Kinh Dhammika
Dhammika Sutta
Còn gọi là: Kinh Tập 2.14
Một cận sự nam cùng năm trăm bạn đạo hỏi Đức Phật: người con Phật, xuất gia hay tại gia, sống thế nào mới là tốt? Câu trả lời cho người tại gia rất cụ thể: năm giới, ngày Bố-tát, cha mẹ và nghề nghiệp.
Trước khi đọc kinh
Kinh Dhammika (Dhammika Sutta) là bài kinh thứ mười bốn, cũng là bài cuối của phẩm Tiểu (Cūḷavagga) trong Kinh Tập. Khi Đức Phật ở Kỳ Viên (Jetavana), tu viện của ông Cấp Cô Độc (Anāthapiṇḍika) gần Xá-vệ (Sāvatthī), cận sự nam Dhammika cùng năm trăm cận sự nam đến hỏi: người đệ tử làm thế nào mới là người tốt, dù là người xuất gia hay người tại gia (đoạn 1.3, kệ 2.1–2.4)? Theo chú giải Kinh Tập (Paramatthajotikā), Dhammika xứng với tên mình, nghĩa là người sống đúng Pháp: ông thông thạo Tam tạng, đã chứng quả Bất lai, và năm trăm bạn đạo đi cùng cũng như vậy; ý muốn hỏi khởi lên vào một đêm ông giữ ngày Bố-tát. Trước khi hỏi, ông tán thán Đức Phật: Long vương Erāvaṇa và vua Tỳ-sa-môn (Vessavaṇa) Kuvera đều đã đến hỏi Pháp và ra về hoan hỉ (kệ 5.1–6.4). Theo chú giải, Erāvaṇa là một vị thiên tử, mỗi khi Thiên chủ Đế Thích (Sakka) đi dạo vườn thì hóa thân làm voi chúa; còn Tỳ-sa-môn, tên cũ là Kuvera, là vị vua cai quản thành Visāṇā.
Đức Phật dạy người xuất gia trước: vào làng khất thực đúng thời; ăn xong ngồi một mình, quán xét bên trong; chuyện trò thì nói về Pháp, không đâm thọc, không chê bai, không dàn trận tranh cãi; dùng đồ ăn, chỗ ở, nước giặt y có suy xét, không nhiễm như giọt nước trên lá sen (kệ 11.1–18.4). Chú giải ghi một chi tiết: lúc ấy học giới cấm ăn phi thời chưa được chế định, nên lời dạy ở kệ 12 được nói như một bài Pháp. Rồi Ngài nói: người còn vướng bận ruộng vườn, của cải thì không thể giữ trọn pháp của Tỷ-kheo (kệ 19.3–19.4), và dạy bổn phận người tại gia: không giết hại, không lấy của không cho, không nói dối, không uống rượu; nếu chưa thể sống phạm hạnh thì không xâm phạm vợ người (kệ 20.1–25.4). Các giới không giết, không trộm, không nói dối, không uống rượu đều có ba lớp: tự mình không làm, không bảo người làm, không chấp thuận khi người khác làm; chú giải gọi đó là giới thanh tịnh cả ba phương diện. Vào ngày mười bốn, ngày mười lăm và ngày thứ tám của mỗi nửa tháng, người tại gia giữ thêm: kiêng hành dâm, không ăn phi thời, không đeo hoa, không dùng hương, nằm giường đơn sơ hay tấm trải dưới đất, thành ngày Bố-tát đủ tám chi phần (kệ 26.1–28.4). Kệ 28.3 còn nhắc những kỳ Bố-tát đặc biệt (pāṭihāriyapakkha); theo chú giải, đó là năm tháng từ tháng Āsāḷha, qua ba tháng an cư mùa mưa, đến hết tháng Kattika, còn có vị thầy hiểu là những ngày liền trước và liền sau mỗi ngày Bố-tát. Giữ xong, sáng hôm sau người ấy cúng dường chư Tăng tùy sức (kệ 29.1–29.4). Bài kệ cuối: nuôi cha mẹ đúng Pháp, làm nghề buôn bán chân chánh, không phóng dật, sẽ sinh về cõi chư thiên Tự Quang (kệ 30.1–30.4). Theo chú giải, nuôi cha mẹ đúng Pháp là bằng của cải làm ra đúng Pháp; buôn bán chân chánh là tránh năm nghề buôn bán: buôn bán chúng sinh, vũ khí, chất độc, thịt và rượu, cũng là năm nghề trong Kinh Năm Nghề Buôn Bán (AN 5.177); còn chư thiên Tự Quang là chư thiên sáu cõi trời dục giới, tự thân phát ra ánh sáng.
