Tăng Chi Bộ 3.100 · AN 3.100

Kinh Hạt Muối

Loṇakapalla Sutta

Cùng một nắm muối, bỏ vào chén nước thì nước mặn không uống được, bỏ vào sông Hằng thì sông vẫn uống được. Đức Phật dùng hình ảnh ấy để nói về quả của một việc ác nhỏ.

Trước khi đọc kinh

Tóm lại

  • Đức Phật nêu hai cách nói về nghiệp: nói quả luôn y hệt việc làm thì không có Phạm hạnh; nói quả tùy cách nghiệp được cảm thọ thì có Phạm hạnh (1.1–1.4).
  • Cùng một việc ác nhỏ: người thân, giới, tâm, tuệ không tu tập thì việc ấy đưa vào địa ngục; người đã tu tập thì cảm thọ ngay trong hiện tại, chút ít cũng không thấy (2–3).
  • Ba ví dụ đặt hai trường hợp cạnh nhau: nắm muối trong chén nước và trong sông Hằng (4); người nghèo và người giàu bị tù tội (8–10); kẻ trộm dê nghèo và kẻ trộm dê là vua hay đại thần (13–15).

Kinh Hạt Muối (Loṇakapalla Sutta) là kinh thứ chín của phẩm Hạt Muối trong Tăng Chi Bộ (Aṅguttara Nikāya), chương Ba Pháp. Bản Minh Châu đặt tên là “Hạt Muối”, còn trong lời kinh, ví dụ chính là một nắm muối (loṇakapalla) bỏ vào chén nước và vào sông Hằng (đoạn 4). Kinh không kể nơi chốn hay hoàn cảnh; Đức Phật nói thẳng với các Tỷ-kheo.

Kinh mở đầu bằng hai cách nói về nghiệp (kamma). Ai nói “Người này làm nghiệp như thế nào, như thế nào, người ấy cảm thọ như vậy, như vậy” thì không có đời sống Phạm hạnh (brahmacariya), không có cơ hội chấm dứt khổ. Ai nói “Người này làm nghiệp được cảm thọ như thế nào, như thế nào, người ấy cảm thọ quả dị thục như vậy, như vậy” thì có Phạm hạnh và có cơ hội chấm dứt khổ (đoạn 1.1–1.4). Hai câu nghe gần giống nhau; phần còn lại của kinh là lời giải thích bằng ví dụ.

Kinh lấy một việc ác nhỏ mọn (appamattaka) đặt vào hai người. Người thân, giới, tâm, tuệ không tu tập, hạn hẹp, sống chịu khổ ít oi thì việc ác ấy đưa người ấy vào địa ngục. Người thân, giới, tâm, tuệ được tu tập, không hạn hẹp thì cũng việc ác tương tợ ấy được cảm thọ ngay trong hiện tại, đến mức chút ít cũng không thấy (đoạn 2–3). Rồi kinh nêu ba ví dụ: nắm muối trong chén nước nhỏ và trong sông Hằng (đoạn 4); người nghèo bị tù tội chỉ vì nửa đồng tiền trong khi người giàu thì không (đoạn 8–10); người đồ tể có thể giết, trói hay tịch thu tài sản của người nghèo trộm dê, nhưng với nhà vua hay đại thần thì chỉ còn cách chắp tay xin lại con dê (đoạn 13–15).

Có hai điều kinh không nói. Kinh chỉ bàn về việc ác nhỏ mọn, không bàn việc ác nặng. Và kinh không nói người đã tu tập thì làm ác cũng không sao: cả hai trường hợp đều gọi là nghiệp ác (pāpakamma), chỉ khác ở chỗ quả được cảm thọ ra sao. Hai bài Hỏi đáp của Hoan Hỉ dùng ví dụ này: Nghiệp có chuyển được không và “Gieo nhân nào gặt quả nấy”.

Thuật ngữ Pāli trong kinh
kamma
nghiệp: việc làm
pāpakamma
nghiệp ác, việc ác
appamattaka
nhỏ mọn, ít ỏi
vipāka
quả dị thục: quả chín của nghiệp (cách Minh Châu dịch)
brahmacariya
Phạm hạnh: đời sống tu hành thanh tịnh
niraya
địa ngục
diṭṭhadhammavedanīya
cảm thọ ngay trong hiện tại (cách Minh Châu dịch)
bhāvita · abhāvita
được tu tập · không tu tập (thân, giới, tâm, tuệ)
loṇakapalla
nắm muối
kahāpaṇa
đồng tiền

