Tăng Chi Bộ 5.43 · AN 5.43

Kinh Đáng Ưa

Iṭṭha Sutta

Còn gọi là: Kinh Điều Được Mong Cầu

Nếu cầu xin mà được sống lâu, giàu đẹp, thì ở đời còn ai thiếu thứ gì? Đức Phật hỏi ngược một câu giản dị, rồi chỉ ra con đường thật sự đưa đến những điều ta mong.

Trước khi đọc kinh

Kinh Đáng Ưa (Iṭṭha Sutta), còn gọi là Kinh Điều Được Mong Cầu, là bài kinh thứ ba trong phẩm Vua Muṇḍa, phần Năm Pháp của Tăng Chi Bộ. Người nghe là gia chủ Cấp Cô Độc (Anāthapiṇḍika), vị thí chủ lớn ở Xá-vệ. Đức Phật kể ra năm điều mà ai cũng thấy đáng ưa, đáng thích, đáng mến, nhưng khó có được ở đời: tuổi thọ, sắc đẹp, an vui, danh tiếng và các cõi trời (đoạn 2.1–2.7). Rồi Ngài nói một câu ngắn mà rõ: Ta không nói rằng năm điều ấy có được nhờ cầu xin hay nhờ mong ước; nếu có được nhờ cầu xin hay nhờ mong ước, thì ở đời này còn ai thiếu thứ gì nữa (đoạn 3.1–3.2)?

Với từng điều, kinh nói cùng một khuôn: vị Thánh đệ tử muốn sống lâu thì không nên cầu xin hay mong mỏi tuổi thọ, mà nên đi con đường đưa đến tuổi thọ; đi con đường ấy thì được tuổi thọ, ở cõi trời hay cõi người (đoạn 4.1–4.4). Sắc đẹp, an vui, danh tiếng và cõi trời cũng vậy (đoạn 5.1–8.4). Kinh không kể con đường ấy gồm những gì; theo chú giải Tăng Chi Bộ (Manorathapūraṇī), đó là con đường làm phước như bố thí, giữ giới. Kinh Tiểu Nghiệp Phân Biệt (MN 135) nói cụ thể hơn: người từ bỏ sát sinh, có lòng thương với mọi loài thì sống lâu. Bài kệ cuối tóm lại: người mong cầu những niềm vui cao quý ấy thì bậc trí tán thán sự không phóng dật (không buông lung, luôn tỉnh táo) trong việc làm phước; người không phóng dật đạt được cả hai lợi ích, đời này và đời sau (kệ 9.1–11.2).

Bài kinh không chê việc mong muốn. Mong sống lâu, mong được an vui là điều tự nhiên, và Đức Phật gọi đó là những điều đáng ưa. Điều Ngài sửa là chỗ đặt niềm hy vọng: không đặt vào lời khấn, mà đặt vào việc làm. Người Việt mình hay lên chùa đầu năm cầu bình an, cầu sức khỏe. Bạn vẫn có thể chắp tay trước tượng Phật, nhưng sau lời nguyện, thử tự hỏi: con đường đưa đến điều mình vừa mong là gì, và hôm nay mình có thể đi một bước nào? Cầu sức khỏe thì giữ giới không sát sinh, sống hiền hòa; cầu bình an thì bớt một lời nặng nề trong nhà. Lời nguyện khi ấy có chân để đi.