Lời kinh không đòi người tại gia sống như nhà sư; Đức Phật nói rõ điều ấy không thể (kệ 19.3–19.4). Điều Ngài trao là một khung sống vững vàng: năm giới cho mọi ngày, tám giới cho những ngày Bố-tát, và hai bổn phận lớn là nuôi cha mẹ và kiếm sống ngay thẳng. Về ngày giữ tám giới mà người Việt quen gọi là Bát quan trai, có Kinh Bát Quan Trai (AN 8.41); về bổn phận với cha mẹ và những người quanh mình, có Kinh Thi-ca-la-việt (DN 31). Nếu bạn chưa từng giữ một ngày tám giới, tháng này bạn có thể chọn một ngày Bố-tát, giữ trọn từ sáng hôm ấy đến sáng hôm sau, rồi để ý xem lòng mình nhẹ đi thế nào.
Ý chính
- Người đệ tử, xuất gia hay tại gia, làm thế nào mới là người tốt (2.1–2.4).
- Tỷ-kheo vào làng khất thực đúng thời, ăn xong ngồi một mình quán xét bên trong (12.1–14.4).
- Dùng đồ ăn, chỗ ở, nước giặt y có suy xét, không nhiễm như giọt nước trên lá sen (17.1–18.4).
- Người tại gia không giết, không trộm, không nói dối, không bảo người làm, không chấp thuận khi người khác làm; không xâm phạm vợ người (20.1–23.4).
- Tránh rượu và chất say, vì say sưa mà kẻ ngu làm các điều ác (24.1–25.4).
- Giữ ngày Bố-tát đủ tám chi phần, nuôi cha mẹ đúng Pháp, buôn bán chân chánh, không phóng dật (26.1–30.4).
Thuật ngữ Pāli trong kinh
- upāsaka
- cận sự nam, Phật tử tại gia
- gahaṭṭhavatta
- bổn phận của người tại gia
- vikāla
- phi thời: quá giữa trưa, không phải lúc ăn
- abrahmacariya
- đời sống không phạm hạnh, tức hành dâm; người tại gia chưa kiêng hẳn thì giữ không tà dâm
- majja
- rượu và các chất gây say
- uposatha
- ngày Bố-tát, ngày giữ tám giới (Bát quan trai)
- aṭṭhaṅgika
- đủ tám chi phần
- sayampabha
- Tự Quang: chư thiên tự thân phát sáng; theo chú giải là chư thiên sáu cõi trời dục giới
Kinh Dhammika
1–2Như vầy tôi nghe:
Một thời Thế Tôn trú ở Sàvatthi, tại Jetavana, trong khu vườn ông Anàthapindika. Rồi nam cư sĩ Dhammika đi đến Thế Tôn với năm trăm nam cư sĩ, sau khi đến đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, nam cư sĩ Dhammika nói lên những bài kệ với Thế Tôn:
Dhammika:
Kính thưa Gotama,
Bậc trí tuệ rộng lớn,
Con xin kính hỏi Ngài,
Vấn đề đặc biệt này:
Với vị đệ tử Ngài,
Làm thế nào là thiện?