Kinh Hạt Muối

1.1–1.4—Ai nói như sau, này các Tỷ-kheo: “Người này làm nghiệp như thế nào, như thế nào, người ấy cảm thọ như vậy, như vậy”. Nếu sự kiện là vậy, này các Tỷ-kheo, thời không có đời sống Phạm hạnh, không có cơ hội để nêu rõ đau khổ được chơn chánh đoạn diệt. Và này các Tỷ-kheo, ai nói như sau: “Người này làm nghiệp được cảm thọ như thế nào, như thế nào, người ấy cảm thọ quả dị thục như vậy, như vậy”. Nếu sự kiện là vậy, này các Tỷ-kheo, thời có đời sống Phạm hạnh, có cơ hội để nêu rõ đau khổ được chơn chánh đoạn diệt.“Yo, bhikkhave, evaṁ vadeyya: ‘yathā yathāyaṁ puriso kammaṁ karoti tathā tathā taṁ paṭisaṁvediyatī’ti, evaṁ santaṁ, bhikkhave, brahmacariyavāso na hoti, okāso na paññāyati sammā dukkhassa antakiriyāya. Yo ca kho, bhikkhave, evaṁ vadeyya: ‘yathā yathā vedanīyaṁ ayaṁ puriso kammaṁ karoti tathā tathāssa vipākaṁ paṭisaṁvediyatī’ti, evaṁ santaṁ, bhikkhave, brahmacariyavāso hoti, okāso paññāyati sammā dukkhassa antakiriyāya.“Mendicants, suppose you say: ‘No matter how this person performs a deed, they experience it the same way.’ This being so, the spiritual life could not be lived, and there’d be no chance of making a complete end of suffering. Suppose you say: ‘No matter how this person performs a deed, they experience the result as it should be experienced.’ This being so, the spiritual life can be lived, and there is a chance of making a complete end of suffering.

1.5–1.6Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người làm nghiệp ác nhỏ mọn, và nghiệp ác ấy đưa người ấy vào địa ngục. Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người làm nghiệp ác nhỏ mọn tương tợ, và nghiệp ác ấy đưa người ấy đến cảm thọ ngay trong hiện tại, cho đến chút ít cũng không thấy được (trong đời sau), nói gì là nhiều.Idha, bhikkhave, ekaccassa puggalassa appamattakampi pāpakammaṁ kataṁ tamenaṁ nirayaṁ upaneti. Idha pana, bhikkhave, ekaccassa puggalassa tādisaṁyeva appamattakaṁ pāpakammaṁ kataṁ diṭṭhadhammavedanīyaṁ hoti, nāṇupi khāyati, kiṁ bahudeva.Take the case of the individual who does a trivial bad deed, but it lands them in hell. Meanwhile, another individual does the same trivial bad deed, but experiences it in this life, so that not even a little remains, let alone a lot.

2.1Hạng người như thế nào, này các Tỷ-kheo, có làm nghiệp ác nhỏ mọn, và nghiệp ác ấy đưa người ấy vào địa ngục?Kathaṁrūpassa, bhikkhave, puggalassa appamattakampi pāpakammaṁ kataṁ tamenaṁ nirayaṁ upaneti?What kind of individual does a trivial bad deed, but it lands them in hell?

2.2–2.3Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người thân không tu tập, giới không tu tập, tâm không tu tập, tuệ không tu tập, hạn hẹp, tự ngã nhỏ nhen, sống chịu khổ ít oi. Người như vậy, này các Tỷ-kheo, làm nghiệp ác nhỏ mọn, và nghiệp ác ấy đưa người ấy vào địa ngục.Idha pana, bhikkhave, ekacco puggalo abhāvitakāyo hoti abhāvitasīlo abhāvitacitto abhāvitapañño paritto appātumo appadukkhavihārī. Evarūpassa, bhikkhave, puggalassa appamattakampi pāpakammaṁ kataṁ tamenaṁ nirayaṁ upaneti.An individual who hasn’t developed their physical endurance, ethics, mind, or wisdom. They’re small-minded and mean-spirited, living in suffering. That kind of individual does a trivial bad deed, but it lands them in hell.

3.1Hạng người như thế nào, này các Tỷ-kheo, có làm nghiệp ác nhỏ mọn tương tợ, và nghiệp ác ấy đưa người ấy đến cảm thọ ngay trong hiện tại, cho đến chút ít cũng không thấy được (trong đời sau), nói gì là nhiều?Kathaṁrūpassa, bhikkhave, puggalassa tādisaṁyeva appamattakaṁ pāpakammaṁ kataṁ diṭṭhadhammavedanīyaṁ hoti, nāṇupi khāyati, kiṁ bahudeva?What kind of individual does the same trivial bad deed, but experiences it in this life, so that not even a little remains, let alone a lot?