Ý chính

  • Tuổi thọ, sắc đẹp, an vui, danh tiếng, cõi trời là năm điều đáng ưa, đáng thích, đáng mến, khó có được ở đời (2.1–2.7).
  • Năm điều ấy không có được nhờ cầu xin hay nhờ mong ước (3.1).
  • Nếu cầu xin mà được, thì ở đời này còn ai thiếu thứ gì nữa (3.2).
  • Muốn sống lâu thì không nên cầu xin tuổi thọ, mà nên đi con đường đưa đến tuổi thọ (4.1–4.2).
  • Đi con đường ấy thì được điều mình mong, ở cõi trời hay cõi người (4.3–4.4).
  • Bậc trí tán thán sự không phóng dật trong việc làm phước, nhờ đó đạt cả lợi ích đời này và đời sau (10.1–11.2).
Thuật ngữ Pāli trong kinh
iṭṭha / kanta / manāpa
đáng ưa / đáng thích / đáng mến
dullabha
khó có được
āyācana
sự cầu xin, khấn nguyện
patthanā
sự mong ước
paṭipadā
con đường thực hành; theo chú giải là con đường làm phước như bố thí, giữ giới
ariyasāvaka
Thánh đệ tử
appamāda
không phóng dật, không buông lung, luôn tỉnh táo
puññakiriyā
việc làm phước

Kinh Đáng Ưa

1Rồi Gia chủ Anàthapindika đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Thế Tôn nói với Gia chủ Anàthapindika đang ngồi một bên:Atha kho anāthapiṇḍiko gahapati yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinnaṁ kho anāthapiṇḍikaṁ gahapatiṁ bhagavā etadavoca:Then the householder Anāthapiṇḍika went up to the Buddha, bowed, and sat down to one side. The Buddha said to him:

2—Có năm pháp này, này Gia chủ, khả lạc, khả hỷ, khả ý, khó tìm được ở đời. Thế nào là năm?

Tuổi thọ khả lạc, khả hỷ, khả ý khó tìm được ở đời; dung sắc khả lạc, khả hỷ, khả ý khó tìm được ở đời; an lạc khả lạc, khả hỷ, khả ý khó tìm được ở đời; tiếng đồn tốt khả lạc, khả hỷ, khả ý khó tìm được ở đời; cõi trời khả lạc, khả hỷ, khả ý khó tìm được ở đời.

Này Gia chủ, năm pháp này, khả lạc, khả hỷ, khả ý khó tìm được ở đời. Này Gia chủ, năm pháp khả lạc, khả hỷ, khả ý khó tìm được ở đời này, Ta tuyên bố không phải do nhân cầu xin, không phải do nhân ước vọng mà có được.
“Pañcime, gahapati, dhammā iṭṭhā kantā manāpā dullabhā lokasmiṁ. Katame pañca? Āyu, gahapati, iṭṭho kanto manāpo dullabho lokasmiṁ; vaṇṇo iṭṭho kanto manāpo dullabho lokasmiṁ; sukhaṁ iṭṭhaṁ kantaṁ manāpaṁ dullabhaṁ lokasmiṁ; yaso iṭṭho kanto manāpo dullabho lokasmiṁ; saggā iṭṭhā kantā manāpā dullabhā lokasmiṁ. Ime kho, gahapati, pañca dhammā iṭṭhā kantā manāpā dullabhā lokasmiṁ.“Householder, these five things, which are likable, desirable, and agreeable are hard to get in the world. What five? Long life, beauty, happiness, fame, and heaven. These are the five things, which are likable, desirable, and agreeable, but hard to get in the world.

3Này Gia chủ, nếu năm pháp khả lạc, khả hỷ, khả ý khó tìm được ở đời này, do nhân cầu xin, do nhân ước vọng mà có được, thời ai ở đời này lại héo mòn vì một lẽ gì?Imesaṁ kho, gahapati, pañcannaṁ dhammānaṁ iṭṭhānaṁ kantānaṁ manāpānaṁ dullabhānaṁ lokasmiṁ na āyācanahetu vā patthanāhetu vā paṭilābhaṁ vadāmi. Imesaṁ kho, gahapati, pañcannaṁ dhammānaṁ iṭṭhānaṁ kantānaṁ manāpānaṁ dullabhānaṁ lokasmiṁ āyācanahetu vā patthanāhetu vā paṭilābho abhavissa, ko idha kena hāyetha?And I say that these five things are not got by supplication or wishing for them. If they were, who would lack them?

