy người ấy sống hòa hợp những kẻ ly gián, tăng trưởng những kẻ hòa hiệp, thích thú hòa hợp, nói những lời đưa đến hòa hợp.Pisuṇaṁ vācaṁ pahāya, pisuṇāya vācāya paṭivirato hoti—na ito sutvā amutra akkhātā imesaṁ bhedāya, na amutra vā sutvā imesaṁ akkhātā amūsaṁ bhedāya. Iti bhinnānaṁ vā sandhātā sahitānaṁ vā anuppadātā samaggārāmo samaggarato samagganandī samaggakaraṇiṁ vācaṁ bhāsitā hoti.They give up backbiting. They don’t repeat in one place what they heard in another so as to divide people against each other. Instead, they reconcile those who are divided and support those who are united, delighting in harmony, loving harmony, speaking words that promote harmony.
31Đoạn tận lời nói độc ác, từ bỏ lời nói độc ác, những lời nói nhu hòa, êm tai, dễ thương, thông cảm đến tâm, tao nhã, đẹp lòng nhiều người, vui ý nhiều người, người ấy nói những lời như vậy.Pharusaṁ vācaṁ pahāya, pharusāya vācāya paṭivirato hoti. Yā sā vācā nelā kaṇṇasukhā pemanīyā hadayaṅgamā porī bahujanakantā bahujanamanāpā, tathārūpiṁ vācaṁ bhāsitā hoti.They give up harsh speech. They speak in a way that’s mellow, pleasing to the ear, endearing, going to the heart, polite, and likable and agreeable to the people.
32Đoạn tận lời nói phù phiếm, nói đúng thời, nói chân thật, nói có ý nghĩa, nói Pháp, nói Luật, nói những lời đáng được gìn giữ. Vì nói hợp thời, nên lời nói thuận lý, có mạch lạc, hệ thống, lợi ích.Samphappalāpaṁ pahāya, samphappalāpā paṭivirato hoti kālavādī bhūtavādī atthavādī dhammavādī vinayavādī; nidhānavatiṁ vācaṁ bhāsitā hoti kālena sāpadesaṁ pariyantavatiṁ atthasaṁhitaṁ.They give up talking nonsense. Their words are timely, true, and meaningful, in line with the teaching and training. They say things at the right time which are valuable, reasonable, succinct, and beneficial.
33Như vậy, này Cunda, tịnh hạnh về lời nói có bốn.Evaṁ kho, cunda, catubbidhaṁ vācāya soceyyaṁ hoti.This is the fourfold purity by way of speech.
34Và này Cunda, thế nào là tịnh hạnh về ý có ba?
Ở đây, này Cunda, có người không tham ái, không tham lam tài vật kẻ khác, không nghĩ rằng: “Ôi! Mong rằng mọi tài vật của người khác trở thành của mình”.Kathañca, cunda, tividhaṁ manasā soceyyaṁ hoti? Idha, cunda, ekacco anabhijjhālu hoti. Yaṁ taṁ parassa paravittūpakaraṇaṁ taṁ anabhijjhitā hoti: ‘aho vata yaṁ parassa taṁ mamassā’ti.And how is purity threefold by way of mind? It’s when someone is content. They don’t covet the wealth and belongings of others: ‘Oh, if only their belongings were mine!’
35Không có sân tâm, khởi lên hại ý, hại niệm, nhưng nghĩ rằng: “Mong rằng những loài hữu tình này sống lo tự ngã, không thù hận, không sân hận, không nhiễm loạn, được an lạc”.Abyāpannacitto hoti appaduṭṭhamanasaṅkappo: ‘ime sattā averā hontu abyāpajjā, anīghā sukhī attānaṁ pariharantū’ti.They have a kind heart and loving intentions: ‘May these sentient beings live free of enmity and ill will, untroubled and happy!’
36Có chánh kiến, không có tư tưởng điên đảo, nghĩ rằng: “Có bố thí, có cúng thí, có tế lễ, các hành vi thiện ác, có kết quả dị thục, có đời này, có đời sau, có mẹ, có cha, có các loại hóa sanh, trong đời có các Sa-môn, Bà-la-môn chân chánh hành trì, chân chánh thành tựu, sau khi tự tri, tự chứng, lại tuyên bố cho đời này và cho đời sau”.Sammādiṭṭhiko hoti aviparītadassano: ‘atthi dinnaṁ, atthi yiṭṭhaṁ, atthi hutaṁ, atthi sukaṭadukkaṭānaṁ kammānaṁ phalaṁ vipāko, atthi ayaṁ loko, atthi paro loko, atthi mātā, atthi pitā, atthi sattā opapātikā, atthi loke samaṇabrāhmaṇā sammaggatā sammāpaṭipannā ye imañca lokaṁ parañca lokaṁ sayaṁ abhiññā sacchikatvā pavedentī’ti.They have right view, an undistorted perspective: ‘There is meaning in giving, sacrifice, and offerings. There are fruits and results of good and bad deeds. There is an afterlife. There are such things as mother and father, and beings that are reborn spontaneously. And there are ascetics and brahmins who are rightly comported and rightly practiced, and who describe the afterlife after realizing it with their own insight.’