3.2–3.3Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người thân được tu tập, giới được tu tập, tâm được tu tập, tuệ được tu tập, không có hạn hẹp, tự ngã to lớn, sống đời vô lượng. Người như vậy, này các Tỷ-kheo, có làm nghiệp ác nhỏ mọn tương tợ, và nghiệp ác ấy đưa người ấy đến cảm thọ ngay trong hiện tại, cho đến chút ít cũng không thấy được (trong đời sau), nói gì là nhiều.Idha, bhikkhave, ekacco puggalo bhāvitakāyo hoti bhāvitasīlo bhāvitacitto bhāvitapañño aparitto mahatto appamāṇavihārī. Evarūpassa, bhikkhave, puggalassa tādisaṁyeva appamattakaṁ pāpakammaṁ kataṁ diṭṭhadhammavedanīyaṁ hoti, nāṇupi khāyati, kiṁ bahudeva.An individual who has developed their physical endurance, ethics, mind, and wisdom. They’re not small-minded, but are big-hearted, meditating on the immeasurables. That kind of individual does the same trivial bad deed, but experiences it in this life, so that not even a little remains, let alone a lot.

4.1–4.3Ví như, này các Tỷ-kheo, có người bỏ một nắm muối vào trong một chén nước nhỏ. Các Thầy nghĩ như thế nào, này các Tỷ-kheo, nước trong chén ấy có vì nắm muối trở thành mặn và không uống được phải không?Seyyathāpi, bhikkhave, puriso loṇakapallaṁ paritte udakamallake pakkhipeyya. Taṁ kiṁ maññatha, bhikkhave, api nu taṁ parittaṁ udakaṁ amunā loṇakapallena loṇaṁ assa apeyyan”ti?Suppose a person was to drop a lump of salt into a mug of water. What do you think, mendicants? Would that mug of water become salty and undrinkable?”

4.4–4.6—Thưa đúng vậy, bạch Thế Tôn. Vì cớ sao? Nước trong chén nhỏ này là ít, do nắm muối này, nước trở thành mặn, không uống được.“Evaṁ, bhante”. “Taṁ kissa hetu”? “Aduñhi, bhante, parittaṁ udakakapallake udakaṁ, taṁ amunā loṇakapallena loṇaṁ assa apeyyan”ti.“Yes, sir. Why is that? Because there is only a little water in the bowl.”

4.7–4.9—Ví như, này các Tỷ-kheo, có người bỏ một nắm muối vào sông Hằng. Các Thầy nghĩ như thế nào, này các Tỷ-kheo, sông Hằng có vì nắm muối trở thành mặn và không uống được phải không?“Seyyathāpi, bhikkhave, puriso loṇakapallakaṁ gaṅgāya nadiyā pakkhipeyya. Taṁ kiṁ maññatha, bhikkhave, api nu sā gaṅgā nadī amunā loṇakapallena loṇaṁ assa apeyyā”ti?“Suppose a person was to drop a lump of salt into the Ganges River. What do you think, mendicants? Would the Ganges River become salty and undrinkable?”

4.10–4.12—Thưa không, bạch Thế Tôn. Vì cớ sao? Lớn là cả khối nước sông Hằng. Khối nước ấy không vì nắm muối này, nước trở thành mặn và không uống được.“No hetaṁ, bhante”. “Taṁ kissa hetu”? “Asu hi, bhante, gaṅgāya nadiyā mahā udakakkhandho so amunā loṇakapallena loṇo na assa apeyyo”ti.“No, sir. Why is that? Because the Ganges River is a vast mass of water.”

5.1–5.2—Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ở đây, có người làm nghiệp ác nhỏ mọn, và nghiệp ác ấy đưa người ấy vào địa ngục. Ở đây, này các Tỷ kheo, có người làm nghiệp ác nhỏ mọn tương tợ, và nghiệp ác ấy đưa người ấy đến cảm thọ ngay trong hiện tại, cho đến chút ít cũng không thấy được (trong đời sau), nói gì là nhiều.“Evamevaṁ kho, bhikkhave, idhekaccassa puggalassa appamattakampi pāpakammaṁ kataṁ tamenaṁ nirayaṁ upaneti. Idha, bhikkhave, ekaccassa puggalassa tādisaṁyeva appamattakaṁ pāpakammaṁ kataṁ diṭṭhadhammavedanīyaṁ hoti, nāṇupi khāyati, kiṁ bahudeva.“This is how it is in the case of an individual who does a trivial bad deed, but it lands them in hell. Meanwhile, another individual does the same trivial bad deed, but experiences it in this life, so that not even a little remains, let alone a lot. …

