Kinh Ác Hạnh
Duccarita Sutta
Kinh Ác Hạnh nêu ba ác hành là thân ác hành, ngữ ác hành và ý ác hành, rồi bài kệ nói người làm nhiều nghiệp không thiện sẽ sanh vào địa ngục khi thân hoại mạng chung.
Trước khi đọc kinh
Tóm lại
- Ba ác hành là thân ác hành, ngữ ác hành và ý ác hành.
- Người không làm nghiệp lành nào, làm nhiều nghiệp không thiện.
- Khi thân hoại mạng chung, người trí tuệ hạ liệt ấy sanh vào cảnh giới địa ngục.
Kinh Ác Hạnh nằm trong bộ Phật Thuyết Như Vậy, thuộc Tiểu Bộ, một trong năm bộ Nikāya (năm bộ kinh gốc bằng tiếng Pāli). Bài kinh mang số hiệu Iti 64 và mở đầu bằng lời dạy gửi đến các Tỷ-kheo, tức các vị xuất gia trong Tăng đoàn, về ba ác hành. Phần văn xuôi nằm ở đoạn 1.1 đến 2.6, bài kệ nằm ở đoạn 3.1 đến 4.4, và lời kết nằm ở đoạn 5.1 đến 5.2.
Chữ duccaritāni, các ác hành, chỉ những hành động xấu về thân, lời và ý, còn bài kệ mở rộng sang bất cứ hạnh nào được gọi là hạnh ác. Kinh không kể một câu chuyện dài và không nêu tên một người nào, mà đi từ lời dạy ngắn gọn đến bài kệ nói về quả của người làm nhiều nghiệp không thiện.
Thuật ngữ Pāli trong kinh
- kāyaduccaritaṁ
- thân ác hành
- vacīduccaritaṁ
- ngữ ác hành
- manoduccaritaṁ
- ý ác hành
- kusalaṁ
- lành
- kammaṁ
- nghiệp
- duppañño
- người trí tuệ hạ liệt
- nirayaṁ
- địa ngục
Kinh Ác Hạnh
1Điều này đã được Thế Tôn nói đến, đã được bậc A-la-hán nói đến, và tôi đã được nghe:
Này các Tỷ-kheo, có ba ác hành này. Thế nào là ba? Thân ác hành, ngữ ác hành, ý ác hành. Này các Tỷ-kheo, có ba ác hành này.
Thế Tôn đã nói lên ý nghĩa này. Ở đây, điều này được nói đến.Vuttañhetaṁ bhagavatā vuttamarahatāti me sutaṁ: “Tīṇimāni, bhikkhave, duccaritāni. Katamāni tīṇi? Kāyaduccaritaṁ, vacīduccaritaṁ, manoduccaritaṁ— imāni kho, bhikkhave, tīṇi duccaritānī”ti. Etamatthaṁ bhagavā avoca. Tatthetaṁ iti vuccati:This was said by the Buddha, the Perfected One: that is what I heard. “Mendicants, there are these three kinds of bad conduct. What three? Bad conduct by way of body, speech, and mind. These are the three kinds of bad conduct.” The Buddha spoke this matter. On this it is said:
2Làm ác hạnh về thân,
Làm ác hạnh về lời,
Làm ác hạnh về ý,
Và bất cứ hạnh gì,
Đều được gọi hạnh ác,
Không làm nghiệp lành nào,
Làm nhiều nghiệp không thiện,
Khi thân hoại mạng chung,
Với trí tuệ hạ liệt,
Vị ấy phải sanh vào
Trong cảnh giới địa ngục.“Kāyaduccaritaṁ katvā,
vacīduccaritāni ca;
Manoduccaritaṁ katvā,
yañcaññaṁ dosasaṁhitaṁ.
Akatvā kusalaṁ kammaṁ,
katvānākusalaṁ bahuṁ;
Kāyassa bhedā duppañño,
nirayaṁ sopapajjatī”ti.“Having done bad things by way of body, speech, and mind, and whatever else is corrupt; not having done good deeds, and having done many bad, when their body breaks up, that witless person is reborn in hell.”
3Ý nghĩa này được Thế Tôn nói đến và tôi đã được nghe.Ayampi attho vutto bhagavatā, iti me sutanti. Pañcamaṁ.This too is a matter that was spoken by the Blessed One: that is what I heard.
Giải nghĩa ngắn
Kinh nêu ba ác hành là thân ác hành, ngữ ác hành và ý ác hành. Theo cách đọc của người viết, không phải câu trong kinh, việc kinh nêu ba ác hành ấy giúp bạn xét lại hành động từ gốc phát sinh của nó, thay vì chỉ xét vẻ ngoài của hành động đã thành.
Bài kệ nói thêm rằng người ấy không làm nghiệp lành nào mà làm nhiều nghiệp không thiện, và khi thân hoại mạng chung thì sanh vào địa ngục với trí tuệ hạ liệt. Theo cách đọc của người viết, không phải câu trong kinh, hai phía không làm lành và làm nhiều điều không thiện đi cùng nhau cho thấy quả ấy không đến từ một hành động đơn lẻ mà đến từ một lối sống đã lặp lại nhiều lần.
Ví dụ của người viết, không phải chuyện trong kinh: chị Lan quen miệng nói lời cay độc với đồng nghiệp, lâu ngày lời nói ấy làm hỏng quan hệ trong nhóm, và thiệt hại bắt đầu từ lời nói lặp lại chứ không bắt đầu từ một lần lỡ lời duy nhất.
Kinh không dạy cách tránh quả bằng một nghi lễ hay một lời cầu xin, và bài này cũng không thêm điều ấy. Theo cách đọc của người viết, không phải câu trong kinh, hướng ngược lại là dừng ác hạnh về thân, lời và ý, còn việc dừng ấy bắt đầu từ việc thấy rõ hành động của chính người ấy trong đời sống hằng ngày.
Ác hạnh về thân, lời và ý đưa đến quả địa ngục cho người làm nhiều nghiệp không thiện.
Viết bởi Diệu Hạnh
Nguồn trích dẫn
- Phật Thuyết Như Vậy 64 (Duccarita Sutta, Itivuttaka 64). Bản Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka, Iti 64 trên SuttaCentral.
- Bản tiếng Anh: Bhikkhu Sujato dịch, SuttaCentral, phát hành theo giấy phép CC0.
- Bản tiếng Việt: HT. Thích Minh Châu dịch (Tiểu Bộ Kinh, Kinh Phật Thuyết Như Vậy, Chương Ba Pháp; bản trên phatphapungdung.com, lấy ngày 24/10/2026). Bản dịch tiếng Việt của HT. Thích Minh Châu, trích đăng để phụng sự Pháp thí; nếu chủ sở hữu bản quyền có yêu cầu, xin liên hệ 0902 332 970 để điều chỉnh.
- Tên kinh tiếng Việt do Hoan Hỉ đặt theo tên Pāli; bản dịch của HT. Thích Minh Châu không đặt tên riêng cho từng kinh trong Phật Thuyết Như Vậy.