Kinh Liễu Tri Tất Cả
Sabbapariññā Sutta
Một đoạn văn xuôi hai câu đối nhau, và một bài kệ bốn dòng Pāli, nói về việc biết rõ tất cả để diệt khổ.
Trước khi đọc kinh
Tóm lại
- Không thắng tri, không liễu tri tất cả, không ly tham, không từ bỏ thì không thể diệt khổ.
- Thắng tri, liễu tri, ly tham, từ bỏ thì có thể diệt khổ.
- Kệ: biết tất cả là tất cả, không tham đắm ở đâu, thì vượt qua mọi đau khổ.
Kinh Liễu Tri Tất Cả (Sabbapariññā Sutta) là kinh thứ bảy trong Chương Một Pháp của Kinh Phật Thuyết Như Vậy (Itivuttaka). Khác với bốn kinh đứng trước, bài này không có lời bảo đảm “không có tái sanh”. Đức Phật nêu hai câu đối nhau: ai không thắng tri, không liễu tri tất cả, tâm không ly tham, không từ bỏ thì không thể diệt khổ; ai thắng tri, liễu tri, tâm ly tham, từ bỏ thì có thể diệt khổ. Bài kệ kết lại: ai biết tất cả là tất cả, không tham đắm ở bất cứ chỗ nào, vị ấy liễu tri tất cả và vượt qua mọi đau khổ.
Thuật ngữ Pāli trong kinh
- sabba
- tất cả
- abhijānaṁ
- thắng tri, biết trực tiếp bằng trí
- parijānaṁ
- liễu tri, hiểu thấu trọn vẹn
- virājayaṁ
- ly tham, lìa sự dính mắc
- pajahaṁ
- từ bỏ
- dukkhakkhaya
- sự chấm dứt khổ đau
- sabbapariññā
- sự liễu tri tất cả
Kinh Liễu Tri Tất Cả
1Điều này đã được Thế Tôn nói đến, đã được bậc A-la-hán nói đến, và tôi đã được nghe:
Này các Tỷ-kheo, ai không thắng tri, không liễu tri tất cả, ở đây tâm không ly tham, từ bỏ, không thể diệt được khổ đau. Này các Tỷ-kheo, ai thắng tri, liễu tri tất cả, ở đây tâm ly tham, từ bỏ, có thể diệt được khổ đau.
Thế Tôn đã nói lên ý nghĩa này. Ở đây, điều này được nói đến.Vuttañhetaṁ bhagavatā vuttamarahatāti me sutaṁ: “Sabbaṁ, bhikkhave, anabhijānaṁ aparijānaṁ tattha cittaṁ avirājayaṁ appajahaṁ abhabbo dukkhakkhayāya. Sabbañca kho, bhikkhave, abhijānaṁ parijānaṁ tattha cittaṁ virājayaṁ pajahaṁ bhabbo dukkhakkhayāyā”ti. Etamatthaṁ bhagavā avoca. Tatthetaṁ iti vuccati:This was said by the Buddha, the Perfected One: that is what I heard. “Mendicants, without directly knowing and completely understanding the all, without dispassion for it and giving it up, you can’t end suffering. By directly knowing and completely understanding the all, having dispassion for it and giving it up, you can end suffering.” The Buddha spoke this matter. On this it is said:
2Ai hiểu, rõ biết được,
Tất cả là tất cả,
Đối với tất cả chỗ,
Không có sự tham đắm,
Vị như vậy chắc chắn,
Liễu tri được tất cả,
Và có thể vượt qua,
Tất cả mọi đau khổ.“Yo sabbaṁ sabbato ñatvā,
sabbatthesu na rajjati;
Sa ve sabbapariññā so,
sabbadukkhamupaccagā”ti.“Those who know the all as all, are not attracted to anything. They completely understand all, and have risen above all suffering.”
3Ý nghĩa này được Thế Tôn nói đến và tôi đã được nghe.Ayampi attho vutto bhagavatā, iti me sutanti. Sattamaṁ.This too is a matter that was spoken by the Blessed One: that is what I heard.
Giải nghĩa ngắn
Kinh không định nghĩa “tất cả”. Để so sánh, Kinh Tất Cả (SN 35.23) trên web này nói “tất cả” là sáu căn và sáu trần; đó là kinh khác, bài Iti 7 không nói như vậy.
Ghi chú về chữ: ở câu đầu, bản Minh Châu in “tâm không ly tham, từ bỏ, không thể diệt được khổ đau”. Đối chiếu Pāli (avirājayaṁ appajahaṁ) thì ý là “không ly tham, không từ bỏ”. Phần văn kinh bên dưới giữ nguyên chữ in của bản dịch.
Ví dụ đời thường để dễ hình dung (không phải lời kinh): muốn dọn một căn phòng bừa bộn, trước hết phải nhìn rõ trong phòng có những gì; chưa nhìn rõ mà cứ dọn thì không xong.
Hai chữ then chốt của kinh Liễu Tri Tất Cả là biết rõ rồi buông: có cả hai thì diệt được khổ.
Viết bởi Diệu Hạnh
Nguồn trích dẫn
- Phật Thuyết Như Vậy 7 (Sabbapariññā Sutta, Itivuttaka 7). Bản Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka, Iti 7 trên SuttaCentral.
- Bản tiếng Anh: Bhikkhu Sujato dịch, SuttaCentral, phát hành theo giấy phép CC0.
- Bản tiếng Việt: HT. Thích Minh Châu dịch (Tiểu Bộ Kinh, Kinh Phật Thuyết Như Vậy, Chương Một Pháp; bản trên phatphapungdung.com, lấy ngày 24/10/2026). Bản dịch tiếng Việt của HT. Thích Minh Châu, trích đăng để phụng sự Pháp thí; nếu chủ sở hữu bản quyền có yêu cầu, xin liên hệ 0902 332 970 để điều chỉnh.
- Tên kinh tiếng Việt do Hoan Hỉ đặt theo tên Pāli; bản dịch của HT. Thích Minh Châu không đặt tên riêng cho từng kinh trong Phật Thuyết Như Vậy.