Kinh Kaccānagotta
Kaccānagotta Sutta
Còn gọi là: Kinh Kaccanagotta, Kinh Ca-chiên-diên
Một câu hỏi ngắn về chánh kiến, và câu trả lời trở thành một trong những đoạn kinh được dẫn nhiều nhất về con đường ở giữa “có” và “không”.
Trước khi đọc kinh
Kinh Kaccānagotta (Kaccānagotta Sutta) thuộc Tương Ưng Bộ, phần Tương Ưng Nhân Duyên, phẩm Thức Ăn. Tại thành Xá-vệ (Sāvatthī), Tôn giả Ca-chiên-diên (Kaccānagotta, nghĩa là người thuộc dòng họ Kaccāna) đến hỏi Đức Thế Tôn: người ta thường nói “chánh kiến, chánh kiến”, vậy đến mức nào thì gọi là chánh kiến (đoạn 1.2–1.4)? Đức Phật trả lời rằng thế gian này phần đông dựa vào hai chỗ: cái “có” và cái “không” (đoạn 2.1). Ai thấy đúng như thật sự sinh khởi của thế gian thì ý nghĩ “không có” không còn chỗ đứng; ai thấy đúng như thật sự chấm dứt của thế gian thì ý nghĩ “có” cũng không còn chỗ đứng (đoạn 2.2–2.3).
Thế gian phần đông bị ràng buộc vào sự dính mắc, nắm giữ và cố chấp (đoạn 2.4). Người không sa vào, không nắm lấy, không nghĩ “đây là tự ngã của tôi”, thì không còn ngờ vực rằng cái đang sinh khởi chỉ là khổ đang sinh khởi, cái đang chấm dứt chỉ là khổ đang chấm dứt; người ấy tự mình biết, không cần dựa vào ai (đoạn 2.5–2.6). Đó là chánh kiến (đoạn 2.7). Rồi Đức Phật nói câu then chốt: “mọi thứ đều hiện hữu” là một thái cực, “mọi thứ đều không hiện hữu” là thái cực thứ hai; không đi theo hai thái cực ấy, Như Lai dạy Pháp theo con đường ở giữa (đoạn 3.1–3.3). Con đường ở giữa ấy chính là duyên khởi: do vô minh làm duyên mà có các hành, do các hành làm duyên mà có thức, như vậy là sự sinh khởi của toàn bộ khối khổ; và khi vô minh chấm dứt hoàn toàn thì các hành chấm dứt, cho đến toàn bộ khối khổ chấm dứt (đoạn 3.4–3.9).
Ở đây, “trung đạo” không phải là sự dung hòa nửa này nửa kia, mà là cách nhìn theo nhân duyên: mọi thứ sinh khởi khi đủ duyên, và chấm dứt khi duyên dứt, nên không thể nói gọn là thường còn, cũng không thể nói là hoàn toàn không có. Kinh Chuyển Pháp Luân (SN 56.11) nói về con đường ở giữa hai cực của lối sống, đắm dục và khổ hạnh; bài kinh này nói về con đường ở giữa hai cực của cách thấy. Trong đời thường, ta hay nghĩ về mình như một cái gì cố định (“tôi vốn nóng tính”), hoặc buông xuôi rằng chẳng có gì là thật. Nhìn theo duyên khởi thì cơn nóng giận là thứ sinh khởi khi đủ điều kiện, như mệt mỏi, bị chạm vào chỗ đau, và có thể lắng xuống khi các điều kiện ấy thay đổi.
Ý chính
- Thế gian phần đông dựa vào hai chỗ: cái “có” và cái “không” (2.1).
- Thấy sự sinh khởi của thế gian thì ý “không có” không còn chỗ đứng; thấy sự chấm dứt thì ý “có” không còn chỗ đứng (2.2–2.3).
- Không nắm lấy ý “đây là tự ngã của tôi”, chỉ thấy khổ sinh khởi và khổ chấm dứt (2.5–2.6).
- Chánh kiến là hiểu biết tự mình thấy, không cần dựa vào ai khác (2.6–2.7).
- “Mọi thứ đều hiện hữu” và “mọi thứ đều không hiện hữu” là hai thái cực (3.1–3.2).
- Con đường ở giữa mà Như Lai dạy là duyên khởi, từ vô minh đến toàn bộ khối khổ (3.3–3.9).
Thuật ngữ Pāli trong kinh
- sammādiṭṭhi
- chánh kiến
- atthitā
- cái “có”, ý niệm hiện hữu
- natthitā
- cái “không”, ý niệm không hiện hữu
- loka
- thế gian
- anta
- thái cực, đầu mút
- majjhena
- theo con đường ở giữa
- upādāna
- chấp thủ
- paṭiccasamuppāda
- duyên khởi
Kinh Kaccānagotta
1Trú ở Sāvatthi (Xá-vệ) …
Rồi Tôn giả Kaccàyanagotta đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.
Ngồi xuống một bên, Tôn giả Kaccàyanagotta bạch Thế Tôn:
: “Chánh kiến, chánh kiến”, bạch Thế Tôn được nói đến như vậy. Bạch Thế Tôn, cho đến như thế nào là chánh kiến?Sāvatthiyaṁ viharati. Atha kho āyasmā kaccānagotto yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho āyasmā kaccānagotto bhagavantaṁ etadavoca: “‘sammādiṭṭhi sammādiṭṭhī’ti, bhante, vuccati. Kittāvatā nu kho, bhante, sammādiṭṭhi hotī”ti?At Sāvatthī. Then Venerable Kaccānagotta went up to the Buddha, bowed, sat down to one side, and said to him: “Sir, they speak of this thing called ‘right view’. How is right view defined?”
