Kinh Ngoài Bức Tường
Tirokuṭṭa Sutta
Còn gọi là: Kinh Ngoài Bức Vách
Người thân đã mất có cần gì ở ta không? Bài kệ này trả lời bằng hình ảnh nước mưa chảy từ gò cao xuống chỗ trũng.
Trước khi đọc kinh
Đây là bài kinh gốc của nghi thức hồi hướng phước cho người đã khuất trong Phật giáo Nam truyền, và vẫn được tụng trong các lễ cúng thất, giỗ, hay mùa Vu Lan. Kinh nói đến những người thân đã mất tái sinh vào cảnh giới ngạ quỷ (peta), đứng chờ ngoài bức tường của ngôi nhà xưa (kệ 1).
Cách giúp họ được nói rất rõ. Ở cõi ấy không có ruộng cày, không có buôn bán; họ sống nhờ những gì được cho từ đây (kệ 6–7). Điều giúp được họ là việc thiện người sống làm rồi hồi hướng: bố thí cơm nước đúng lúc (kệ 3), khéo dâng vào Tăng chúng (kệ 12), và nói lời hồi hướng “Mong điều này đến với bà con chúng ta” (kệ 4). Người đã khuất tùy hỷ với việc lành ấy và được lợi ích (kệ 5).
Kinh cũng nói một câu thẳng thắn và an ủi: khóc than, sầu muộn không ích gì cho người đã khuất (kệ 11). Thương người mất, hãy làm điều thiện thay vì chìm trong buồn khổ. Đây là cách tưởng nhớ vừa đúng Pháp, vừa nhẹ lòng người ở lại.
Ý chính
- Người thân đã khuất có thể đứng chờ nơi nhà xưa (kệ 1).
- Họ sống nhờ những gì được cho từ đây (kệ 7).
- Như nước từ gò cao chảy xuống chỗ trũng (kệ 8–9).
- Hãy nhớ ơn và làm việc cúng dường hồi hướng (kệ 10).
- Khóc than không giúp được người đã khuất (kệ 11).
- Cúng dường khéo đặt vào Tăng chúng có lợi ích lâu dài (kệ 12).
Thuật ngữ Pāli trong kinh
- tirokuṭṭa
- ngoài bức tường
- peta
- người đã khuất; ở đây là ngạ quỷ
- ñāti
- bà con, thân quyến
- dakkhiṇā
- món cúng dường, sự bố thí
- anumodati
- tùy hỷ: vui theo việc lành
- puñña
- phước
Kinh Ngoài Bức Tường
1Ở bên ngoài bức tường,
Bọn họ đứng chờ đợi,
Giao lộ, ngã ba đường,
Trở về mái nhà xưa,
Đợi chờ bên cạnh cổng.Tirokuṭṭesu tiṭṭhanti, sandhisiṅghāṭakesu ca; Dvārabāhāsu tiṭṭhanti, āgantvāna sakaṁ gharaṁ.Outside the walls they stand and wait, at the junctions and the crossroads. Returning to their former homes they wait beside the door posts.
2Nhưng khi tiệc thịnh soạn,
Được bày biện sẵn sàng,
Đủ mọi thức uống ăn,
Không một ai nhớ họ.
Sự kiện này phát sinh
Từ nghiệp xưa của họ.Pahūte annapānamhi, khajjabhojje upaṭṭhite; Na tesaṁ koci sarati, sattānaṁ kammapaccayā.But when lavish food and drink of many kinds is set out, no one remembers them at all, because of those beings’s deeds.
3Vậy ai có từ tâm,
Nhớ cho các thân nhân,
Thức uống ăn thanh tịnh,
Tốt đẹp và đúng thời.Evaṁ dadanti ñātīnaṁ, ye honti anukampakā; Suciṁ paṇītaṁ kālena, kappiyaṁ pānabhojanaṁ.That’s why those who have compassion give to their relatives food and drink at the right time, that’s clean, delicious, and suitable.
