Kinh Mạn
Māna Sutta
Mạn, tức kiêu mạn, là pháp được nêu ra để từ bỏ, cùng lời bảo đảm của Đức Phật và một bài kệ sáu dòng.
Trước khi đọc kinh
Tóm lại
- Pháp được nêu để từ bỏ là mạn; Đức Phật bảo đảm cho các Tỷ-kheo không có tái sanh.
- Kệ: bị kiêu mạn, kiêu căng thì chúng sanh đi ác thú; bậc thiền quán, chánh trí từ bỏ kiêu mạn thì không trở lại đời này.
- Kinh không định nghĩa chữ mạn, chỉ gọi tên và nêu kết quả.
Kinh Mạn (Māna Sutta) là kinh thứ sáu trong Chương Một Pháp của Kinh Phật Thuyết Như Vậy (Itivuttaka). Đức Phật bảo các Tỷ-kheo hãy từ bỏ một pháp, lần này là mạn, và nói Ngài bảo đảm cho các vị không có tái sanh. Bài kệ nói chúng sanh bị kiêu mạn, kiêu căng thì đi ác thú, còn bậc thiền quán, chánh trí từ bỏ kiêu mạn thì không bao giờ trở lại đời này.
Thuật ngữ Pāli trong kinh
- māna
- mạn, kiêu mạn
- matta
- say, bị chi phối (Minh Châu dịch “kiêu căng”)
- pajahatha
- hãy từ bỏ
- pāṭibhogo
- người bảo đảm
- anāgāmitā
- trạng thái không trở lại; Minh Châu dịch “không có tái sanh”
- duggati
- đường đi xấu, ác thú
- vipassī
- người quán thấy rõ, bậc thiền quán
Kinh Mạn
1Điều này đã được Thế Tôn nói đến, đã được bậc A-la-hán nói đến, và tôi đã được nghe:
Này các Tỷ-kheo, hãy từ bỏ một pháp. Ta bảo đảm cho các Thầy không có tái sanh. Thế nào là một pháp? Mạn, này các Tỷ kheo, là một pháp các Thầy hãy từ bỏ. Ta bảo đảm cho các Thầy không có tái sanh.
Thế Tôn đã nói lên ý nghĩa này. Ở đây, điều này được nói đến.Vuttañhetaṁ bhagavatā vuttamarahatāti me sutaṁ: “Ekadhammaṁ, bhikkhave, pajahatha; ahaṁ vo pāṭibhogo anāgāmitāya. Katamaṁ ekadhammaṁ? Mānaṁ, bhikkhave, ekadhammaṁ pajahatha; ahaṁ vo pāṭibhogo anāgāmitāyā”ti. Etamatthaṁ bhagavā avoca. Tatthetaṁ iti vuccati:This was said by the Buddha, the Perfected One: that is what I heard. “Mendicants, give up one thing and I guarantee you non-return. What one thing? Conceit is the one thing. Give it up, and I guarantee you non-return.” The Buddha spoke this matter. On this it is said:
2Với kiêu mạn kiêu căng,
Chúng sanh đi ác thú,
Bậc thiền quán, chánh trí
Từ bỏ kiêu mạn ấy,
Từ bỏ, không bao giờ
Trở lại tại đời này.“Yena mānena mattāse,
sattā gacchanti duggatiṁ;
Taṁ mānaṁ sammadaññāya,
pajahanti vipassino;
Pahāya na punāyanti,
imaṁ lokaṁ kudācanan”ti.“Drunk on conceit, beings go to a bad place. Having rightly understood that conceit, the discerning give it up. Once they’ve given it up, they never return to this world.”
3Ý nghĩa này đã được Thế Tôn nói đến và tôi đã được nghe.Ayampi attho vutto bhagavatā, iti me sutanti. Chaṭṭhaṁ.This too is a matter that was spoken by the Blessed One: that is what I heard.
Giải nghĩa ngắn
Kinh này không giải thích mạn gồm những gì; bài chỉ nói mạn là pháp cần bỏ. Kinh thứ tám (Liễu Tri Mạn) quay lại chữ này với một bài kệ dài hơn.
Ví dụ đời thường để dễ hình dung (không phải lời kinh): người nghĩ mình hơn hẳn thường khó nghe góp ý, và vì thế khó thấy chỗ mình sai. Kệ dùng hình ảnh “say”: kiêu căng như người say mạn.
Cách chữa vẫn là biết rõ mạn rồi từ bỏ.
Kinh Mạn nhắc một điều ngắn gọn: kiêu mạn là một thứ say, và người tỉnh thì bỏ được nó.
Viết bởi Diệu Hạnh
Nguồn trích dẫn
- Phật Thuyết Như Vậy 6 (Māna Sutta, Itivuttaka 6). Bản Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka, Iti 6 trên SuttaCentral.
- Bản tiếng Anh: Bhikkhu Sujato dịch, SuttaCentral, phát hành theo giấy phép CC0.
- Bản tiếng Việt: HT. Thích Minh Châu dịch (Tiểu Bộ Kinh, Kinh Phật Thuyết Như Vậy, Chương Một Pháp; bản trên phatphapungdung.com, lấy ngày 24/10/2026). Bản dịch tiếng Việt của HT. Thích Minh Châu, trích đăng để phụng sự Pháp thí; nếu chủ sở hữu bản quyền có yêu cầu, xin liên hệ 0902 332 970 để điều chỉnh.
- Tên kinh tiếng Việt do Hoan Hỉ đặt theo tên Pāli; bản dịch của HT. Thích Minh Châu không đặt tên riêng cho từng kinh trong Phật Thuyết Như Vậy.