Tương Ưng Bộ 42.6 · SN 42.6

Kinh Hòn Đá Dưới Hồ

Asibandhakaputta Sutta

Còn gọi là: Kinh Asibandhakaputta

Có những vị thầy hứa đưa người chết lên trời bằng nghi lễ. Đức Phật không tranh cãi, chỉ hỏi: ném tảng đá xuống hồ rồi cả làng chắp tay khấn, đá có nổi lên không?

Trước khi đọc kinh

Kinh Hòn Đá Dưới Hồ, trong bản Pāli tên là Kinh Asibandhakaputta (Asibandhakaputta Sutta), là bài kinh thứ sáu trong phẩm Trưởng Làng, Tương Ưng Bộ. Đức Thế Tôn đang trú gần Na-lan-đà (Nāḷandā), tại vườn xoài của Pāvārika. Trưởng làng Asibandhakaputta kể: có những vị Bà-la-môn ở miền Tây mang bình nước, đeo vòng hoa kết bằng rong nước, hay xuống nước tắm gội và thờ lửa; khi có người chết, các vị ấy làm lễ nâng người ấy lên, chỉ đường và đưa người ấy vào cõi trời. Đức Thế Tôn có làm được cho cả thế gian sinh về cõi trời không (đoạn 2.1–2.3)? Theo chú giải Tương Ưng Bộ (Sāratthappakāsinī), các vị ấy sáng sớm lấy rong và hoa sen dưới nước kết thành vòng đeo, để cho thấy mình đã được nước làm cho trong sạch; còn lễ “đưa vào cõi trời” là đứng vây quanh người chết mà nói: “Hãy đi đi, hãy đi lên cõi Phạm thiên.”

Đức Phật hỏi lại: một người sát sinh, trộm cắp, tà hạnh, nói dối, nói lời chia rẽ, thô ác, phù phiếm, tham lam, sân hận, tà kiến, rồi cả đám đông tụ lại cầu khấn, tán tụng, chắp tay đi vòng quanh, mong người ấy sinh về cõi trời, người ấy có vì thế mà sinh về cõi trời không? Trưởng làng đáp: không (đoạn 4.2–4.7). Ngài ví như ném một tảng đá lớn xuống hồ sâu, rồi đám đông chắp tay khấn: “Nổi lên đi, tảng đá!” Tảng đá vẫn chìm (đoạn 5.1–5.6); người làm mười điều ác cũng vậy, vẫn sinh vào cõi khổ (đoạn 5.7–5.9). Ngược lại, người tránh xa mười điều ác, dù đám đông có khấn cho người ấy đọa địa ngục, người ấy vẫn sinh về cõi lành, như hũ bơ, hũ dầu bị đập vỡ dưới đáy hồ: mảnh sành chìm xuống, bơ và dầu nổi lên, dù ai có khấn cho nó chìm (đoạn 7.1–8.3). Nghe xong, trưởng làng xin quy y trọn đời (đoạn 8.6).

Hiểu đúng: bài kinh không chê lòng thương nhớ người đã khuất, cũng không cấm tụng kinh, làm phước hồi hướng. Điều kinh nói rõ là không có nghi lễ nào đổi được nghiệp người ấy đã làm: đá nặng thì chìm, dầu nhẹ thì nổi. Vì vậy, cách tốt nhất để lo cho “chỗ đi” của mình là sống tránh xa mười điều ác ngay từ bây giờ, chứ không trông vào người khác làm lễ sau khi mình mất. Còn với người thân đã khuất, việc làm phước rồi hồi hướng với lòng thương, như Kinh Ngoài Bức Tường (Khp 7) dạy, là việc nên làm; chỉ cần đừng nghĩ rằng một buổi lễ lớn có thể “kéo” ai lên khỏi đáy hồ. Tối nay, bạn có thể xét lại mười điều trong kinh và chọn một điều để giữ cho trọn trong tuần này.