Nếu là vị xuất gia,
Bỏ nhà, sống không nhà,
Hay là vị có nhà,
Sống đời nam cư sĩ?Evaṁ me sutaṁ— ekaṁ samayaṁ bhagavā sāvatthiyaṁ viharati jetavane anāthapiṇḍikassa ārāme. Atha kho dhammiko upāsako pañcahi upāsakasatehi saddhiṁ yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho dhammiko upāsako bhagavantaṁ gāthāhi ajjhabhāsi: “Pucchāmi taṁ gotama bhūripañña, Kathaṅkaro sāvako sādhu hoti; Yo vā agārā anagārameti, Agārino vā panupāsakāse.So I have heard. At one time the Buddha was staying near Sāvatthī in Jeta’s Grove, Anāthapiṇḍika’s monastery. Then the lay follower Dhammika, together with five hundred lay followers, went up to the Buddha, bowed, sat down to one side, and addressed him in verse: “I ask you, Gotama, whose wisdom is vast: what does one do to become a good disciple, both one who has left the home, and the lay followers staying at home?
3Ngài rõ biết đường đi,
Cùng mục đích tối hậu,
Của Thế Tôn đời này,
Và thế giới chư Thiên.
Không ai so sánh Ngài,
Bậc thấy nghĩa thù diệu,
Chính Ngài được tôn xưng,
Là đức Phật thù thắng.Tuvañhi lokassa sadevakassa, Gatiṁ pajānāsi parāyaṇañca; Na catthi tulyo nipuṇatthadassī, Tuvañhi buddhaṁ pavaraṁ vadanti.For you understand the course and destiny of the world with all its gods. There is no equal to you who sees the subtle meaning, for you are the Buddha most excellent, they say.
4Ngài biết tất cả trí,
Ngài trình bày Chánh pháp,
Vì lòng thương, từ mẫn,
Đối với mọi chúng sanh,
Ngài mở rộng bức màn,
Bậc có mắt mọi nơi
Không cấu uế, thanh tịnh,
Ngài chói toàn thế giới.Sabbaṁ tuvaṁ ñāṇamavecca dhammaṁ, Pakāsesi satte anukampamāno; Vivaṭṭacchadosi samantacakkhu, Virocasi vimalo sabbaloke.Having experienced all knowledge, you reveal the teaching out of sympathy for beings. All-seer, you have cast off the veil, and immaculate, you dazzle the whole world.
5Vị vua loài Nàgà
Tên Eràvano,
Đã đến gần bên Ngài,
Được nghe: Ngài chiến thắng.
Vị ấy tìm đến Ngài,
Để nghe lời khuyên nhủ,
Sau khi nghe, thích thú
Nói lên lời: Lành thay!.Āgañchi te santike nāgarājā, Erāvaṇo nāma jinoti sutvā; Sopi tayā mantayitvājjhagamā, Sādhūti sutvāna patītarūpo.The dragon king Erāvaṇa, hearing you called ‘Victor’, came into your presence. He consulted with you then, having heard your words, left consoled, saying ‘Excellent!’
6Vua Vessavana,
Kuvera đến Ngài,
Tìm hiểu hỏi han Ngài
Về vấn đề diệu pháp,
Được hỏi, ôi bậc trí,
Hãy nói lên cho vua!
Sau khi nghe, vị ấy,
Cũng thích thú, ưa thích.Rājāpi taṁ vessavaṇo kuvero, Upeti dhammaṁ paripucchamāno; Tassāpi tvaṁ pucchito brūsi dhīra, So cāpi sutvāna patītarūpo.And King Kuvera Vessavaṇa also approached to ask about the teaching. You also answered him, O attentive one, and hearing you he too was consoled.
7Các bậc ngoại đạo này
Ưa luận tranh khẩu chiến,
Các tà mạng ngoại đạo,
Hay các Ni-kiền Tử,
Tất cả không vượt qua,
Hơn thắng trí của Ngài,
Như người đang đứng lại,
Không thắng kẻ đi mau.Ye kecime titthiyā vādasīlā, Ājīvakā vā yadi vā nigaṇṭhā; Paññāya taṁ nātitaranti sabbe, Ṭhito vajantaṁ viya sīghagāmiṁ.Those monastics of other religions given to debate, whether Ājīvakas or Jains, all fail to overtake you in wisdom, like a standing man next to a sprinter.