6.1–7.3Hạng người như thế nào, này các Tỷ-kheo, có làm nghiệp ác nhỏ mọn, và nghiệp ác ấy đưa người ấy vào địa ngục? Ở đây, này các Tỷ-kheo có người thân không tu tập, giới không tu tập, tâm không tu tập, tuệ không tu tập, hạn hẹp, tự ngã nhỏ nhen, sống chịu khổ ít oi. Hạng người như vậy, này các Tỷ-kheo, làm nghiệp ác nhỏ mọn, và nghiệp ác ấy đưa người ấy vào địa ngục. Hạng người như thế nào, này các Tỷ-kheo, có làm nghiệp ác nhỏ mọn tương tợ, và nghiệp ác ấy đưa người ấy đến cảm thọ ngay trong hiện tại, cho đến chút ít cũng không thấy được (trong đời sau), nói gì là nhiều. Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người thân được tu tập, giới được tu tập, tâm được tu tập, tuệ được tu tập, hạn hẹp, tự ngã to lớn, sống đời vô lượng. Người như vậy, này các Tỷ-kheo, có làm nghiệp ác nhỏ mọn tương tợ, và nghiệp ác ấy đưa người ấy đến cảm thọ ngay trong hiện tại, cho đến chút ít cũng không thấy được, nói gì là nhiều.Kathaṁrūpassa, bhikkhave, puggalassa appamattakampi pāpakammaṁ kataṁ tamenaṁ nirayaṁ upaneti? Idha, bhikkhave, ekacco puggalo abhāvitakāyo hoti abhāvitasīlo abhāvitacitto abhāvitapañño paritto appātumo appadukkhavihārī. Evarūpassa, bhikkhave, puggalassa appamattakampi pāpakammaṁ kataṁ tamenaṁ nirayaṁ upaneti. Kathaṁrūpassa, bhikkhave, puggalassa tādisaṁyeva appamattakaṁ pāpakammaṁ kataṁ diṭṭhadhammavedanīyaṁ hoti, nāṇupi khāyati, kiṁ bahudeva? Idha, bhikkhave, ekacco puggalo bhāvitakāyo hoti bhāvitasīlo bhāvitacitto bhāvitapañño aparitto mahatto appamāṇavihārī. Evarūpassa, bhikkhave, puggalassa tādisaṁyeva appamattakaṁ pāpakammaṁ kataṁ diṭṭhadhammavedanīyaṁ hoti, nāṇupi khāyati, kiṁ bahudeva.…

8.1–8.2Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người bị tù tội vì nửa đồng tiền, bị tù tội vì một đồng tiền, bị tù tội vì một trăm đồng tiền. Nhưng ở đây, này các Tỷ-kheo, có người không bị tù tội vì nửa đồng tiền, không bị tù tội vì một đồng tiền, không bị tù tội vì một trăm đồng tiền.Idha, bhikkhave, ekacco aḍḍhakahāpaṇenapi bandhanaṁ nigacchati, kahāpaṇenapi bandhanaṁ nigacchati, kahāpaṇasatenapi bandhanaṁ nigacchati. Idha, bhikkhave, ekacco aḍḍhakahāpaṇenapi na bandhanaṁ nigacchati, kahāpaṇenapi na bandhanaṁ nigacchati, kahāpaṇasatenapi na bandhanaṁ nigacchati.Take the case of someone who is thrown in jail for stealing half a dollar, a dollar, or a hundred dollars. While someone else isn’t thrown in jail for stealing half a dollar, a dollar, or a hundred dollars.

9.1–9.3Như thế nào, này các Tỷ-kheo, bị tù tội vì nửa đồng tiền, bị tù tội vì một đồng tiền, bị tù tội vì một trăm đồng tiền? Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người nghèo khổ, ít sở hữu, ít tài sản. Người như vậy, này các Tỷ-kheo, bị tù tội vì nửa đồng tiền, bị tù tội vì một đồng tiền, bị tù tội vì một trăm đồng tiền.Kathaṁrūpo, bhikkhave, aḍḍhakahāpaṇenapi bandhanaṁ nigacchati, kahāpaṇenapi bandhanaṁ nigacchati, kahāpaṇasatenapi bandhanaṁ nigacchati? Idha, bhikkhave, ekacco daliddo hoti appassako appabhogo. Evarūpo, bhikkhave, aḍḍhakahāpaṇenapi bandhanaṁ nigacchati, kahāpaṇenapi bandhanaṁ nigacchati, kahāpaṇasatenapi bandhanaṁ nigacchati.What sort of person is thrown in jail for stealing half a dollar, a dollar, or a hundred dollars? Someone who is poor, with few possessions and little wealth. That kind of person is thrown in jail for stealing half a dollar, a dollar, or a hundred dollars.