Ý chính

  • Các vị Bà-la-môn miền Tây làm lễ nâng người chết lên và đưa vào cõi trời (2.1–2.2).
  • Người làm mười điều ác không vì đám đông cầu khấn, tán tụng, chắp tay đi vòng quanh mà được sinh về cõi trời (4.2–4.7).
  • Ném tảng đá lớn xuống hồ sâu, dù đám đông khấn “Nổi lên đi”, tảng đá vẫn không nổi (5.1–5.6).
  • Người làm ác, dù được cầu khấn, khi thân hoại mạng chung vẫn sinh vào cõi khổ (5.7–5.9).
  • Hũ bơ, hũ dầu vỡ dưới hồ: mảnh sành chìm, bơ dầu nổi, dù ai khấn cho nó chìm (7.1–7.6).
  • Người tránh xa mười điều ác, dù bị khấn cho đọa, vẫn sinh về cõi lành, cõi trời (8.1–8.3).
Thuật ngữ Pāli trong kinh
gāmaṇi
trưởng làng
pacchābhūmaka brāhmaṇa
Bà-la-môn miền Tây
sevālamālika
người đeo vòng hoa kết bằng rong nước; theo chú giải là để tỏ mình đã được nước làm sạch
udakorohaka
người hay xuống nước tắm gội để cầu thanh tịnh
āyācana
sự cầu khấn, van xin
puthusilā
tảng đá lớn
sugati / duggati
cõi lành / cõi dữ
kāyassa bhedā paraṁ maraṇā
khi thân hoại mạng chung

Kinh Hòn Đá Dưới Hồ

1Một thời Thế Tôn trú ở Nàlandà, tại rừng Pàvàrikamba.

Rồi thôn trưởng Asibandhakaputta đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.

Ngồi xuống một bên, thôn trưởng Asibandhakaputta bạch Thế Tôn:
Ekaṁ samayaṁ bhagavā nāḷandāyaṁ viharati pāvārikambavane. Atha kho asibandhakaputto gāmaṇi yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho asibandhakaputto gāmaṇi bhagavantaṁ etadavoca:At one time the Buddha was staying near Nāḷandā in Pāvārika’s Mango Grove. Then Asibandhaka’s son the chief went up to the Buddha, bowed, sat down to one side, and said to him:

2—Bạch Thế Tôn, các vị Bà-la-môn trú đất phương Tây, mang theo bình nước, đeo vòng hoa huệ (sevàla), nhờ nước được thanh tịnh. Những người thờ lửa, khi một người đã chết, đã mệnh chung, họ nhắc bổng và mang vị ấy ra ngoài (uyyàpenti), kêu tên vị ấy lên, và dẫn vị ấy vào Thiên giới. Còn Thế Tôn, bạch Thế Tôn, là bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, Thế Tôn có thể làm như thế nào cho toàn thể thế giới, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh lên thiện thú, Thiên giới, cõi đời này?“brāhmaṇā, bhante, pacchā bhūmakā kāmaṇḍalukā sevālamālikā udakorohakā aggiparicārakā. Te mataṁ kālaṅkataṁ uyyāpenti nāma saññāpenti nāma saggaṁ nāma okkāmenti. Bhagavā pana, bhante, arahaṁ sammāsambuddho pahoti tathā kātuṁ yathā sabbo loko kāyassa bhedā paraṁ maraṇā sugatiṁ saggaṁ lokaṁ upapajjeyyā”ti?“Sir, there are western brahmins garlanded with aquatic flowers who carry pitchers, immerse themselves in water, and serve the sacred flame. When someone has passed away, oh! they lift them up, send them well, and convey them to heaven. But what about the Blessed One, the perfected one, the fully awakened Buddha: is he able to ensure that the whole world will be reborn in a good place, a heavenly realm when their body breaks up, after death?”

3—Vậy, này Thôn trưởng, ở đây, Ta sẽ hỏi Ông. Nếu Ông kham nhẫn hãy trả lời.“Tena hi, gāmaṇi, taññevettha paṭipucchissāmi. Yathā te khameyya tathā naṁ byākareyyāsīti.“Well then, chief, I’ll ask you about this in return, and you can answer as you like.

4Này Thôn trưởng, Ông nghĩ thế nào? Ở đây, một người sát sanh, lấy của không cho, sống theo tà hạnh trong các dục, nói láo, nói hai lưỡi, nói lời độc ác, nói lời phù phiếm, tham lam, sân hận, theo tà kiến. Rồi một quần chúng đông đảo, tụ tập, tụ họp lại, cầu khẩn, tán dương, chấp tay đi cùng khắp và nói rằng: “Mong người này, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh lên thiện thú, Thiên giới, cõi đời này!” Ông nghĩ thế nào, này Thôn trưởng, người ấy do nhân cầu khẩn của đại quần chúng ấy, hay do nhân tán dương, hay do nhân chấp tay đi cùng khắp, sau khi thân hoại mạng chung, người ấy được sanh lên thiện thú, Thiên giới, cõi đời này?