8Các Bà-la-môn này,
Ưa luận tranh khẩu chiến,
Có những bậc Phạm-chí,
Đã đến tuổi trưởng thượng,
Tất cả đều trói buộc,
Bởi tư tưởng của Ngài,
Kể cả những hạng người,
Tự phụ nói khoe khoang.Ye kecime brāhmaṇā vādasīlā, Vuddhā cāpi brāhmaṇā santi keci; Sabbe tayi atthabaddhā bhavanti, Ye cāpi aññe vādino maññamānā.Those brahmins given to debate, some of whom are quite senior, all end up beholden to you for the meaning, and others too who think themselves debaters.
9Pháp này là tế nhị,
Đem lại nguồn an lạc,
Đã được bậc Thế Tôn
Khéo nói, khéo thuyết giảng,
Tất cả mọi hạng người,
Đều thích thú ưa nghe,
Được hỏi, hãy nói lên,
Ôi đức Phật tối thượng.Ayañhi dhammo nipuṇo sukho ca, Yoyaṁ tayā bhagavā suppavutto; Tameva sabbepi sussūsamānā, Taṁ no vada pucchito buddhaseṭṭha.So subtle and pleasant is the teaching that is well proclaimed by you, Blessed One. It’s all we long to hear. So when asked, O Best of Buddhas, tell us!
10Các vị Tỷ-kheo này,
Đang ngồi đây tất cả,
Kể cả nam cư sĩ,
Tất cả đều chờ nghe,
Hãy để họ nghe pháp,
Bậc Vô uế Giác ngộ,
Như chư Thiên nghe lời,
Vàsava khéo nói!Sabbepime bhikkhavo sannisinnā, Upāsakā cāpi tatheva sotuṁ; Suṇantu dhammaṁ vimalenānubuddhaṁ, Subhāsitaṁ vāsavasseva devā”.All these mendicants have gathered, and the layfolk too are here to listen. Let them hear the teaching the immaculate one discovered, like gods listening to the fine words of Vāsava.”
11Thế Tôn:
Tỷ-kheo, hãy nghe Ta,
Ta khiến các Thầy nghe,
Pháp đoạn trừ điều ác,
Tất cả hãy trọ trì,
Với ai thấy ý nghĩa,
Nghĩ ngợi có suy tư,
Hãy sống theo chánh hạnh,
Thích hợp với xuất gia.“Suṇātha me bhikkhavo sāvayāmi vo, Dhammaṁ dhutaṁ tañca carātha sabbe; Iriyāpathaṁ pabbajitānulomikaṁ, Sevetha naṁ atthadaso mutīmā.“Listen to me, mendicants, I will educate you in the cleansing teaching; all bear it in mind. A thoughtful person, seeing the meaning, would adopt the deportment proper to a renunciate.
12Tỷ-kheo chớ ra ngoài,
Trong thời gian phi thời,
Hãy vào làng khất thực,
Đúng thời, thì hãy đi,
Ai đi đứng phi thời,
Bị bẫy sập trói buộc.
Do vậy các đức Phật,
Không có đi phi thời.No ve vikāle vicareyya bhikkhu, Gāme ca piṇḍāya careyya kāle; Akālacāriñhi sajanti saṅgā, Tasmā vikāle na caranti buddhā.No way would a mendicant go out at the wrong time; at the right time, they’d walk the village for alms. For chains bind one who wanders at the wrong time, which is why the Buddhas avoid it.
13Các sắc và các tiếng,
Các vị, hương và xúc,
Chính những loại pháp ấy
Làm mê hoặc chúng sanh.
Hãy nhiếp phục, lòng dục,
Đối với các pháp ấy,
Hãy vào cho đúng thời,
Để dùng buổi ăn sáng.Rūpā ca saddā ca rasā ca gandhā, Phassā ca ye sammadayanti satte; Etesu dhammesu vineyya chandaṁ, Kālena so pavise pātarāsaṁ.Sights, sounds, tastes, smells, and touches, which drive beings mad— dispel desire for such things, and enter for the morning meal at the right time.