10.1–10.3Như thế nào, này các Tỷ-kheo, không bị tù tội vì nửa đồng tiền, không bị tù tội vì một đồng tiền, không bị tù tội vì một trăm đồng tiền? Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người giàu có, có tiền của lớn, có tài sản lớn. Người như vậy, này các Tỷ-kheo, không bị tù tội vì nửa đồng tiền, không bị tù tội vì một đồng tiền, không bị tù tội vì một trăm đồng tiền.Kathaṁrūpo, bhikkhave, aḍḍhakahāpaṇenapi na bandhanaṁ nigacchati, kahāpaṇenapi na bandhanaṁ nigacchati, kahāpaṇasatenapi na bandhanaṁ nigacchati? Idha, bhikkhave, ekacco aḍḍho hoti mahaddhano mahābhogo. Evarūpo, bhikkhave, aḍḍhakahāpaṇenapi na bandhanaṁ nigacchati, kahāpaṇenapi na bandhanaṁ nigacchati, kahāpaṇasatenapi na bandhanaṁ nigacchati.What sort of person isn’t thrown in jail for stealing half a dollar, a dollar, or a hundred dollars? Someone who is rich, affluent, and wealthy. That kind of person isn’t thrown in jail for stealing half a dollar, a dollar, or a hundred dollars.

10.4–10.6Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ở đây có người làm nghiệp ác nhỏ mọn, nghiệp ác ấy đưa người ấy vào địa ngục. Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người làm nghiệp ác nhỏ mọn tương tự, nghiệp ác ấy đưa người ấy đến cảm thọ ngay trong hiện tại, cho đến chút ít cũng không thấy được, còn nói gì là nhiều.Evamevaṁ kho, bhikkhave, idhekaccassa puggalassa appamattakaṁ pāpakammaṁ kataṁ. Tamenaṁ nirayaṁ upaneti. Idha, bhikkhave, ekaccassa puggalassa tādisaṁyeva appamattakaṁ pāpakammaṁ kataṁ diṭṭhadhammavedanīyaṁ hoti, nāṇupi khāyati, kiṁ bahudeva.This is how it is in the case of an individual who does a trivial bad deed, but they go to hell. Meanwhile, another individual does the same trivial bad deed, but experiences it in this life, so that not even a little remains, let alone a lot. …

11.1–11.3Hạng người như thế nào, này các Tỷ-kheo, có làm nghiệp ác nhỏ mọn, nghiệp ác ấy đưa người ấy vào địa ngục? Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người thân không tu tập, giới không tu tập, tâm không tu tập, tuệ không tu tập, hạn hẹp, tự ngã nhỏ nhen, sống chịu khổ ít oi. Người như vậy, này các Tỷ-kheo, làm nghiệp ác nhỏ mọn, nghiệp ác ấy đưa người ấy vào địa ngục.Kathaṁrūpassa, bhikkhave, puggalassa appamattakaṁ pāpakammaṁ kataṁ, tamenaṁ nirayaṁ upaneti? Idha, bhikkhave, ekacco puggalo abhāvitakāyo hoti abhāvitasīlo abhāvitacitto abhāvitapañño paritto appātumo appadukkhavihārī. Evarūpassa, bhikkhave, puggalassa tādisaṁyeva appamattakaṁ pāpakammaṁ kataṁ tamenaṁ nirayaṁ upaneti.…