—Thưa không, bạch Thế Tôn.
Taṁ kiṁ maññasi, gāmaṇi, idhassa puriso pāṇātipātī adinnādāyī kāmesumicchācārī musāvādī pisuṇavāco pharusavāco samphappalāpī abhijjhālu byāpannacitto micchādiṭṭhiko. Tamenaṁ mahājanakāyo saṅgamma samāgamma āyāceyya thomeyya pañjaliko anuparisakkeyya: ‘ayaṁ puriso kāyassa bhedā paraṁ maraṇā sugatiṁ saggaṁ lokaṁ upapajjatū’ti. Taṁ kiṁ maññasi, gāmaṇi, api nu so puriso mahato janakāyassa āyācanahetu vā thomanahetu vā pañjalikā anuparisakkanahetu vā kāyassa bhedā paraṁ maraṇā sugatiṁ saggaṁ lokaṁ upapajjeyyā”ti? “No hetaṁ, bhante”.What do you think, chief? Take a person who kills living creatures, steals, and commits sexual misconduct. They use speech that’s false, backbiting, harsh, or nonsensical. And they’re covetous, malicious, and have wrong view. A large crowd were to come together to offer up supplication and entreaty, circumambulating them with cupped palms and saying: ‘When this person’s body breaks up, after death, may they be reborn in a good place, a heavenly realm!’ What do you think, chief? Would that person be reborn in heaven because of their supplications?” “No, sir.”

5—Ví như, này Thôn trưởng, có người lấy một tảng đá lớn ném xuống một hồ nước sâu. Rồi một quần chúng đông đảo, tụ tập, tụ họp lại, cầu khẩn, tán dương, chấp tay đi cùng khắp và nói rằng: “Hãy đứng lên, tảng đá lớn! Hãy nổi lên, tảng đá lớn! Hãy trôi vào bờ, này tảng đá lớn!” Ông nghĩ thế nào, này Thôn trưởng, tảng đá lớn ấy do nhân cầu khẩn của đại quần chúng ấy, hay do nhân tán dương, hay do nhân chấp tay đi cùng khắp, có thể trồi lên, hay nổi lên, hay trôi dạt vào bờ không?

—Thưa không, bạch Thế Tôn.

—Cũng vậy, này Thôn trưởng, người nào sát sanh, lấy của không cho, sống theo tà hạnh trong các dục, nói láo, nói hai lưỡi, nói lời độc ác, nói lời phù phiếm, tham lam, sân hận, theo tà kiến. Rồi một quần chúng đông đảo, tụ tập, tụ họp lại, cầu khẩn, tán dương, chấp tay đi cùng khắp và nói rằng: “Mong người này, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh lên thiện thú, Thiên giới, cõi đời này!” Nhưng người ấy, sau khi thân hoại mạng chung, phải sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục.
“Seyyathāpi, gāmaṇi, puriso mahatiṁ puthusilaṁ gambhīre udakarahade pakkhipeyya. Tamenaṁ mahā janakāyo saṅgamma samāgamma āyāceyya thomeyya pañjaliko anuparisakkeyya: ‘ummujja, bho puthusile, uplava, bho puthusile, thalamuplava, bho puthusile’ti. Taṁ kiṁ maññasi, gāmaṇi, api nu sā puthusilā mahato janakāyassa āyācanahetu vā thomanahetu vā pañjalikā anuparisakkanahetu vā ummujjeyya vā uplaveyya vā thalaṁ vā uplaveyyā”ti? “No hetaṁ, bhante”. “Evameva kho, gāmaṇi, yo so puriso pāṇātipātī adinnādāyī kāmesumicchācārī musāvādī pisuṇavāco pharusavāco samphappalāpī abhijjhālu byāpannacitto micchādiṭṭhiko. Kiñcāpi taṁ mahā janakāyo saṅgamma samāgamma āyāceyya thomeyya pañjaliko anuparisakkeyya: ‘ayaṁ puriso kāyassa bhedā paraṁ maraṇā sugatiṁ saggaṁ lokaṁ upapajjatū’ti, atha kho so puriso kāyassa bhedā paraṁ maraṇā apāyaṁ duggatiṁ vinipātaṁ nirayaṁ upapajjeyya.“Chief, suppose a person were to throw a broad rock into a deep lake. And a large crowd were to come together to offer up supplication and entreaty, circumambulating it with cupped palms, and saying: ‘Rise, good rock! Float, good rock! Float to shore, good rock!’ What do you think, chief? Would that broad rock rise up or float because of their supplications?” “No, sir.” “In the same way, take a person who kills living creatures, steals, and commits sexual misconduct. They use speech that’s false, backbiting, harsh, or nonsensical. And they’re covetous, malicious, and have wrong view. Even though a large crowd were to come together to offer up supplication and entreaty … when their body breaks up, after death, they’re reborn in a place of loss, a bad place, the underworld, hell.