4Này Gia chủ, vị Thánh đệ tử muốn có thọ mạng, không có thể do cầu xin thọ mạng hay tán thán để làm nhân đem lại thọ mạng. Vị Thánh đệ tử muốn có thọ mạng cần phải thực hành con đường dẫn đến thọ mạng. Do vị ấy thực hành con đường dẫn đến thọ mạng, sự thực hành ấy đưa vị ấy nhận lãnh được thọ mạng, vị ấy nhận lãnh được thọ mạng hoặc Chư Thiên, hoặc loài Người.Na kho, gahapati, arahati ariyasāvako āyukāmo āyuṁ āyācituṁ vā abhinandituṁ vā āyussa vāpi hetu. Āyukāmena, gahapati, ariyasāvakena āyusaṁvattanikā paṭipadā paṭipajjitabbā. Āyusaṁvattanikā hissa paṭipadā paṭipannā āyupaṭilābhāya saṁvattati. So lābhī hoti āyussa dibbassa vā mānusassa vā.A noble disciple who wants to live long ought not pray for it, or hope for it, or pine for it. Instead, they should practice the way that leads to long life. For by practicing that way they gain long life as a god or a human being.

5Này Gia chủ, vị Thánh đệ tử muốn có dung sắc, không có thể do cầu xin dung sắc hay tán thán để làm nhân đem lại dung sắc. Vị Thánh đệ tử muốn có dung sắc cần phải thực hành con đường dẫn đến dung sắc. Do vị ấy thực hành con đường dẫn đến dung sắc, sự thực hành ấy đưa vị ấy nhận lãnh được dung sắc, vị ấy nhận lãnh được dung sắc hoặc Chư Thiên, hoặc loài Người.Na kho, gahapati, arahati ariyasāvako vaṇṇakāmo vaṇṇaṁ āyācituṁ vā abhinandituṁ vā vaṇṇassa vāpi hetu. Vaṇṇakāmena, gahapati, ariyasāvakena vaṇṇasaṁvattanikā paṭipadā paṭipajjitabbā. Vaṇṇasaṁvattanikā hissa paṭipadā paṭipannā vaṇṇapaṭilābhāya saṁvattati. So lābhī hoti vaṇṇassa dibbassa vā mānusassa vā.A noble disciple who wants to be beautiful ought not pray for it, or hope for it, or pine for it. Instead, they should practice the way that leads to beauty. For by practicing that way they gain beauty as a god or a human being.

6Này Gia chủ, vị Thánh đệ tử muốn có an lạc, không có thể do cầu xin an lạc hay tán thán để làm nhân đem đến an lạc. Vị Thánh đệ tử muốn có an lạc cần phải thực hành con đường dẫn đến an lạc. Do vị ấy thực hành con đường dẫn đến an lạc, sự thực hành ấy đưa đến vị ấy nhận lãnh được an lạc, vị ấy nhận lãnh được an lạc hoặc chư Thiên, hoặc loài Người.Na kho, gahapati, arahati ariyasāvako sukhakāmo sukhaṁ āyācituṁ vā abhinandituṁ vā sukhassa vāpi hetu. Sukhakāmena, gahapati, ariyasāvakena sukhasaṁvattanikā paṭipadā paṭipajjitabbā. Sukhasaṁvattanikā hissa paṭipadā paṭipannā sukhapaṭilābhāya saṁvattati. So lābhī hoti sukhassa dibbassa vā mānusassa vā.A noble disciple who wants to be happy ought not pray for it, or hope for it, or pine for it. Instead, they should practice the way that leads to happiness. For by practicing that way they gain happiness as a god or a human being.