12.1–13.2Hạng người như thế nào, này các Tỷ-kheo, có làm nghiệp ác nhỏ mọn tương tự, nghiệp ác ấy đưa người ấy đến cảm thọ ngay trong hiện tại, cho đến chút ít cũng không thấy được, còn nói gì là nhiều? Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người thân được tu tập, giới được tu tập, tâm được tu tập, tuệ được tu tập, không có hạn hẹp, tự ngã to lớn, sống đời vô lượng. Người như vậy, này các Tỷ-kheo, có làm nghiệp ác nhỏ mọn tương tự, nghiệp ác ấy đưa người ấy đến cảm thọ ngay trong hiện tại, cho đến chút ít cũng không thấy được, còn nói gì là nhiều.Kathaṁrūpassa, bhikkhave, puggalassa tādisaṁyeva appamattakaṁ pāpakammaṁ kataṁ diṭṭhadhammavedanīyaṁ hoti, nāṇupi khāyati, kiṁ bahudeva? Idha, bhikkhave, ekacco puggalo bhāvitakāyo hoti bhāvitasīlo bhāvitacitto bhāvitapañño aparitto mahatto appamāṇavihārī. Evarūpassa, bhikkhave, puggalassa tādisaṁyeva appamattakaṁ pāpakammaṁ kataṁ diṭṭhadhammavedanīyaṁ hoti, nāṇupi khāyati, kiṁ bahudeva. Idha, bhikkhave, ekacco puggalo bhāvitakāyo hoti bhāvitasīlo bhāvitacitto bhāvitapañño aparitto mahatto appamāṇavihārī. Evarūpassa, bhikkhave, puggalassa tādisaṁyeva appamattakaṁ pāpakammaṁ kataṁ diṭṭhadhammavedanīyaṁ hoti, nāṇupi khāyati, kiṁ bahudeva.…

13.3Ví dụ một người đồ tể hay người giết dê, này các Tỷ-kheo, đối với một số người đánh cắp dê, có thể giết hay trói, hay tịch thu tài sản, hay làm như ý muốn. Đối với một số người cũng đánh cắp dê, không có thể giết, không có thể trói, không có thể tịch thu tài sản, hay không có thể làm như ý muốn.Seyyathāpi, bhikkhave, orabbhiko vā urabbhaghātako vā appekaccaṁ urabbhaṁ adinnaṁ ādiyamānaṁ pahoti hantuṁ vā bandhituṁ vā jāpetuṁ vā yathāpaccayaṁ vā kātuṁ, appekaccaṁ urabbhaṁ adinnaṁ ādiyamānaṁ nappahoti hantuṁ vā bandhituṁ vā jāpetuṁ vā yathāpaccayaṁ vā kātuṁ.It’s like a sheep dealer or butcher. They can execute, jail, fine, or otherwise punish one person who steals from them, but not another.

14.1Như thế nào, này các Tỷ-kheo, người đồ tể hay người giết dê, đối với một số người đánh cắp dê, có thể giết, có thể trói, có thể tịch thu tài sản, hay có thể làm như ý người ấy muốn?Kathaṁrūpaṁ, bhikkhave, orabbhiko vā urabbhaghātako vā urabbhaṁ adinnaṁ ādiyamānaṁ pahoti hantuṁ vā bandhituṁ vā jāpetuṁ vā yathāpaccayaṁ vā kātuṁ?What sort of person can they punish?

14.2–14.3Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người nghèo khổ, ít sở hữu tài sản. Kẻ đồ tể hay người giết dê, đối với kẻ đánh cắp dê như vậy có thể giết, hay trói, hay có thể tịch thu tài sản, hay có thể làm như ý người ấy muốn.Idha, bhikkhave, ekacco daliddo hoti appassako appabhogo. Evarūpaṁ, bhikkhave, orabbhiko vā urabbhaghātako vā urabbhaṁ adinnaṁ ādiyamānaṁ pahoti hantuṁ vā bandhituṁ vā jāpetuṁ vā yathāpaccayaṁ vā kātuṁ.Someone who is poor, with few possessions and little wealth. That’s the kind of person they can punish.

15.1Như thế nào, này các Tỷ-kheo, người đồ tể hay người giết dê, đối với kẻ đánh cắp dê như vậy không có thể giết, không có thể trói, không có thể tịch thu tài sản, hay không có thể làm như ý muốn?Kathaṁrūpaṁ, bhikkhave, orabbhiko vā urabbhaghātako vā urabbhaṁ adinnaṁ ādiyamānaṁ nappahoti hantuṁ vā bandhituṁ vā jāpetuṁ vā yathāpaccayaṁ vā kātuṁ.What sort of person can’t they punish?