6Ông nghĩ thế nào, này Thôn trưởng? Ở đây, có người từ bỏ sát sanh, từ bỏ lấy của không cho, từ bỏ sống tà hạnh trong các dục, từ bỏ nói láo, từ bỏ nói hai lưỡi, từ bỏ nói lời độc ác, từ bỏ nói lời phù phiếm, không có tham, không có sân hận, có chánh tri kiến. Rồi một quần chúng đông đảo, tụ tập, tụ họp lại, cầu khẩn, tán dương, chấp tay đi cùng khắp và nói rằng: “Mong người này, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục!” Ông nghĩ thế nào, này Thôn trưởng, người ấy do nhân cầu khẩn của quần chúng đông đảo ấy, hay do nhân tán dương, hay do nhân chấp tay đi cùng khắp, sau khi thân hoại mạng chung, có thể sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục không?

—Thưa không, bạch Thế Tôn.
Taṁ kiṁ maññasi, gāmaṇi, idhassa puriso pāṇātipātā paṭivirato adinnādānā paṭivirato kāmesumicchācārā paṭivirato musāvādā paṭivirato pisuṇāya vācāya paṭivirato pharusāya vācāya paṭivirato samphappalāpā paṭivirato anabhijjhālu abyāpannacitto sammādiṭṭhiko. Tamenaṁ mahā janakāyo saṅgamma samāgamma āyāceyya thomeyya pañjaliko anuparisakkeyya: ‘ayaṁ puriso kāyassa bhedā paraṁ maraṇā apāyaṁ duggatiṁ vinipātaṁ nirayaṁ upapajjatū’ti. Taṁ kiṁ maññasi, gāmaṇi, api nu so puriso mahato janakāyassa āyācanahetu vā thomanahetu vā pañjalikā anuparisakkanahetu vā kāyassa bhedā paraṁ maraṇā apāyaṁ duggatiṁ vinipātaṁ nirayaṁ upapajjeyyā”ti? “No hetaṁ, bhante”.What do you think, chief? Take a person who doesn’t kill living creatures, steal, or commit sexual misconduct. They don’t use speech that’s false, backbiting, harsh, or nonsensical. And they’re contented, kind-hearted, with right view. And a large crowd were to come together to offer up supplication and entreaty, circumambulating them with cupped palms and saying: ‘When this person’s body breaks up, after death, may they be reborn in a place of loss, a bad place, the underworld, hell!’ What do you think, chief? Would that person be reborn in hell because of their supplications?” “No, sir.”

7—Ví như, này Thôn trưởng, có người nhận chìm một ghè sữa đông (sappi) hay một ghè dầu vào trong một hồ nước sâu rồi đập bể ghè ấy. Ở đây, ghè ấy trở thành từng miếng vụn, hay từng mảnh vụn và chìm xuống nước. Còn sữa đông hay dầu thời nổi lên trên. Rồi một quần chúng đông đảo, tụ tập, tụ họp lại, cầu khẩn, tán dương, chấp tay đi cùng khắp và nói: “Hãy chìm xuống, này sữa đông và dầu! Hãy chìm sâu xuống, này sữa đông và dầu. Hãy chìm xuống tận đáy, này sữa đông và dầu!”. Ông nghĩ thế nào, này Thôn trưởng, sữa đông ấy, dầu ấy, có do nhân cầu khẩn của đám quần chúng đông đảo ấy, do nhân tán dương, do nhân chấp tay đi cùng khắp của quần chúng đông đảo ấy nên bị chìm xuống, hay chìm sâu xuống, hay đi xuống tận đáy không?

—Thưa không, bạch Thế Tôn.
“Seyyathāpi, gāmaṇi, puriso sappikumbhaṁ vā telakumbhaṁ vā gambhīre udakarahade ogāhetvā bhindeyya. Tatra yāssa sakkharā vā kaṭhalā vā sā adhogāmī assa; yañca khvassa tatra sappi vā telaṁ vā taṁ uddhaṁ gāmi assa. Tamenaṁ mahā janakāyo saṅgamma samāgamma āyāceyya thomeyya pañjaliko anuparisakkeyya: ‘osīda, bho sappitela, saṁsīda, bho sappitela, adho gaccha, bho sappitelā’ti. Taṁ kiṁ maññasi, gāmaṇi, api nu taṁ sappitelaṁ mahato janakāyassa āyācanahetu vā thomanahetu vā pañjalikā anuparisakkanahetu vā osīdeyya vā saṁsīdeyya vā adho vā gaccheyyā”ti? “No hetaṁ, bhante”.“Chief, suppose a person were to sink a pot of ghee or oil into a deep lake and break it open. Its shards and chips would sink down, while the ghee or oil in it would rise up. And a large crowd were to come together to offer up supplication and entreaty, circumambulating it with cupped palms and saying: ‘Sink, good ghee or oil! Descend, good ghee or oil! Go down, good ghee or oil!’ What do you think, chief? Would that ghee or oil sink and descend because of their supplications?” “No, sir.”

