Phật Thuyết Như Vậy 70 · Iti 70

Kinh Người Tà Kiến

Micchādiṭṭhika Sutta

Kinh Người Tà Kiến trình bày một mối liên hệ rõ ràng giữa cách sống hiện tại và cảnh giới sau khi thân hoại mạng chung, khi thân, lời và ý đều đi theo hướng bất thiện và tà kiến.

Trước khi đọc kinh

Tóm lại

  • Người có tà kiến sống bằng thân làm ác, lời nói ác và ý nghĩ ác, đồng thời chỉ trích các bậc Thánh.
  • Sau khi thân hoại mạng chung, người ấy sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ và địa ngục.
  • Bài kệ cuối kinh nhắc người ít nghe, ít học hỏi và không làm công đức sẽ chịu cùng kết quả ấy.

Kinh Người Tà Kiến thuộc bộ Kinh Phật Thuyết Như Vậy và mang số hiệu Iti 70. Kinh gửi đến các Tỷ-kheo, tức các vị xuất gia theo Phật, và trình bày trường hợp của micchādiṭṭhikā, người có tà kiến. Kinh mở đầu bằng lời ghi nhận về điều đã được nghe, rồi nêu nội dung chính, và kết thúc bằng một bài kệ ngắn tóm lại ý chính.

Kinh nhấn mạnh điều được nói ra không phải lời nghe lại từ người khác, mà là điều đã tự biết, tự thấy và tự tìm ra. Theo cách đọc của người viết, không phải câu trong kinh, cách trình bày này đặt trọng tâm vào nội dung được nêu, thay vì vào nguồn tin bên ngoài, và giúp bạn đọc theo dõi mạch ý từ cách sống hiện tại đến cảnh giới sau khi thân hoại mạng chung.

Thuật ngữ Pāli trong kinh
micchādiṭṭhikā
người có tà kiến
kāyaduccaritena
bằng thân làm ác
vacīduccaritena
bằng lời nói ác
manoduccaritena
bằng ý nghĩ ác
apāyaṁ
cõi dữ
nirayaṁ
địa ngục
duggatiṁ
ác thú (theo cách giải nghĩa của người viết)
vinipātaṁ
đọa xứ (theo cách giải nghĩa của người viết)

Kinh Người Tà Kiến

1Điều này đã được Thế Tôn nói đến, đã được bậc A-la-hán nói đến, và tôi đã được nghe:

Ta đã thấy, này các Tỷ-kheo, các chúng sanh thành tựu thân làm ác, thành tựu lời nói ác, thành tựu ý nghĩ ác, chỉ trích các bậc Thánh, có tà kiến, chấp nhận các nghiệp bị tà kiến chi phối. Sau khi thân hoại mạng chung, họ bị sanh vào cõi dữ, ác thú đọa xứ, địa ngục. Này các Tỷ-kheo, sau khi không nghe một Sa-môn hay Bà-la-môn nào khác nói lên, Ta nói nên lời nói này: “Này các Tỷ-kheo, Ta đã thấy các chúng sanh thành tựu thân làm ác, thành tựu lời nói ác, thành tựu ý nghĩ ác, chỉ trích các bậc Thánh, có tà kiến, chấp nhận các nghiệp bị tà kiến chi phối, sau khi thân hoại mạng chung, chúng phải sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục”. Và này các Tỷ-kheo, vì rằng Ta tự mình biết, tự mình thấy, tự mình tìm ra, nên Ta tuyên bố rằng: “Này các Tỷ-kheo, Ta đã thấy các chúng sanh, thành tựu thân làm ác, thành tựu lời nói ác, thành tựu ý nghĩ ác, chỉ trích các bậc Thánh, có tà kiến, chấp nhận các nghiệp bị tà kiến chi phối, sau khi thân hoại mạng chung, họ phải sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục”.

Thế Tôn đã nói lên ý nghĩa này. Ở đây, điều này đã được nói đến.
Vuttañhetaṁ bhagavatā vuttamarahatāti me sutaṁ: “Diṭṭhā mayā, bhikkhave, sattā kāyaduccaritena samannāgatā vacīduccaritena samannāgatā manoduccaritena samannāgatā ariyānaṁ upavādakā micchādiṭṭhikā micchādiṭṭhikammasamādānā. Te kāyassa bhedā paraṁ maraṇā apāyaṁ duggatiṁ vinipātaṁ nirayaṁ upapannā. Taṁ kho panāhaṁ, bhikkhave, nāññassa samaṇassa vā brāhmaṇassa vā sutvā vadāmi. Diṭṭhā mayā, bhikkhave, sattā kāyaduccaritena samannāgatā vacīduccaritena samannāgatā manoduccaritena samannāgatā ariyānaṁ upavādakā micchādiṭṭhikā micchādiṭṭhikammasamādānā. Te kāyassa bhedā paraṁ maraṇā apāyaṁ duggatiṁ vinipātaṁ nirayaṁ upapannā. Api ca, bhikkhave, yadeva sāmaṁ ñātaṁ sāmaṁ diṭṭhaṁ sāmaṁ viditaṁ tadevāhaṁ vadāmi. Diṭṭhā mayā, bhikkhave, sattā kāyaduccaritena samannāgatā vacīduccaritena samannāgatā manoduccaritena samannāgatā ariyānaṁ upavādakā micchādiṭṭhikā micchādiṭṭhikammasamādānā. Te kāyassa bhedā paraṁ maraṇā apāyaṁ duggatiṁ vinipātaṁ nirayaṁ upapannā”ti. Etamatthaṁ bhagavā avoca. Tatthetaṁ iti vuccati:This was said by the Buddha, the Perfected One: that is what I heard. “Mendicants, I’ve seen beings who engaged in misconduct by body, speech, and mind, who denounced the noble ones, who had wrong views and acted accordingly. At the breaking up of the body, after death, they were reborn in a place of loss, a bad place, the underworld, hell. Now, I don’t say this because I’ve heard it from some other ascetic or brahmin. I only say it because I’ve known, seen, and realized it for myself.” The Buddha spoke this matter. On this it is said:

2Dẫn ý vào đường tà
Nói những lời tà ngữ,
Với thân làm nghiệp tà,
Người ở đời làm vậy.
Ít nghe, ít học hỏi,
Không làm các công đức,
Ở đây sống trong đời,
Với sanh mạng ít oi,
Khi thân hoại mạng chung,
Người ấy với liệt tuệ,
Bị sanh vào địa ngục.
“Micchā manaṁ paṇidhāya,
micchā vācañca bhāsiya;
Micchā kammāni katvāna,
kāyena idha puggalo.
Appassutāpuññakaro,
appasmiṁ idha jīvite;
Kāyassa bhedā duppañño,
nirayaṁ sopapajjatī”ti.
“When the mind has been misdirected, and words wrongly spoken, and wrong bodily deeds have been done, an individual here unlearned, doer of bad deeds, though their life may be short, when their body breaks up, that witless person is reborn in hell.”

3Ý nghĩa này được Thế Tôn nói đến và tôi đã được nghe.Ayampi attho vutto bhagavatā, iti me sutanti. Paṭhamaṁ.This too is a matter that was spoken by the Blessed One: that is what I heard.

Giải nghĩa ngắn

Kinh nêu người có tà kiến sống bằng thân làm ác, lời nói ác và ý nghĩ ác, đồng thời chỉ trích các bậc Thánh. Theo cách đọc của người viết, không phải câu trong kinh, điểm đáng chú ý ở đây là cái thấy sai không đứng riêng một chỗ mà lan sang hành động và lời nói trong đời sống hằng ngày.

Ví dụ của người viết, không phải chuyện trong kinh: một người bán hàng tin rằng nói quá về món hàng cũng không sao, nên người ấy quen dần với lời nói thiếu trung thực và cách đối xử thiếu công bằng với khách hàng, rồi những thói quen ấy trở thành nếp sống thường ngày (không phải lời kinh).

Bài kệ cuối kinh nhắc thêm hai nét của người ấy là ít nghe, ít học hỏi và không làm các công đức, rồi nêu kết quả là sau khi thân hoại mạng chung sẽ sanh vào địa ngục. Theo cách đọc của người viết, không phải câu trong kinh, hai nét này cho thấy cái thấy sai thường đi cùng sự thiếu học hỏi và thiếu việc thiện, chứ không phải chỉ là một ý nghĩ thoáng qua.

Với bạn đọc hôm nay, kinh gợi một cách nhìn lại thẳng thắn về cái thấy của chính bạn, thay vì chỉ xét hành động bên ngoài, như cách người bán hàng nhìn lại lời nói của mình với khách hàng mỗi ngày. Theo cách đọc của người viết, không phải câu trong kinh, việc nhìn lại này có giá trị vì nó chạm đến gốc rễ, nơi một quyết định sai có thể kéo theo nhiều hành động sai khác.

Khi tà kiến dẫn dắt thân, lời và ý, kết quả được kinh nêu ra là cảnh giới khổ sau khi thân hoại mạng chung.

Viết bởi Diệu Hạnh

Nguồn trích dẫn

  1. Phật Thuyết Như Vậy 70 (Micchādiṭṭhika Sutta, Itivuttaka 70). Bản Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka, Iti 70 trên SuttaCentral.
  2. Bản tiếng Anh: Bhikkhu Sujato dịch, SuttaCentral, phát hành theo giấy phép CC0.
  3. Bản tiếng Việt: HT. Thích Minh Châu dịch (Tiểu Bộ Kinh, Kinh Phật Thuyết Như Vậy, Chương Ba Pháp; bản trên phatphapungdung.com, lấy ngày 24/10/2026). Bản dịch tiếng Việt của HT. Thích Minh Châu, trích đăng để phụng sự Pháp thí; nếu chủ sở hữu bản quyền có yêu cầu, xin liên hệ 0902 332 970 để điều chỉnh.
  4. Tên kinh tiếng Việt do Hoan Hỉ đặt theo tên Pāli; bản dịch của HT. Thích Minh Châu không đặt tên riêng cho từng kinh trong Phật Thuyết Như Vậy.

Đọc tiếp