15.2–15.5Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người giàu có, có sở hữu lớn, có tài sản lớn, hay nhà vua, hay đại thần của nhà vua. Người đồ tể hay người giết dê, đối với kẻ đánh cắp dê như vậy không có thể giết, không có thể trói, không có thể tịch thu tài sản, hay không có thể làm như ý người ấy muốn. Không có gì phải làm khác hơn là chắp tay và cầu xin như sau: “Thưa ngài, hãy cho con lại con dê hay giá tiền con dê”.Idha, bhikkhave, ekacco aḍḍho hoti mahaddhano mahābhogo rājā vā rājamahāmatto vā. Evarūpaṁ, bhikkhave, orabbhiko vā urabbhaghātako vā urabbhaṁ adinnaṁ ādiyamānaṁ nappahoti hantuṁ vā bandhituṁ vā jāpetuṁ vā yathāpaccayaṁ vā kātuṁ. Aññadatthu pañjalikova naṁ yācati: ‘dehi me, mārisa, urabbhaṁ vā urabbhadhanaṁ vā’ti.A ruler or their chief minister who is rich, affluent, and wealthy. That’s the kind of person they can’t punish. In fact, all they can do is raise their cupped palms and ask: ‘Please, good fellow, give me my sheep or pay me for it.’

15.6–15.7Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ở đây, đối với một số người có làm nghiệp ác nhỏ mọn, và nghiệp ác ấy đưa người ấy vào địa ngục. Nhưng ở đây, này các Tỷ-kheo, đối với một số người làm nghiệp ác nhỏ mọn tương tự, và nghiệp ác ấy đưa người ấy đến cảm thọ ngay trong hiện tại, cho đến chút ít cũng không thấy được, còn nói gì là nhiều.Evamevaṁ kho, bhikkhave, idhekaccassa puggalassa tādisaṁyeva appamattakampi pāpakammaṁ kataṁ tamenaṁ nirayaṁ upaneti. Idha pana, bhikkhave, ekaccassa puggalassa tādisaṁyeva appamattakaṁ pāpakammaṁ kataṁ diṭṭhadhammavedanīyaṁ hoti, nāṇupi khāyati, kiṁ bahudeva.This is how it is in the case of an individual who does a trivial bad deed, but it lands them in hell. Meanwhile, another individual does the same trivial bad deed, but experiences it in this life, so that not even a little remains, let alone a lot. …

16.1–16.3Hạng người như thế nào, này các Tỷ-kheo, có làm nghiệp ác nhỏ mọn, và nghiệp ác ấy đưa người ấy vào địa ngục? Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người có người thân không tu tập, giới không tu tập, tâm không tu tập, tuệ không tu tập, hạn hẹp, tự ngã nhỏ nhen, sống chịu khổ ít oi. Người như vậy, này các Tỷ-kheo, làm nghiệp ác nhỏ mọn, và nghiệp ác ấy đưa người ấy vào địa ngục.Kathaṁrūpassa, bhikkhave, puggalassa appamattakampi pāpakammaṁ kataṁ tamenaṁ nirayaṁ upaneti? Idha, bhikkhave, ekacco puggalo abhāvitakāyo hoti abhāvitasīlo abhāvitacitto abhāvitapañño paritto appātumo appadukkhavihārī. Evarūpassa, bhikkhave, puggalassa appamattakampi pāpakammaṁ kataṁ tamenaṁ nirayaṁ upaneti.…

17.1–17.3Hạng người như thế nào, này các Tỷ-kheo, có người làm nghiệp ác nhỏ mọn tương tự, nghiệp ác ấy đưa người ấy đến cảm thọ ngay trong hiện tại, cho đến chút ít cũng không thấy được, còn nói gì là nhiều? Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người thân được tu tập, giới được tu tập, tâm được tu tập, tuệ được tu tập, không có hạn hẹp, tự ngã to lớn, sống đời vô lượng. Người như vậy, này các Tỷ-kheo, có làm nghiệp ác nhỏ mọn tương tự, nghiệp ác ấy đưa người ấy đến cảm thọ ngay trong hiện tại, cho đến chút ít cũng không thấy được, còn nói gì là nhiều.Kathaṁrūpassa, bhikkhave, puggalassa tādisaṁyeva appamattakaṁ pāpakammaṁ kataṁ diṭṭhadhammavedanīyaṁ hoti, nāṇupi khāyati, kiṁ bahudeva? Idha, bhikkhave, ekacco puggalo bhāvitakāyo hoti bhāvitasīlo bhāvitacitto bhāvitapañño aparitto mahatto appamāṇavihārī. Evarūpassa, bhikkhave, puggalassa tādisaṁyeva appamattakaṁ pāpakammaṁ kataṁ diṭṭhadhammavedanīyaṁ hoti, nāṇupi khāyati, kiṁ bahudeva.…

