Kinh Mũi Tên
Salla Sutta
Đau là điều ai cũng gặp, kể cả bậc Thánh. Đức Phật chỉ ra rằng phần lớn nỗi khổ của ta đến từ mũi tên thứ hai, mũi tên ta tự bắn vào mình.
Trước khi đọc kinh
Kinh Mũi Tên (Salla Sutta) là bài kinh thứ sáu trong phẩm Có Kệ, Tương Ưng Thọ, Tương Ưng Bộ. Đức Phật mở đầu bằng một sự thật giản dị: kẻ phàm phu chưa nghe Pháp cảm nhận lạc thọ, khổ thọ, thọ không khổ không lạc, và vị Thánh đệ tử, người đã nghe Pháp, cũng cảm nhận đúng như vậy (đoạn 1.1–1.2). Vậy chỗ khác nhau ở đâu? Kẻ phàm phu, khi bị khổ thọ chạm đến, thì sầu muộn, mệt mỏi, than khóc, đấm ngực, rơi vào mê loạn; người ấy chịu hai cảm thọ, cảm thọ nơi thân và cảm thọ nơi tâm (đoạn 1.5–1.7). Giống như một người trúng một mũi tên, rồi lại trúng thêm mũi tên thứ hai cắm tiếp vào gần vết thương, nên phải đau vì hai mũi tên (đoạn 1.8–1.10). Theo chú giải Tương Ưng Bộ (Sāratthappakāsinī), mũi tên thứ hai cắm ngay sát vết thương cũ nên còn đau hơn mũi đầu, cũng như nỗi buồn khởi lên sau thường nặng hơn cái đau ban đầu.
Đức Phật chỉ ra cả một chuỗi phản ứng. Bị khổ thọ chạm đến, người ấy chống đối nó, và tùy miên sân ngấm ngầm có mặt (đoạn 1.14–1.15). Rồi người ấy chạy tìm vui trong dục lạc, vì không biết lối thoát nào khỏi khổ thọ ngoài dục lạc, và tùy miên tham lại có mặt (đoạn 1.16–1.19). Không biết như thật sự sinh, sự diệt, vị ngọt, sự nguy hại và lối thoát của các cảm thọ, tùy miên vô minh cũng có mặt (đoạn 1.20–1.21). Vị Thánh đệ tử thì khác: khi đau, chỉ chịu một cảm thọ nơi thân, không phải nơi tâm, như người chỉ đau vì một mũi tên (đoạn 2.1–3.6); không chống đối, không chạy tìm dục lạc, vì biết có lối thoát khác (đoạn 3.7–3.12); theo chú giải, lối thoát ấy là định, đạo và quả. Vị ấy cảm nhận mọi cảm thọ mà không bị trói buộc (đoạn 3.15–3.18). Bài kệ cuối nói người hiểu Pháp không phải không cảm nhận lạc và khổ, nhưng điều ưa thích không khuấy động được tâm, điều không ưa thích cũng không làm vị ấy bực bội (đoạn 4.1–5.4).
Bài kinh nói trước hết về cái đau nơi thân, nhưng hình ảnh ấy soi rất rõ đời sống hằng ngày. Một cơn đau lưng khi về già là mũi tên thứ nhất; than thở, lo sợ “mình sắp thành gánh nặng cho con cháu”, rồi tìm quên bằng điện thoại hay ăn uống quá độ, là những mũi tên ta tự bắn thêm. Bạn không tránh được mũi tên thứ nhất, nhưng có thể nhận ra lúc mình sắp bắn mũi thứ hai. Khi đau, hãy thử thở chậm và ghi nhận đơn giản: “đây là cảm thọ khổ nơi thân”, rồi để nó là chính nó, không thêm câu chuyện nào vào. Điều này không thay cho việc chữa bệnh; nó chỉ giúp tâm khỏi bị thương thêm trong lúc thân đang được chữa.
Ý chính
- Phàm phu và Thánh đệ tử đều cảm nhận lạc thọ, khổ thọ, thọ không khổ không lạc (1.1–1.2).