4Món này cho bà con,
Mong bà con an lạc,
Đám ngạ quỷ thân bằng,
Đã tề tựu chỗ đó.Idaṁ vo ñātīnaṁ hotu, sukhitā hontu ñātayo; Te ca tattha samāgantvā, ñātipetā samāgatā.“May this be for our relatives! May our relatives be happy!” Those ghosts who have gathered there, the departed relatives who have come
5Sẽ mong muốn chúc lành,
Vì thực phẩm đầy đủ,
Mong quyến thuộc sống lâu,
Nhờ người, ta hưởng lợi,.Pahūte annapānamhi, sakkaccaṁ anumodare; Ciraṁ jīvantu no ñātī, yesaṁ hetu labhāmase.for the lavish food and drink gratefully express appreciation: “May our relatives live long! For those to whom we owe this gain,
6Vì đã kính lễ ta,
Thí chủ không thiếu quả
Tại đó không cấy cày,
Cũng không nuôi súc vật.Amhākañca katā pūjā, dāyakā ca anipphalā; Na hi tattha kasī atthi, gorakkhettha na vijjati.who have given honor to us, it will not be fruitless for the donor.” There is no farming there, no cow pasture can be found;
7Cũng không có buôn bán,
Không trao đổi tiền vàng,
Các ngạ quỷ họ hàng,
Chỉ sống nhờ bố thí.Vaṇijjā tādisī natthi, hiraññena kayākayaṁ; Ito dinnena yāpenti, petā kālagatā tahiṁ.likewise there’s no trading, and no commerce in gold coin. The departed, the dead in that place live on what is given here.
8Như nước đổ xuống đồi,
Chảy xuống tận vực sâu,
Bố thí tại chỗ này,
Cung cấp loài ngạ quỷ.Unname udakaṁ vuṭṭhaṁ, yathā ninnaṁ pavattati; Evamevaṁ ito dinnaṁ, petānaṁ upakappati.Just as water that rains on high flows down to the plains, so too what is given here aids the departed ghosts.
9Như lòng sông tràn đầy,
Đưa nước đổ xuống biển,
Bố thí tại chỗ này,
Cung cấp loài ngạ quỷ.Yathā vārivahā pūrā, paripūrenti sāgaraṁ; Evamevaṁ ito dinnaṁ, petānaṁ upakappati.Just as the rivers full swell the ocean seas so too what is given here aids the departed ghosts.
10Người ấy đã cho ta,
Đã làm việc vì ta,
Người ấy là quyến thuộc,
Người ấy chính thân bằng.
Hãy bố thí ngạ quỷ,
Nhớ việc xưa chúng làm.Adāsi me akāsi me, ñāti mittā sakhā ca me; Petānaṁ dakkhiṇaṁ dajjā, pubbe katamanussaraṁ.Thinking: “They gave to me, they did for me, they were my family, friend, comrade”, give offerings to departed kin, remembering past deeds.
11Không khóc than, sầu muộn,
Không thương tiếc cách gì,
Giúp ích loài ngạ quỷ,
Quyến thuộc làm như vầy,
Không lợi cho ngạ quỷ.Na hi ruṇṇaṁ vā soko vā, yā caññā paridevanā; Na taṁ petānamatthāya, evaṁ tiṭṭhanti ñātayo.For neither tears nor grief or other lamentations are of any use to the departed, so long as their relatives stay like this.
12Nhưng khi vật cúng dường,
Khéo đặt vào chư Tăng
Ích lợi chúng lâu dài,
Bây giờ, về sau nữa.Ayañca kho dakkhiṇā dinnā, saṅghamhi suppatiṭṭhitā; Dīgharattaṁ hitāyassa, ṭhānaso upakappati.This offering that has been given, well placed in the Saṅgha, is for their lasting welfare, and aids them right away.
13–14Chánh pháp được giảng bày,
Như vậy cho quyến thuộc,
Kính trọng biết chừng nào,
Đối với người đã khuất,
Chư Tăng được cúng dường,
Cũng tăng thêm dõng mãnh,
Người tích tụ công đức,
Thật to lớn biết bao.So ñātidhammo ca ayaṁ nidassito, Petāna pūjā ca katā uḷārā; Balañca bhikkhūnamanuppadinnaṁ, Tumhehi puññaṁ pasutaṁ anappakanti. Tirokuṭṭasuttaṁ.The relative’s duty has now been shown: how high honor to departed is performed, how the mendicants can be kept strong, and how no little merit is produced by you.
Viết bởi Chánh Tín
Nguồn trích dẫn
- Tiểu Tụng 7 (Tirokuṭṭa Sutta). Bản Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka, Khp 7 trên SuttaCentral.
- Bản tiếng Anh: Bhikkhu Sujato dịch, SuttaCentral, phát hành theo giấy phép CC0.
- Bản tiếng Việt: HT. Thích Minh Châu dịch (bản trên SuttaCentral). Bản dịch tiếng Việt của HT. Thích Minh Châu, trích đăng để phụng sự Pháp thí; nếu chủ sở hữu bản quyền có yêu cầu, xin liên hệ 0902 332 970 để điều chỉnh.