2—Này Kaccāyana, thế giới này phần lớn y chỉ vào hai cực đoan này: có và không có.
Này Kaccāyana, ai với chánh trí tuệ thấy như chơn thế giới tập khởi, vị ấy không chấp nhận thế giới là không có. Này Kaccāyana, ai với chánh trí tuệ thấy như chơn thế giới đoạn diệt, vị ấy không chấp nhận thế giới là có.
Này Kaccāyana, chấp thủ phương tiện và bị thiên kiến trói buộc, phần lớn thế giới này là vậy. Và ai với tâm không trú trước, không chấp thủ phương tiện ấy, không chấp thủ thiên chấp tùy miên ấy, không có chấp trước, không trú trước, vị ấy không có nghĩ: “Đây là tự ngã của tôi”. Khi khổ sanh thời xem là sanh, khi khổ diệt thời xem là diệt; vị ấy không có nghi ngờ, không có phân vân, không duyên vào ai khác, trí ở đây là của vị ấy. Cho đến như vậy, này Kaccāyana, là chánh tri kiến.“Dvayanissito khvāyaṁ, kaccāna, loko yebhuyyena—atthitañceva natthitañca. Lokasamudayaṁ kho, kaccāna, yathābhūtaṁ sammappaññāya passato yā loke natthitā sā na hoti. Lokanirodhaṁ kho, kaccāna, yathābhūtaṁ sammappaññāya passato yā loke atthitā sā na hoti. Upayupādānābhinivesavinibandho khvāyaṁ, kaccāna, loko yebhuyyena. Tañcāyaṁ upayupādānaṁ cetaso adhiṭṭhānaṁ abhinivesānusayaṁ na upeti na upādiyati nādhiṭṭhāti: ‘attā me’ti. ‘Dukkhameva uppajjamānaṁ uppajjati, dukkhaṁ nirujjhamānaṁ nirujjhatī’ti na kaṅkhati na vicikicchati aparapaccayā ñāṇamevassa ettha hoti. Ettāvatā kho, kaccāna, sammādiṭṭhi hoti.“Kaccāna, this world mostly relies on the duality of existence and non-existence. But for one who truly sees the origin of the world with right understanding, the concept of non-existence regarding the world does not occur. And for one who truly sees the cessation of the world with right understanding, the concept of existence regarding the world does not occur. This world is for the most part shackled by getting involved, grasping, and insisting. But if, when it comes to this getting involved & grasping, mental fixation, and insistence & underlying tendency, they are not attracted, do not grasp, and do not fixate on the thought, “my self”, they’ll have no doubt or uncertainty that what arises is just suffering arising, and what ceases is just suffering ceasing. Their knowledge of this is independent of others. This is how right view is defined.
3“Tất cả là có”, này Kaccāyana, là một cực đoan. “Tất cả là không có” là cực đoan thứ hai.
Xa lìa hai cực đoan ấy, này Kaccāyana, Như Lai thuyết pháp theo trung đạo.
Vô minh duyên hành; hành duyên thức … (như trên) … Như vậy là toàn bộ khổ uẩn này tập khởi. Nhưng do ly tham, đoạn diệt vô minh một cách hoàn toàn, nên các hành diệt. Do các hành diệt nên thức diệt … (như trên) … Như vậy là toàn bộ khổ uẩn này đoạn diệt.‘Sabbamatthī’ti kho, kaccāna, ayameko anto. ‘Sabbaṁ natthī’ti ayaṁ dutiyo anto. Ete te, kaccāna, ubho ante anupagamma majjhena tathāgato dhammaṁ deseti: ‘avijjāpaccayā saṅkhārā; saṅkhārapaccayā viññāṇaṁ …pe… evametassa kevalassa dukkhakkhandhassa samudayo hoti. Avijjāya tveva asesavirāganirodhā saṅkhāranirodho; saṅkhāranirodhā viññāṇanirodho …pe… evametassa kevalassa dukkhakkhandhassa nirodho hotī’”ti. Pañcamaṁ.‘All exists’: this is one extreme. ‘All does not exist’: this is the second extreme. Avoiding these two extremes, the Realized One teaches by the middle way: ‘Ignorance is a requirement for choices. Choices are a requirement for consciousness. … That is how this entire mass of suffering originates. When ignorance fades away and ceases with no residue left behind, choices cease. When choices cease, consciousness ceases. … That is how this entire mass of suffering ceases.’”
Viết bởi Tuệ Minh
Nguồn trích dẫn
- Tương Ưng Bộ 12.15 (Kaccānagotta Sutta). Bản Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka, SN 12.15 trên SuttaCentral.
- Bản tiếng Anh: Bhikkhu Sujato dịch, SuttaCentral, phát hành theo giấy phép CC0.
- Bản tiếng Việt: HT. Thích Minh Châu dịch (bản trên SuttaCentral). Bản dịch tiếng Việt của HT. Thích Minh Châu, trích đăng để phụng sự Pháp thí; nếu chủ sở hữu bản quyền có yêu cầu, xin liên hệ 0902 332 970 để điều chỉnh.