- Phàm phu bị khổ thọ chạm đến thì sầu muộn, than khóc, chịu hai thọ: nơi thân và nơi tâm (1.5–1.7).
- Như người trúng một mũi tên rồi lại trúng thêm mũi tên thứ hai, phải đau vì cả hai (1.8–1.10).
- Chống đối khổ thọ nuôi tùy miên sân; tìm quên trong dục lạc nuôi tùy miên tham (1.14–1.19).
- Người đã nghe Pháp chỉ chịu một thọ nơi thân, không phải nơi tâm (2.1–3.6).
- Người hiểu Pháp cảm nhận mọi cảm thọ mà không bị trói buộc, thoát khỏi khổ (3.15–3.18).
Thuật ngữ Pāli trong kinh
- salla
- mũi tên
- vedanā
- thọ, cảm thọ: lạc, khổ, hoặc không khổ không lạc
- kāyikā / cetasikā vedanā
- thọ nơi thân / thọ nơi tâm
- assutavā puthujjana
- kẻ phàm phu chưa nghe Pháp
- sutavā ariyasāvaka
- vị Thánh đệ tử, người đã nghe Pháp
- anusaya
- tùy miên, khuynh hướng ngủ ngầm trong tâm
- paṭigha
- sự chống đối, bực bội
- visaññutta
- không bị trói buộc
Kinh Mũi Tên
1…
—Này các Tỷ-kheo, kẻ vô văn phàm phu, cảm thọ cảm giác lạc thọ, cảm thọ cảm giác khổ thọ, cảm thọ cảm giác bất khổ bất lạc thọ.
Này các Tỷ-kheo, bậc Đa văn Thánh đệ tử cũng cảm thọ cảm giác lạc thọ, cảm thọ cảm giác khổ thọ, cảm thọ cảm giác bất khổ bất lạc thọ.
Ở đây, này các Tỷ-kheo, thế nào là đặc thù, thế nào là thù thắng, thế nào là sai biệt giữa bậc Đa văn Thánh đệ tử và kẻ vô văn phàm phu?
—Bạch Thế Tôn, các pháp lấy Thế Tôn làm căn bản …
—Này các Tỷ-kheo, kẻ vô văn phàm phu khi cảm xúc khổ thọ, sầu muộn, than vãn, khóc lóc, đấm ngực, đi đến bất tỉnh. Vị ấy cảm giác hai cảm thọ, cảm thọ về thân và cảm thọ về tâm.
Ví như, này các Tỷ-kheo, có người bị người ta bắn với mũi tên, rồi họ bắn người ấy với mũi tên thứ hai. Như vậy, này các Tỷ-kheo, người ấy cảm giác cảm thọ cả hai mũi tên. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, kẻ vô văn phàm phu khi cảm xúc khổ thọ; thời sầu muộn, than vãn, khóc lóc, đấm ngực, đi đến bất tỉnh. Người ấy cảm giác hai cảm thọ, cảm thọ về thân và cảm thọ về tâm. Cảm xúc bởi khổ thọ ấy, người ấy cảm thấy sân hận (patigha). Do cảm thấy sân hận đối với khổ thọ ấy, sân tùy miên đối với khổ thọ được tồn chỉ tùy miên (anuseti). Cảm xúc bởi khổ thọ, người ấy hoan hỷ dục lạc. Vì sao? Vì rằng, này các Tỷ-kheo, kẻ vô văn phàm phu không tìm thấy một sự xuất ly khổ thọ nào khác, ngoài dục lạc. Do hoan hỷ dục lạc ấy, tham tùy miên đối với lạc thọ tồn tại. Người ấy không như thật rõ biết sự tập khởi, sự đoạn diệt, vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly của các cảm thọ ấy. Do người ấy không như thật rõ biết sự tập khởi, sự đoạn diệt, vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly của các cảm thọ ấy, nên vô minh tùy miên đối với bất khổ bất lạc thọ tồn tại. Nếu người ấy cảm thọ cảm giác lạc thọ, người ấy cảm thọ cảm giác như người bị trói buộc (sannutto). Nếu người ấy cảm thọ cảm giác khổ thọ, người ấy cảm thọ cảm giác như người bị trói buộc. Nếu người ấy cảm thọ cảm giác bất khổ bất lạc thọ, người ấy cảm thọ cảm giác như người bị trói buộc. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là kẻ vô văn phàm phu bị trói buộc bởi sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não. Ta nói rằng người ấy bị trói buộc bởi đau khổ.“Assutavā, bhikkhave, puthujjano sukhampi vedanaṁ vedayati, dukkhampi vedanaṁ vedayati, adukkhamasukhampi vedanaṁ vedayati. Sutavā, bhikkhave, ariyasāvako sukhampi vedanaṁ vedayati, dukkhampi vedanaṁ vedayati, adukkhamasukhampi vedanaṁ vedayati. Tatra, bhikkhave, ko viseso ko adhippayāso kiṁ nānākaraṇaṁ sutavato ariyasāvakassa assutavatā puthujjanenā”ti? Bhagavaṁmūlakā no, bhante, dhammā …pe… assutavā, bhikkhave, puthujjano dukkhāya vedanāya phuṭṭho samāno socati kilamati paridevati urattāḷiṁ kandati sammohaṁ āpajjati. So dve vedanā vedayati— kāyikañca, cetasikañca. Seyyathāpi, bhikkhave, purisaṁ sallena vijjheyya. Tamenaṁ dutiyena sallena anuvedhaṁ vijjheyya. Evañhi so, bhikkhave, puriso dvisallena vedanaṁ vedayati. Evameva kho, bhikkhave, assutavā puthujjano dukkhāya vedanāya phuṭṭho samāno socati kilamati paridevati urattāḷiṁ kandati sammohaṁ āpajjati. So dve vedanā vedayati— kāyikañca, cetasikañca. Tassāyeva kho pana dukkhāya vedanāya phuṭṭho samāno paṭighavā hoti. Tamenaṁ dukkhāya vedanāya paṭighavantaṁ, yo dukkhāya vedanāya paṭighānusayo, so anuseti. So dukkhāya vedanāya phuṭṭho samāno kāmasukhaṁ abhinandati. Taṁ kissa hetu? Na hi so, bhikkhave, pajānāti assutavā puthujjano aññatra kāmasukhā dukkhāya vedanāya nissaraṇaṁ, tassa kāmasukhañca abhinandato, yo sukhāya vedanāya rāgānusayo, so anuseti. So tāsaṁ vedanānaṁ samudayañca atthaṅgamañca assādañca ādīnavañca nissaraṇañca yathābhūtaṁ nappajānāti. Tassa tāsaṁ vedanānaṁ samudayañca atthaṅgamañca assādañca ādīnavañca nissaraṇañca yathābhūtaṁ appajānato, yo adukkhamasukhāya vedanāya avijjānusayo, so anuseti. So sukhañce vedanaṁ vedayati, saññutto naṁ vedayati. Dukkhañce vedanaṁ vedayati, saññutto naṁ vedayati. Adukkhamasukhañce vedanaṁ vedayati, saññutto naṁ vedayati. Ayaṁ vuccati, bhikkhave, ‘assutavā puthujjano saññutto jātiyā jarāya maraṇena sokehi paridevehi dukkhehi domanassehi upāyāsehi, saññutto dukkhasmā’ti vadāmi.“Mendicants, an unlearned ordinary person feels pleasant, painful, and neutral feelings. A learned noble disciple also feels pleasant, painful, and neutral feelings. What, then, is the difference between a learned noble disciple and an ordinary unlearned person?” “Our teachings are rooted in the Buddha. …” “When an unlearned ordinary person experiences painful physical feelings they sorrow and wail and lament, beating their breast and falling into confusion. They experience two feelings: physical and mental. It’s like a person who is struck with an arrow, only to be struck with a second arrow. That person experiences the feeling of two arrows. In the same way, when an unlearned ordinary person experiences painful physical feelings they sorrow and wail and lament, beating their breast and falling into confusion. They experience two feelings: physical and mental. When they’re touched by painful feeling, they resist it. The underlying tendency for aversion toward painful feeling underlies that. When touched by painful feeling they look forward to enjoying sensual pleasures. Why is that? Because an unlearned ordinary person doesn’t understand any escape from painful feeling apart from sensual pleasures. Since they look forward to enjoying sensual pleasures, the underlying tendency to greed for pleasant feeling underlies that. They don’t truly understand feelings’ origin, disappearance, gratification, drawback, and escape. The underlying tendency to ignorance about neutral feeling underlies that. If they feel a pleasant feeling, they feel it attached. If they feel a painful feeling, they feel it attached. If they feel a neutral feeling, they feel it attached. They’re called an unlearned ordinary person who is attached to rebirth, old age, and death, to sorrow, lamentation, pain, sadness, and distress. They are attached to suffering, I say.
2Và này các Tỷ-kheo, bậc Đa văn Thánh đệ tử khi cảm xúc khổ thọ thời không có sầu muộn, không có than vãn, không có khóc lóc, không có đấm ngực, không có đi đến bất tỉnh. Vị ấy chỉ cảm thọ cảm giác một cảm thọ, tức là cảm thọ về thân, không phải cảm thọ về tâm.Sutavā ca kho, bhikkhave, ariyasāvako dukkhāya vedanāya phuṭṭho samāno na socati, na kilamati, na paridevati, na urattāḷiṁ kandati, na sammohaṁ āpajjati. So ekaṁ vedanaṁ vedayati— kāyikaṁ, na cetasikaṁ.When a learned noble disciple experiences painful physical feelings they don’t sorrow or wail or lament, beating their breast and falling into confusion. They experience one feeling: physical, not mental.
3Ví như, này các Tỷ-kheo, có người bị người ta bắn một mũi tên. Họ không bắn tiếp người ấy với mũi tên thứ hai. Như vậy, này các Tỷ-kheo, người ấy cảm giác cảm thọ của một mũi tên. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, bậc Đa văn Thánh đệ tử khi cảm xúc khổ thọ; vị ấy không sầu muộn, không than vãn, không khóc lóc, không đấm ngực, không đi đến bất tỉnh. Vị ấy cảm giác chỉ một cảm thọ, cảm thọ về thân, không phải cảm thọ về tâm. Vị ấy không cảm thấy sân hận đối với khổ thọ ấy. Do không cảm thấy sân hận đối với khổ thọ ấy, sân tùy miên đối với khổ thọ không có tồn tại. Cảm xúc bởi khổ thọ, vị ấy không hoan hỷ dục lạc. Vì sao? Vì bậc Đa văn Thánh đệ tử có tuệ tri một sự xuất ly khác đối với khổ thọ, ngoài dục lạc. Vì vị ấy không hoan hỷ dục lạc, tham tùy miên đối với dục lạc không có tồn tại. Vị ấy như thật tuệ tri sự tập khởi, sự đoạn diệt, vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly của những cảm thọ ấy. Vì rằng, vị ấy như thật tuệ tri sự tập khởi, sự đoạn diệt, vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly của các cảm thọ ấy. Vì rằng, vị ấy như thật tuệ tri sự tập khởi, sự đoạn diệt, vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly của các cảm thọ ấy, đối với bất khổ bất lạc thọ, vô minh tùy miên không có tồn tại. Nếu vị ấy cảm thọ lạc thọ, vị ấy cảm thọ lạc thọ như người không bị trói buộc. Nếu vị ấy cảm thọ cảm giác khổ thọ, vị ấy cảm thọ cảm giác như người không bị trói buộc. Nếu vị ấy cảm thọ cảm giác bất khổ bất lạc thọ, vị ấy cảm thọ cảm giác như người không bị trói buộc. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là Tỷ-kheo không bị trói buộc bởi sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, ão. Ta nói rằng vị ấy không bị trói buộc bởi đau khổ.Seyyathāpi, bhikkhave, purisaṁ sallena vijjheyya. