Kinh Mong Cầu An Lạc
Sukhapatthanā Sutta
Kinh Mong Cầu An Lạc dạy bậc hiền trí hộ trì giới vì hy vọng ba điều an lạc, rồi cảnh báo về việc gần gũi người làm ác dù bản thân không làm ác.
Trước khi đọc kinh
Tóm lại
- Bậc hiền trí hộ trì giới vì mong lời tán thán sẽ đến với người giữ giới.
- Bậc hiền trí hộ trì giới vì mong tài sản sẽ khởi lên cho người giữ giới.
- Bậc hiền trí hộ trì giới vì mong khi thân hoại mạng chung sẽ sanh lên thiện thú và thiên giới.
Kinh Mong Cầu An Lạc thuộc tập Phật Thuyết Như Vậy và mang số hiệu 76. Bài kinh gồm ba phần. Phần xuôi từ đoạn 1.1 đến đoạn 2.6 nêu ba điều an lạc mà bậc hiền trí hy vọng khi hộ trì giới. Phần kệ từ đoạn 3.1 đến đoạn 9.6 nhắc lại ba điều an lạc rồi nói về việc gần gũi người ác và người lành bằng nhiều hình ảnh. Phần kết từ đoạn 10.1 đến đoạn 10.2 xác nhận ý nghĩa vừa được nói.
Trong phần xuôi, ba điều an lạc được gọi chung bằng chữ sukhāni, các niềm vui, gồm lời tán thán, tài sản và đời sau sống hoan hỷ trong cảnh giới chư thiên. Trong phần kệ, việc gần gũi người ác được ví bằng ngọn cỏ gói đồ cá thúi, còn việc gần gũi bậc trí được ví bằng ngọn lá gói hương thơm. Theo cách đọc của người viết, không phải câu trong kinh, cách đối chiếu này giúp bạn thấy rõ ảnh hưởng của người mà bạn gần gũi trong đời sống hằng ngày.
Thuật ngữ Pāli trong kinh
- sukhāni
- các niềm vui, sự an lạc
- pasaṁsaṁ
- lời tán thán
- bhogā
- tài sản
- sīlaṁ
- giới
- paṇḍito
- bậc hiền trí
- saggaṁ
- thiên giới, cõi trời
- sugatiṁ
- thiện thú, cảnh lành
- nirayaṁ
- địa ngục
Kinh Mong Cầu An Lạc
1Điều này đã được Thế Tôn nói đến, đã được bậc A-la-hán nói đến, và tôi đã được nghe:
Do hy vọng được ba lạc này, bậc Hiền trí hộ trì giới. Thế nào là ba? “Mong rằng lời tán thán sẽ đến với ta”, bậc Hiền trí hộ trì giới. “Mong rằng, tài sản sẽ khởi lên cho ta”, bậc Hiền trí hộ trì giới. “Mong rằng khi thân hoại mạng chung, ta sẽ sanh lên thiện thú, thiên giới, cõi đời này” bậc Hiền trí hộ trì giới. Này các Tỷ-kheo, do hy vọng được ba lạc này, bậc Hiền trí hộ trì giới.
Thế Tôn đã nói lên ý nghĩa này. Ở đây, ý nghĩa này được nói đến.Vuttañhetaṁ bhagavatā vuttamarahatāti me sutaṁ: “Tīṇimāni, bhikkhave, sukhāni patthayamāno sīlaṁ rakkheyya paṇḍito. Katamāni tīṇi? Pasaṁsā me āgacchatūti sīlaṁ rakkheyya paṇḍito, bhogā me uppajjantūti sīlaṁ rakkheyya paṇḍito, kāyassa bhedā paraṁ maraṇā sugatiṁ saggaṁ lokaṁ upapajjissāmīti sīlaṁ rakkheyya paṇḍito. Imāni kho, bhikkhave, tīṇi sukhāni patthayamāno sīlaṁ rakkheyya paṇḍito”ti. Etamatthaṁ bhagavā avoca. Tatthetaṁ iti vuccati:This was said by the Buddha, the Perfected One: that is what I heard. “Mendicants, an astute person who wishes for three kinds of happiness should take care of their ethics. What three? ‘May I be praised!’ ‘May I become rich!’ ‘When my body breaks up, after death, may I be reborn in a good place, a heavenly realm!’ An astute person who wishes for these three kinds of happiness should protect their precepts.” The Buddha spoke this matter. On this it is said:
2Bậc trí hộ trì giới,
Hy vọng được ba lạc,
Được khen, được tài sản,
Đời sau sống hoan hỷ,
Trong cảnh giới chư Thiên.
Nếu không làm điều ác,
Nhưng theo kẻ làm ác,
Thì bị nghi làm ác,
Và bị tăng tiếng xấu.
Giống như người làm bạn,
Giống như người làm theo,
Người này giống người ấy
Giống như người cộng trú.
Người theo, người được theo,
Xúc chạm, được xúc chạm,
Như cây tên nhiễm độc
Nhiễm bó tên chưa nhiễm,
Bậc Trí vì sợ nhiễm,
Nên không bạn kẻ ác.
Với ngọn cỏ kusa,
Dùng gói đồ cá thúi,
Kusa hay mùi thúi,
Cũng vậy, gần kẻ ngu.
Còn người dùng ngọn lá,
Gói hương Ta-ga-ra,
Ngọn lá bay mùi thơm
Cũng vậy, gần bậc Trí.
Do vậy, nhờ nghĩ đến
Cái giỏ bằng lá ấy,
Biết được những cái gì
Sẽ rơi vào tự mình,
Bậc Hiền trí không theo,
Những hạng người bất thiện,
Chỉ biết làm bạn thân,
Những người lành hiền thiện.