14Tỷ-kheo được đúng thời,
Các đồ ăn khất thực,
Hãy đi về một mình,
Ngồi tại chỗ an tịnh,
Suy tư hướng nội tâm,
Ý không chạy ra ngoài,
Làm cho thoát ra khỏi,
Mọi chấp thủ tự ngã.Piṇḍañca bhikkhu samayena laddhā, Eko paṭikkamma raho nisīde; Ajjhattacintī na mano bahiddhā, Nicchāraye saṅgahitattabhāvo.After receiving alms for the day, on returning a mendicant would sit in private alone. Inwardly reflective, they’d curb their mind from outside things, keeping themselves collected.
15Nếu vị ấy có nói,
Với một vị đệ tử,
Hay nói với một vị
Một Tỷ-kheo nào khác,
Hãy nói cho vị ấy,
Sự thù diệu Chánh pháp,
Không có nói hai lưỡi,
Không bài xích một ai,Sacepi so sallape sāvakena, Aññena vā kenaci bhikkhunā vā; Dhammaṁ paṇītaṁ tamudāhareyya, Na pesuṇaṁ nopi parūpavādaṁ.Should they converse with a disciple, with anyone else, or with a mendicant, they’d bring up only the sublime teaching, not dividing or blaming.
16Nhưng có những hạng người,
Dùng khẩu chiến bằng lời,
Những hạng người tuệ nhỏ,
Chúng ta không tán thán,
Triền phược trói buộc họ,
Từ chỗ này chỗ kia,
Ở đây họ dẫn tâm,
Đưa tâm đi quá xa.Vādañhi eke paṭiseniyanti, Na te pasaṁsāma parittapaññe; Tato tato ne pasajanti saṅgā, Cittañhi te tattha gamenti dūre.For some contend in debate, but we praise not those of little wisdom. In place after place they are bound in chains, for they send their mind over there far away.
17Đồ khất thực, tinh xá,
Cùng sàng tọa trú xứ,
Nước để trừ bụi nhớp,
Y áo Tăng-già-lê,
Sau khi nghe Chánh pháp,
Do Thiện Thệ thuyết giảng,
Bậc đệ tử thắng tuệ,
Quán sát, hãy dùng chúng.Piṇḍaṁ vihāraṁ sayanāsanañca, Āpañca saṅghāṭirajūpavāhanaṁ; Sutvāna dhammaṁ sugatena desitaṁ, Saṅkhāya seve varapaññasāvako.Alms, a dwelling, a bed and seat, and water for rinsing the dust from the cloak— after hearing the teaching of the Holy One, a disciple of outstanding wisdom would use these after appraisal.
18Do vậy đồ khất thực,
Sàng tọa và trú xứ,
Nước để trừ bụi nhớp,
Y áo Tăng-già-lê,
Đối với những pháp ấy,
Đừng để cho dính nhiễm.
Tỷ-kheo như giọt nước,
Không dính trên lá sen.Tasmā hi piṇḍe sayanāsane ca, Āpe ca saṅghāṭirajūpavāhane; Etesu dhammesu anūpalitto, Bhikkhu yathā pokkhare vāribindu.That’s why, when it comes to alms and lodgings, and water for rinsing the dust from the cloak, a mendicant is unsullied in the midst of these things, like a droplet on a lotus-leaf.
19Trách nhiệm của gia chủ,
Ta cũng nói các Ông,
Làm theo đúng như vậy,
Đệ tử là tốt lành.
Pháp Tỷ-kheo toàn diện,
Khó thành tựu đầy đủ,
Vì là người gia chủ,
Phải làm nhiều việc đời.Gahaṭṭhavattaṁ pana vo vadāmi, Yathākaro sāvako sādhu hoti; Na hesa labbhā sapariggahena, Phassetuṁ yo kevalo bhikkhudhammo.Now I shall tell you the householder’s duty, doing which one becomes a good disciple. For one burdened with possessions does not get to realize the whole of the mendicant’s practice.
