Kinh Cung Kính
Sakkāra Sutta
Kinh Cung Kính nói về những người bị cung kính chinh phục, bị không cung kính chinh phục và bị cả hai chinh phục, rồi nêu hình ảnh người có tâm định không lay chuyển trong cả hai trường hợp.
Trước khi đọc kinh
Tóm lại
- Tâm bị cung kính chinh phục đưa đến cõi dữ sau khi thân hoại mạng chung.
- Tâm bị không cung kính chinh phục cũng đưa đến cõi dữ như vậy.
- Người có tâm định không lay chuyển trong cả hai trường hợp được gọi là bậc chân nhân.
Kinh Cung Kính thuộc tập Phật Thuyết Như Vậy và mang số hiệu 81. Bài kinh được trình bày thành một khối liền, nên phần giới thiệu này nhắc vị trí theo ý, không nêu số đoạn. Bài kinh gồm phần xuôi lặp lại ba trường hợp của tâm bị chinh phục, phần khẳng định rằng lời này đến từ sự biết và thấy trực tiếp, và phần kệ nêu hình ảnh bậc chân nhân.
Chữ sakkārena, do cung kính, và chữ asakkārena, do không cung kính, là hai đầu của cùng một thử thách. Theo cách đọc của người viết, không phải câu trong kinh, trong cả hai trường hợp, điều nguy hiểm không phải là lời khen hay lời chê bên ngoài, mà là tâm bị chinh phục và bị xâm chiếm bởi chính sự cung kính hay không cung kính ấy.
Thuật ngữ Pāli trong kinh
- sakkārena
- do cung kính
- asakkārena
- do không cung kính
- abhibhūtā
- bị chinh phục
- pariyādinnacittā
- tâm bị xâm chiếm
- apāyaṁ
- cõi dữ
- duggatiṁ
- ác thú
- vinipātaṁ
- đọa xứ
- nirayaṁ
- địa ngục
- Samādhi
- tâm định
- jhāyinaṁ
- người thường thiền tư
- sappuriso
- bậc chân nhân
Kinh Cung Kính
1Này các Tỷ-kheo, Ta đã thấy các chúng sanh bị cung kính chinh phục, bị tâm cung kính xâm chiếm, sau khi thân hoại mạng chung, bị sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục.
Này các Tỷ-kheo, Ta đã thấy các chúng sanh bị không cung kính chinh phục, tâm bị không cung kính xâm chiếm, sau khi thân hoại mạng chung, bị sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục.
Này các Tỷ-kheo, Ta đã thấy các chúng sanh khi tâm bị chinh phục, bị xâm chiếm bởi cả hai cung kính và không cung kính, sau khi thân hoại mạng chung, bị sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục.
Này các Tỷ-kheo, sau khi không nghe một Sa-môn hay Bà-la-môn nào khác nói lên, Ta nói lên lời nói này: “Này các Tỷ-kheo, Ta đã thấy các chúng sanh, bị cung kính chinh phục, tâm bị cung kính xâm chiếm, sau khi thân hoại mạng chung, bị sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục.
Này các Tỷ-kheo, Ta đã thấy các chúng sanh, khi bị không cung kính chinh phục, tâm bị không cung kính xâm chiếm, sau khi thân hoại mạng chung, bị sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục.
Này các Tỷ-kheo, Ta đã thấy các chúng sanh khi bị chinh phục, tâm bị xâm chiếm bởi cả hai cung kính và không cung kính, sau khi thân hoại mạng chung, bị sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục”.
Và này các Tỷ-kheo, vì rằng Ta tự mình biết, tự mình thấy, tự mình tìm ra nên Ta tuyên bố rằng: “Này các Tỷ-kheo, ta đã thấy các chúng sanh, khi bị cung kính chinh phục, tâm bị cung kính xâm chiếm, sau khi thân hoại mạng chung, bị sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Này các Tỷ-kheo, Ta đã thấy các chúng sanh, khi bị không cung kính chinh phục, tâm bị không cung kính xâm chiếm, sau khi thân hoại mạng chung bị sanh vào cõi dữ, ác thú, đoạ xứ, địa ngục. Này các Tỷ-kheo, Ta đã thấy các chúng sanh, khi bị chinh phục, tâm bị xâm chiếm bởi cả hai cung kính và không cung kính, sau khi thân hoại mạng chung bị sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục”.
Ai khi được cung kính,
Khi không được cung kính,
Trong cả hai trường hợp,
Tâm định không lay chuyển.