18.1–18.5Ai nói như sau, này các Tỷ-kheo: “Người này làm nghiệp như thế nào, như thế nào, người ấy sẽ cảm thọ (quả) như vậy, như vậy”. Nếu sự kiện là vậy, này các Tỷ-kheo, thời không có đời sống Phạm hạnh, không có cơ hội để nêu rõ đau khổ được chơn chánh đoạn diệt. Và này các Tỷ-kheo, có ai nói như sau: “Người này làm nghiệp được cảm thọ như thế nào, như thế nào, người ấy sẽ cảm thọ quả dị thục như vậy, như vậy”. Nếu sự kiện là vậy, này các Tỷ-kheo, thời có đời sống Phạm hạnh, có cơ hội để nêu rõ đau khổ được chơn chánh đoạn diệt.Yo, bhikkhave, evaṁ vadeyya: ‘yathā yathāyaṁ puriso kammaṁ karoti tathā tathā taṁ paṭisaṁvedetī’ti, evaṁ santaṁ, bhikkhave, brahmacariyavāso na hoti, okāso na paññāyati sammā dukkhassa antakiriyāya. Yo ca kho, bhikkhave, evaṁ vadeyya: ‘yathā yathā vedanīyaṁ ayaṁ puriso kammaṁ karoti tathā tathā tassa vipākaṁ paṭisaṁvedetī’ti, evaṁ santaṁ, bhikkhave, brahmacariyavāso hoti, okāso paññāyati sammā dukkhassa antakiriyāyā”ti. Navamaṁ.Mendicants, suppose you say: ‘No matter how this person performs a deed, they experience it the same way.’ This being so, the spiritual life could not be lived, and there’d be no chance of making a complete end of suffering. Suppose you say: ‘No matter how this person performs a deed, they experience the result as it should be experienced.’ This being so, the spiritual life can be lived, and there is a chance of making a complete end of suffering.”

Giải nghĩa ngắn

Cuối kinh (đoạn 18), Đức Phật nhắc lại đúng hai cách nói ở đầu kinh. Ba ví dụ ở giữa đều đặt cạnh nhau hai trường hợp cùng một việc nhỏ mà kết quả khác nhau, rồi chỉ ra điều khác nhau giữa hai người: người thân, giới, tâm, tuệ chưa tu tập, hạn hẹp, so với người đã tu tập, không hạn hẹp. Với nắm muối, điều ấy được nói bằng hình ảnh: nước trong chén là ít, nước sông Hằng là một khối lớn.

Ví dụ đời thường để dễ hình dung (không phải lời kinh): pha một muỗng muối vào một ly nước thì mặn chát, nhưng cũng muỗng muối ấy khuấy vào cả thùng nước lớn thì hầu như không nhận ra. Muối giống nhau, lượng nước khác nhau. Kinh dùng chính hình ảnh này với chén nước và sông Hằng.

Ghi chú dịch: Minh Châu dịch aparitto mahatto appamāṇavihārī là “không có hạn hẹp, tự ngã to lớn, sống đời vô lượng”, còn Bhikkhu Sujato dịch “not small-minded, but are big-hearted, meditating on the immeasurables”. Hai bản chọn chữ khác nhau; bài này giữ lời Minh Châu và không giải thích thêm.

Ghi chú đối chiếu bản Minh Châu với Pāli: ở đoạn 6.1–7.3, bản Minh Châu in “hạn hẹp, tự ngã to lớn”, thiếu chữ “không có” so với các đoạn còn lại (Pāli ghi aparitto, nghĩa là không hạn hẹp). Ở đoạn 16.1–16.3 có chỗ in “có người có người thân không tu tập”. Trang giữ nguyên chữ in của bản Minh Châu.

Kinh Hạt Muối giữ hai điều cùng lúc: việc ác nhỏ vẫn có quả, và quả ấy không đóng khung sẵn cho mọi người; theo lời kinh ở đầu và cuối bài, hiểu như vậy thì có đời sống Phạm hạnh (đoạn 1.3–1.4, 18.3–18.4).

Viết bởi Diệu Hạnh

Nguồn trích dẫn

  1. Tăng Chi Bộ 3.100 (Loṇakapalla Sutta). Bản Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka, AN 3.100 trên SuttaCentral.
  2. Bản tiếng Anh: Bhikkhu Sujato dịch, SuttaCentral, phát hành theo giấy phép CC0.
  3. Bản tiếng Việt: HT. Thích Minh Châu dịch (bản trên SuttaCentral). Bản dịch tiếng Việt của HT. Thích Minh Châu, trích đăng để phụng sự Pháp thí; nếu chủ sở hữu bản quyền có yêu cầu, xin liên hệ 0902 332 970 để điều chỉnh.

Đọc tiếp