37Như vậy, này Cunda, tịnh hạnh về ý có ba.Evaṁ kho, cunda, tividhaṁ manasā soceyyaṁ hoti.This is the threefold purity by way of mind.
38Này Cunda, có mười thiện nghiệp đạo này. Này Cunda, ai thành tựu mười thiện nghiệp đạo này, nếu có dậy sớm và từ giường chạm đất, vị ấy vẫn trong sạch. Nếu vị ấy không chạm xuống đất, vị ấy vẫn trong sạch.Ime kho, cunda, dasa kusalakammapathā. Imehi kho, cunda, dasahi kusalehi kammapathehi samannāgato kālasseva uṭṭhahantova sayanamhā pathaviñcepi āmasati, suciyeva hoti; no cepi pathaviṁ āmasati, suciyeva hoti.These are the ten ways of doing skillful deeds. When you have these ten ways of doing skillful deeds, then if you rise early, whether or not you stroke the earth from your bed, you’re still pure.
39Nếu vị ấy chạm phân bò ướt, vị ấy vẫn trong sạch. Nếu vị ấy không chạm phân bò ướt, vị ấy vẫn trong sạch.Allāni cepi gomayāni āmasati, suciyeva hoti; no cepi allāni gomayāni āmasati, suciyeva hoti.Whether or not you stroke fresh cow dung, you’re still pure.
40Nếu vị ấy chạm cỏ xanh, vị ấy vẫn trong sạch. Nếu vị ấy không chạm cỏ xanh, vị ấy vẫn trong sạch.Haritāni cepi tiṇāni āmasati, suciyeva hoti; no cepi haritāni tiṇāni āmasati, suciyeva hoti.Whether or not you stroke green grass, you’re still pure.
41Nếu vị ấy thờ lửa, vị ấy vẫn trong sạch. Nếu vị ấy không thờ lửa, vị ấy vẫn trong sạch.Aggiñcepi paricarati, suciyeva hoti; no cepi aggiṁ paricarati, suciyeva hoti.Whether or not you serve the sacred flame, you’re still pure.
42Nếu vị ấy chắp tay đảnh lễ mặt trời, vị ấy vẫn trong sạch. Nếu vị ấy không chắp tay đảnh lễ mặt trời, vị ấy vẫn trong sạch.Pañjaliko cepi ādiccaṁ namassati, suciyeva hoti; no cepi pañjaliko ādiccaṁ namassati, suciyeva hoti.Whether or not you revere the sun with cupped palms, you’re still pure.
43Nếu vào buổi chiều, vị ấy xuống nước lần thứ ba, vị ấy vẫn trong sạch. Vì sao? Này Cunda, mười thiện nghiệp đạo này là trong sạch, tác thành trong sạch.Sāyatatiyakañcepi udakaṁ orohati, suciyeva hoti; no cepi sāyatatiyakaṁ udakaṁ orohati, suciyeva hoti. Taṁ kissa hetu? Ime, cunda, dasa kusalakammapathā sucīyeva honti sucikaraṇā ca.Whether or not you immerse yourself in water three times, you’re still pure. Why is that? These ten ways of doing skillful deeds are pure and make things pure.
44Do nhân thành tựu mười thiện nghiệp đạo này, chư Thiên được tuyên bố, loài Người được tuyên bố, hay bất cứ thiện thú nào khác được tuyên bố.Imesaṁ pana, cunda, dasannaṁ kusalānaṁ kammapathānaṁ samannāgamanahetu devā paññāyanti, manussā paññāyanti, yā vā panaññāpi kāci sugatiyo”ti.It’s because of those who do these ten kinds of skillful deeds that gods, humans, or any other good places are found.”
45Được nói vậy, Cunda, con người thợ rèn thưa với Thế Tôn:
—Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn…! Mong Thế Tôn nhận con làm đệ tử cư sĩ, từ nay cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng.Evaṁ vutte, cundo kammāraputto bhagavantaṁ etadavoca: “abhikkantaṁ, bhante …pe… upāsakaṁ maṁ, bhante, bhagavā dhāretu ajjatagge pāṇupetaṁ saraṇaṁ gatan”ti. Dasamaṁ.When he said this, Cunda the smith said to the Buddha, “Excellent, sir! Excellent! … From this day forth, may the Buddha remember me as a lay follower who has gone for refuge for life.”
Viết bởi Tuệ Minh
Nguồn trích dẫn
- Tăng Chi Bộ 10.176 (Cunda Sutta). Bản Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka, AN 10.176 trên SuttaCentral.
- Bản tiếng Anh: Bhikkhu Sujato dịch, SuttaCentral, phát hành theo giấy phép CC0.
- Bản tiếng Việt: HT. Thích Minh Châu dịch (bản trên SuttaCentral). Bản dịch tiếng Việt của HT. Thích Minh Châu, trích đăng để phụng sự Pháp thí; nếu chủ sở hữu bản quyền có yêu cầu, xin liên hệ 0902 332 970 để điều chỉnh.