Sống hạnh không phóng dật,
Tâm thường nhập thiền tư,
Với tâm tưởng tế nhị,
Chánh quán các sở kiến,
Ưa thích chấp thủ diệt,
Được gọi bậc chân nhân.Vuttañhetaṁ bhagavatā vuttamarahatāti me sutaṁ: “Diṭṭhā mayā, bhikkhave, sattā sakkārena abhibhūtā, pariyādinnacittā, kāyassa bhedā paraṁ maraṇā apāyaṁ duggatiṁ vinipātaṁ nirayaṁ upapannā. Diṭṭhā mayā, bhikkhave, sattā asakkārena abhibhūtā, pariyādinnacittā, kāyassa bhedā paraṁ maraṇā apāyaṁ duggatiṁ vinipātaṁ nirayaṁ upapannā. Diṭṭhā mayā, bhikkhave, sattā sakkārena ca asakkārena ca tadubhayena abhibhūtā, pariyādinnacittā, kāyassa bhedā paraṁ maraṇā apāyaṁ duggatiṁ vinipātaṁ nirayaṁ upapannā. Taṁ kho panāhaṁ, bhikkhave, nāññassa samaṇassa vā brāhmaṇassa vā sutvā vadāmi; (…) api ca, bhikkhave, yadeva me sāmaṁ ñātaṁ sāmaṁ diṭṭhaṁ sāmaṁ viditaṁ tamevāhaṁ vadāmi. Diṭṭhā mayā, bhikkhave, sattā sakkārena abhibhūtā, pariyādinnacittā, kāyassa bhedā paraṁ maraṇā apāyaṁ duggatiṁ vinipātaṁ nirayaṁ upapannā. Diṭṭhā mayā, bhikkhave, sattā asakkārena abhibhūtā, pariyādinnacittā, kāyassa bhedā paraṁ maraṇā apāyaṁ duggatiṁ vinipātaṁ nirayaṁ upapannā. Diṭṭhā mayā, bhikkhave, sattā sakkārena ca asakkārena ca tadubhayena abhibhūtā, pariyādinnacittā, kāyassa bhedā paraṁ maraṇā apāyaṁ duggatiṁ vinipātaṁ nirayaṁ upapannā”ti. Etamatthaṁ bhagavā avoca. Tatthetaṁ iti vuccati: “Yassa sakkariyamānassa, asakkārena cūbhayaṁ; Samādhi na vikampati, appamādavihārino. Taṁ jhāyinaṁ sātatikaṁ, sukhumadiṭṭhivipassakaṁ; Upādānakkhayārāmaṁ, āhu sappuriso itī”ti. Ayampi attho vutto bhagavatā, iti me sutanti. Dutiyaṁ.This was said by the Buddha, the Perfected One: that is what I heard. “I’ve seen, mendicants, sentient beings whose minds are overcome and overwhelmed by honor. When their body broke up, after death, they were reborn in a place of loss, a bad place, the underworld, hell. I’ve seen sentient beings whose minds are overcome and overwhelmed by not being honored. When their body broke up, after death, they were reborn in a place of loss, a bad place, the underworld, hell. I’ve seen sentient beings whose minds are overcome and overwhelmed by both honor and by not being honored. When their body broke up, after death, they were reborn in a place of loss, a bad place, the underworld, hell. Now, I don’t say this because I’ve heard it from some other ascetic or brahmin. I only say it because I’ve known, seen, and realized it for myself.” The Buddha spoke this matter. On this it is said: “Whether they’re honored or not honored, or both, their immersion doesn’t waver as they abide in the immeasurables. They persistently practice absorption with subtle view and discernment. Rejoicing in the ending of grasping, they’re said to be a true person.” This too is a matter that was spoken by the Blessed One: that is what I heard.
Giải nghĩa ngắn
Theo cách đọc của người viết, không phải câu trong kinh, điểm lạ của bài kinh là cả hai phía đều đưa đến cùng một kết quả khi tâm bị chinh phục. Được cung kính có thể khiến tâm bám vào lời khen, không được cung kính có thể khiến tâm bám vào sự bực bội, và cả hai đều là tâm bị xâm chiếm. Vấn đề vì vậy không nằm ở việc người khác đối xử ra sao, mà nằm ở chỗ tâm có giữ được sự vững vàng hay không.
Ví dụ của người viết, không phải chuyện trong kinh: chị Lan bán hàng ở chợ và có hôm được khách khen ngợi hết lời, có hôm lại bị khách chê bai nặng lời. Khi được khen, chị vui quá mức và làm việc cẩu thả, khi bị chê, chị buồn bực cả buổi và nói nặng với người nhà. Hình ảnh ấy chỉ giúp bạn hình dung cách khen và chê đều có thể làm tâm lay chuyển, theo cách đọc của người viết, không phải câu trong kinh.
Kinh còn nhấn mạnh rằng lời dạy này đến từ sự biết, sự thấy và sự tìm ra trực tiếp, chứ không phải từ việc nghe người khác nói lại. Theo cách đọc của người viết, không phải câu trong kinh, sự nhấn mạnh ấy đặt trọng tâm vào sự thấy biết rõ ràng, chứ không phải vào việc tin theo lời đồn hay theo uy tín của người nói.
Phần kệ nêu hình ảnh bậc chân nhân là người có tâm định không lay chuyển trong cả hai trường hợp, sống không phóng dật, tâm thường nhập thiền tư, chánh quán các sở kiến và ưa thích diệt chấp thủ. Theo cách đọc của người viết, không phải câu trong kinh, tâm định không lay chuyển ở đây không có nghĩa là lạnh lùng trước khen chê, mà là không để khen chê quyết định việc làm của bản thân.
Được cung kính hay không được cung kính, tâm định không lay chuyển mới là dấu hiệu của bậc chân nhân.
Viết bởi Diệu Hạnh
Nguồn trích dẫn
- Phật Thuyết Như Vậy 81 (Sakkāra Sutta, Itivuttaka 81). Bản Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka, Iti 81 trên SuttaCentral.
- Bản tiếng Anh: Bhikkhu Sujato dịch, SuttaCentral, phát hành theo giấy phép CC0.
- Bản tiếng Việt: HT. Thích Minh Châu dịch (Tiểu Bộ Kinh, Kinh Phật Thuyết Như Vậy, Chương Ba Pháp; bản trên phatphapungdung.com, lấy ngày 24/10/2026). Bản dịch tiếng Việt của HT. Thích Minh Châu, trích đăng để phụng sự Pháp thí; nếu chủ sở hữu bản quyền có yêu cầu, xin liên hệ 0902 332 970 để điều chỉnh.
- Tên kinh tiếng Việt do Hoan Hỉ đặt theo tên Pāli; bản dịch của HT. Thích Minh Châu không đặt tên riêng cho từng kinh trong Phật Thuyết Như Vậy.