8—Cũng vậy, này Thôn trưởng, có người từ bỏ sát sanh, từ bỏ lấy của không cho, từ bỏ sống tà hạnh trong các dục, từ bỏ nói láo, từ bỏ nói hai lưỡi, từ bỏ nói lời độc ác, từ bỏ nói lời phù phiếm, không có tham, không có sân, theo chánh tri kiến. Rồi một quần chúng đông đảo, tụ tập, tụ họp lại, cầu khẩn, tán dương, chấp tay đi cùng khắp và nói: “Mong rằng người này, sau khi thân hoại mạng chung, sẽ sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục!” Nhưng người ấy sau khi thân hoại mạng chung, sẽ sanh lên thiện thú, Thiên giới, cõi đời này.

Khi nghe nói vậy, thôn trưởng Asibandhakaputta bạch Thế Tôn:

—Thật là vi diệu, bạch Thế Tôn! Thật là vi diệu, bạch Thế Tôn! Bạch Thế Tôn, như người dựng đứng lại những gì bị quăng ngã xuống, phơi bày những gì bị che kín, chỉ đường cho kẻ bị lạc hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối để những ai có mắt có thể thấy sắc. Cũng vậy, Chánh pháp đã được Thế Tôn dùng nhiều phương tiện trình bày, giải thích. Bạch Thế Tôn, con nay xin quy y Phật, Pháp và chúng Tăng. Mong Thế Tôn nhận con làm đệ tử cư sĩ, từ nay trở đi cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng!
“Evameva kho, gāmaṇi, yo so puriso pāṇātipātā paṭivirato, adinnādānā paṭivirato, kāmesumicchācārā paṭivirato, musāvādā paṭivirato, pisuṇāya vācāya paṭivirato, pharusāya vācāya paṭivirato, samphappalāpā paṭivirato, anabhijjhālu, abyāpannacitto, sammādiṭṭhiko, kiñcāpi taṁ mahā janakāyo saṅgamma samāgamma āyāceyya thomeyya pañjaliko anuparisakkeyya: ‘ayaṁ puriso kāyassa bhedā paraṁ maraṇā apāyaṁ duggatiṁ vinipātaṁ nirayaṁ upapajjatū’ti, atha kho so puriso kāyassa bhedā paraṁ maraṇā sugatiṁ saggaṁ lokaṁ upapajjeyyā”ti. Evaṁ vutte, asibandhakaputto gāmaṇi bhagavantaṁ etadavoca: “abhikkantaṁ, bhante …pe… ajjatagge pāṇupetaṁ saraṇaṁ gatan”ti. Chaṭṭhaṁ.“In the same way, take a person who doesn’t kill living creatures, steal, or commit sexual misconduct. They don’t use speech that’s false, backbiting, harsh, or nonsensical. And they’re contented, kind-hearted, with right view. Even though a large crowd were to come together to offer up supplication and entreaty … when their body breaks up, after death, they’re reborn in a good place, a heavenly realm.” When he said this, Asibandhaka’s son the chief said to the Buddha, “Excellent, sir! … From this day forth, may the Buddha remember me as a lay follower who has gone for refuge for life.”

Viết bởi Chánh Tín

Nguồn trích dẫn

  1. Tương Ưng Bộ 42.6 (Asibandhakaputta Sutta). Bản Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka, SN 42.6 trên SuttaCentral.
  2. Bản tiếng Anh: Bhikkhu Sujato dịch, SuttaCentral, phát hành theo giấy phép CC0.
  3. Bản tiếng Việt: HT. Thích Minh Châu dịch (bản trên SuttaCentral). Bản dịch tiếng Việt của HT. Thích Minh Châu, trích đăng để phụng sự Pháp thí; nếu chủ sở hữu bản quyền có yêu cầu, xin liên hệ 0902 332 970 để điều chỉnh.

Đọc tiếp