20Chớ giết loài hữu tình,
Chớ bảo người giết hại,
Hay chấp nhận kẻ khác,
Giết hại các người khác,
Đối với mọi sanh loại,
Từ bỏ các hình phạt,
Đối với kẻ mạnh bạo,
Như đối kẻ run sợ.Pāṇaṁ na hane na ca ghātayeyya, Na cānujaññā hanataṁ paresaṁ; Sabbesu bhūtesu nidhāya daṇḍaṁ, Ye thāvarā ye ca tasā santi loke.They’d not kill any creature, nor have them killed, nor grant permission for others to kill. They’ve laid aside violence toward all creatures frail or firm that there are in the world.
21Rồi hãy quyết từ bỏ,
Lấy của không được cho,
Đệ tử khéo sáng suốt,
Vật gì, vật của ai,
Chớ khiến người khác lấy,
Chớ chấp nhận lấy trộm.
Hãy từ bỏ, chấm dứt,
Mọi của cải không cho.Tato adinnaṁ parivajjayeyya, Kiñci kvaci sāvako bujjhamāno; Na hāraye harataṁ nānujaññā, Sabbaṁ adinnaṁ parivajjayeyya.Next, a disciple would avoid knowingly taking anything not given at all, they’d not get others to do it, nor grant them permission to steal; they’d avoid <em>all</em> theft.
22Hãy từ bỏ, tránh xa
Đời sống phi Phạm hạnh,
Như bậc trí tránh né,
Lửa cháy hố than hừng.
Nếu tự mình bất lực,
Không thể sống Phạm hạnh,
Thời chớ có xâm phạm
Vợ của các người khác.Abrahmacariyaṁ parivajjayeyya, Aṅgārakāsuṁ jalitaṁva viññū; Asambhuṇanto pana brahmacariyaṁ, Parassa dāraṁ na atikkameyya.A sensible person would avoid the unchaste life, like a burning pit of coals. But if unable to remain chaste, they’d not transgress with another’s partner.
23Khi đi đến hội chúng,
Hay đi đến đoàn chúng,
Hay một mình một người,
Chớ nói lời nói láo,
Chớ khiến người nói láo,
Chớ chấp nhận nói láo,
Tất cả điều không thật,
Hãy tránh xa từ bỏ.Sabhaggato vā parisaggato vā, Ekassa veko na musā bhaṇeyya; Na bhāṇaye bhaṇataṁ nānujaññā, Sabbaṁ abhūtaṁ parivajjayeyya.In a council or assembly, or one on one, they would not lie. They’d not get others to lie, nor grant them permission to lie; they’d avoid <em>all</em> untruths.
24Chớ sống theo nếp sống,
Uống rượu và say rượu,
Với vị là cư sĩ,
Đã chấp nhận pháp này,
Chớ khiến nguời uống rượu,
Chớ chấp thuận uống rượu
Sau khi biết uống rượu,
Cuối đường là điên cuồng.Majjañca pānaṁ na samācareyya, Dhammaṁ imaṁ rocaye yo gahaṭṭho; Na pāyaye pivataṁ nānujaññā, Ummādanantaṁ iti naṁ viditvā.A householder espousing this teaching would not consume liquor or drink. They’d not get others to drink, nor grant them permission to drink; knowing that ends in intoxication.
25Chỉ kẻ ngu say rượu,
Mới làm các điều ác,
Và khiến các người khác,
Sống buông lung phóng dật,
Hãy từ bỏ, tránh xa
Xứ phi công đức này,
Khiến điên cuồng si mê,
Làm kẻ ngu thỏa thích.Madā hi pāpāni karonti bālā, Kārenti caññepi jane pamatte; Etaṁ apuññāyatanaṁ vivajjaye, Ummādanaṁ mohanaṁ bālakantaṁ.For drunken fools do bad things, and encourage other heedless folk. Shun this field of demerit, the maddening, deluding frolic of fools.
26Chớ có giết hữu tình,
Chớ lấy của không cho,
Chớ nói láo không thật,
Chớ uống rượu say mê,
Từ bỏ phi Phạm hạnh,
Không hành trì dâm dục
Không có ăn ban đêm,
Không ăn lúc phi thời.Pāṇaṁ na hane na cādinnamādiye, Musā na bhāse na ca majjapo siyā; Abrahmacariyā virameyya methunā, Rattiṁ na bhuñjeyya vikālabhojanaṁ.You shouldn’t kill living creatures, or steal, or lie, or drink liquor. Be chaste, refraining from sex, and don’t eat at night, the wrong time.