7Này Gia chủ, vị Thánh đệ tử muốn có tiếng tốt, không có thể do cầu xin tiếng tốt hay tán thán để làm nhân đem đến tiếng tốt. Vị Thánh đệ tử muốn có tiếng tốt cần phải thực hành con đường dẫn đến tiếng tốt. Do vị ấy thực hành con đường dẫn đến tiếng tốt, sự thực hành ấy đưa vị ấy nhận lãnh được tiếng tốt, vị ấy nhận lãnh được tiếng tốt hoặc chư Thiên, hoặc loài NgườiNa kho, gahapati, arahati ariyasāvako yasakāmo yasaṁ āyācituṁ vā abhinandituṁ vā yasassa vāpi hetu. Yasakāmena, gahapati, ariyasāvakena yasasaṁvattanikā paṭipadā paṭipajjitabbā. Yasasaṁvattanikā hissa paṭipadā paṭipannā yasapaṭilābhāya saṁvattati. So lābhī hoti yasassa dibbassa vā mānusassa vā.A noble disciple who wants to be famous ought not pray for it, or hope for it, or pine for it. Instead, they should practice the way that leads to fame. For by practicing that way they gain fame as a god or a human being.

8Này Gia chủ, vị Thánh đệ tử muốn có được Thiên giới, không có do cầu xin Thiên giới hay tán thán để làm nhân đem đến Thiên giới. Vị thánh đệ tử muốn có Thiên giới cần phải thực hành con đường dẫn đến Thiên giới. Do vị ấy thực hành con đường dẫn đến Thiên giới, sự thực hành ấy đưa vị ấy nhận lãnh được Thiên giới, vị ấy nhận lãnh được Thiên giới.Na kho, gahapati, arahati ariyasāvako saggakāmo saggaṁ āyācituṁ vā abhinandituṁ vā saggānaṁ vāpi hetu. Saggakāmena, gahapati, ariyasāvakena saggasaṁvattanikā paṭipadā paṭipajjitabbā. Saggasaṁvattanikā hissa paṭipadā paṭipannā saggapaṭilābhāya saṁvattati. So lābhī hoti saggānanti.A noble disciple who wants to go to heaven ought not pray for it, or hope for it, or pine for it. Instead, they should practice the way that leads to heaven. For by practicing that way they gain heaven, they are one who gains the heavens.

9–11Thọ mạng và dung sắc,
Tiếng tốt và danh vọng,
Thiên giới và quý tộc,
Được người đời ngày đêm,
Luôn luôn và rộng mở,
Cầu xin và cầu nguyện.
Còn bậc Hiền tán thán,
Không phóng dật phước hành,
Bậc Hiền không phóng dật,
Chứng được hai lợi ích,
Lợi ích ngay hiện tại,
Và lợi ích đời sau,
Vị nào thực hiện được,
Lợi ích và mục đích,
Vị ấy đáng được gọi,
Bậc Trí giả, Hiền giả.
Āyuṁ vaṇṇaṁ yasaṁ kittiṁ, Saggaṁ uccākulīnataṁ; Ratiyo patthayānena, Uḷārā aparāparā. Appamādaṁ pasaṁsanti, puññakiriyāsu paṇḍitā; Appamatto ubho atthe, adhigaṇhāti paṇḍito. Diṭṭhe dhamme ca yo attho, yo cattho samparāyiko; Atthābhisamayā dhīro, paṇḍitoti pavuccatī”ti. Tatiyaṁ.For one who desires lofty delights again and again— long life, beauty, fame and reputation, heaven, and an eminent family— the astute praise diligence in making merit. Being diligent, an astute person secures both benefits: the benefit in this life, and in lives to come. An attentive one, comprehending the meaning, is said to be astute.”

Viết bởi Tuệ Minh

Nguồn trích dẫn

  1. Tăng Chi Bộ 5.43 (Iṭṭha Sutta). Bản Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka, AN 5.43 trên SuttaCentral.
  2. Bản tiếng Anh: Bhikkhu Sujato dịch, SuttaCentral, phát hành theo giấy phép CC0.
  3. Bản tiếng Việt: HT. Thích Minh Châu dịch (bản trên SuttaCentral). Bản dịch tiếng Việt của HT. Thích Minh Châu, trích đăng để phụng sự Pháp thí; nếu chủ sở hữu bản quyền có yêu cầu, xin liên hệ 0902 332 970 để điều chỉnh.

Đọc tiếp