Những kẻ ác, bất thiện,
Dắt dẫn đến địa ngục,
Còn những kẻ tốt lành,
Đạt đến cảnh thiện thú.“Sīlaṁ rakkheyya medhāvī,
patthayāno tayo sukhe;
Pasaṁsaṁ vittalābhañca,
pecca sagge pamodanaṁ.
Akarontopi ce pāpaṁ,
karontamupasevati;
Saṅkiyo hoti pāpasmiṁ,
avaṇṇo cassa rūhati.
Yādisaṁ kurute mittaṁ,
yādisaṁ cūpasevati;
Sa ve tādisako hoti,
sahavāso hi tādiso.
Sevamāno sevamānaṁ,
samphuṭṭho samphusaṁ paraṁ;
Saro diddho kalāpaṁva,
alittamupalimpati;
Upalepabhayā dhīro,
neva pāpasakhā siyā.
Pūtimacchaṁ kusaggena,
yo naro upanayhati;
Kusāpi pūti vāyanti,
evaṁ bālūpasevanā.
Tagarañca palāsena,
yo naro upanayhati;
Pattāpi surabhi vāyanti,
evaṁ dhīrūpasevanā.
Tasmā pattapuṭasseva,
ñatvā sampākamattano;
Asante nupaseveyya,
sante seveyya paṇḍito;
Asanto nirayaṁ nenti,
santo pāpenti suggatin”ti.“Wishing for three kinds of happiness— praise, prosperity, and to delight in heaven after passing away— the wise would take care of their ethics. Though you do no wrong, if you associate with one who does, you’re suspected of wrong, and your disrepute grows. Whatever kind of friend you make, with whom you associate, that’s how you become, for so it is when you share your life. The one who associates and the one associated with, the one contacted and the one who contacts another, are like an arrow smeared with poison that contaminates the quiver. The attentive, fearing contamination, would never have wicked comrades. A man who wraps putrid fish in blades of grass makes the grass stink— so it is when associating with fools. But one who wraps sandalwood incense in leaves makes the leaves fragrant— so it is when associating with the attentive. So, knowing they’ll end up like the wrapping, the astute would shun the wicked, and befriend the good. The wicked lead you to hell, the good help you to a good place.”
3Ý nghĩa này được Thế Tôn nói đến và tôi đã được nghe.Ayampi attho vutto bhagavatā, iti me sutanti. Sattamaṁ.This too is a matter that was spoken by the Blessed One: that is what I heard.
Giải nghĩa ngắn
Điểm chính của Kinh Mong Cầu An Lạc nằm ở mối liên hệ giữa việc hộ trì giới và những điều an lạc mà người giữ giới mong đợi. Kinh nói bậc hiền trí hộ trì giới vì hy vọng được ba điều an lạc: lời tán thán, tài sản và đời sau sống hoan hỷ. Theo cách đọc của người viết, không phải câu trong kinh, cách nêu này giúp bạn nhìn việc giữ giới như một nếp sống, chứ không phải như một giao dịch đổi chác.
Ví dụ của người viết, không phải chuyện trong kinh: một người làm việc chung với nhóm bạn hay đồng nghiệp hay nói xấu người khác, dù người ấy không trực tiếp nói xấu nhưng vẫn bị người khác nghi ngờ và mất uy tín. Hình ảnh ấy chỉ giúp bạn hình dung lời cảnh báo của kinh về việc gần gũi người làm ác (không phải lời kinh).
Phần kệ của kinh nói rõ người không làm ác nhưng theo kẻ làm ác vẫn bị nghi làm ác và bị tăng tiếng xấu. Theo cách đọc của người viết, không phải câu trong kinh, điều đáng chú ý ở đây không phải là sự trừng phạt từ bên ngoài, mà là tiếng xấu hình thành từ việc người khác nhìn thấy bạn đi cùng với người làm ác.
Cuối phần kệ, kinh đối chiếu hai hướng đi: người ác và bất thiện dẫn đến địa ngục, còn người tốt lành đạt đến cảnh thiện thú. Theo cách đọc của người viết, không phải câu trong kinh, sự đối chiếu này nhắc bạn chọn người để gần gũi một cách tỉnh táo, vì bạn bè và môi trường chung sống ảnh hưởng đến hướng đi của đời sống hằng ngày.
Hộ trì giới và gần gũi người lành hiền thiện là con đường mà Kinh Mong Cầu An Lạc chỉ ra để đạt an lạc.
Viết bởi Diệu Hạnh
Nguồn trích dẫn
- Phật Thuyết Như Vậy 76 (Sukhapatthanā Sutta, Itivuttaka 76). Bản Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka, Iti 76 trên SuttaCentral.
- Bản tiếng Anh: Bhikkhu Sujato dịch, SuttaCentral, phát hành theo giấy phép CC0.
- Bản tiếng Việt: HT. Thích Minh Châu dịch (Tiểu Bộ Kinh, Kinh Phật Thuyết Như Vậy, Chương Ba Pháp; bản trên phatphapungdung.com, lấy ngày 24/10/2026). Bản dịch tiếng Việt của HT. Thích Minh Châu, trích đăng để phụng sự Pháp thí; nếu chủ sở hữu bản quyền có yêu cầu, xin liên hệ 0902 332 970 để điều chỉnh.
- Tên kinh tiếng Việt do Hoan Hỉ đặt theo tên Pāli; bản dịch của HT. Thích Minh Châu không đặt tên riêng cho từng kinh trong Phật Thuyết Như Vậy.