27Chớ mang các vòng hoa,
Chớ dùng các nước thơm,
Hãy nằm trên mặt đất,
Trên thảm chiếu trải dài,
Tám hạnh này được gọi
Là hạnh ngày trai giới,
Do đức Phật giảng dạy,
Để chấm dứt khổ đau.Mālaṁ na dhāre na ca gandhamācare, Mañce chamāyaṁ va sayetha santhate; Etañhi aṭṭhaṅgikamāhuposathaṁ, Buddhena dukkhantagunā pakāsitaṁ.Not wearing garlands or applying fragrance, you should sleep on a low bed, or a mat on the ground. This is the eight-factored sabbath, they say, revealed by the Buddha, who has gone to suffering’s end.
28Từ nay ngày trai giới,
Chia nửa tháng hai phần,
Ngày mười bốn, mười lăm,
Hay ngày tám mỗi tháng,
Với tâm ý hoan hỷ,
Thực hành thần thông pháp
Gồm có đủ tám phần,
Khéo đầy đủ vẹn toàn.Tato ca pakkhassupavassuposathaṁ, Cātuddasiṁ pañcadasiñca aṭṭhamiṁ; Pāṭihāriyapakkhañca pasannamānaso, Aṭṭhaṅgupetaṁ susamattarūpaṁ.Then having rightly undertaken the sabbath complete in all its eight factors on the fourteenth, fifteenth, and eighth of the fortnight, as well as on the fortnightly special displays,
29Do vậy, vào buổi sáng,
Thực hành ngày trai giới,
Bậc có trí sáng suốt,
Với tâm tư tín thành,
Với tâm ý tùy hỷ,
Cúng dường Tỷ-kheo Tăng,
Với món ăn đồ uống,
Hợp với khả năng mình.Tato ca pāto upavutthuposatho, Annena pānena ca bhikkhusaṅghaṁ; Pasannacitto anumodamāno, Yathārahaṁ saṁvibhajetha viññū.at daybreak after the sabbath a clever person, rejoicing with confident heart, would distribute food and drink to the mendicant Saṅgha as is fitting.
30–32Hãy nuôi dưỡng mẹ cha,
Hợp pháp và đúng pháp,
Và cũng đúng với pháp,
Hãy làm nghề buôn bán,
Người gia chủ như vậy,
Sở hành không phóng dật,
Được sanh làm Thiên nhân,
Tên là: "Tự chói sáng".Dhammena mātāpitaro bhareyya, Payojaye dhammikaṁ so vaṇijjaṁ; Etaṁ gihī vattayamappamatto, Sayampabhe nāma upeti deve”ti. Dhammikasuttaṁ cuddasamaṁ. Cūḷavaggo dutiyo. Tassuddānaṁ Ratanāmagandho hiri ca, maṅgalaṁ sūcilomena; Dhammacariyañca brāhmaṇo, nāvā kiṁsīlamuṭṭhānaṁ. Rāhulo puna kappo ca, paribbājaniyaṁ tathā; Dhammikañca viduno āhu, cūḷavagganti cuddasāti.One should rightfully support one’s parents, and undertake a legitimate business. A diligent layperson observing these duties ascends to the gods named ‘self-radiant’.”
Viết bởi Diệu Hạnh
Nguồn trích dẫn
- Kinh Tập 2.14 (Dhammika Sutta). Bản Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka, Snp 2.14 trên SuttaCentral.
- Bản tiếng Anh: Bhikkhu Sujato dịch, SuttaCentral, phát hành theo giấy phép CC0.
- Bản tiếng Việt: HT. Thích Minh Châu dịch (Đại Tạng Kinh Việt Nam, Tiểu Bộ Kinh tập I; bản trên BuddhaSasana, budsas.org). Bản dịch tiếng Việt của HT. Thích Minh Châu, trích đăng để phụng sự Pháp thí; nếu chủ sở hữu bản quyền có yêu cầu, xin liên hệ 0902 332 970 để điều chỉnh.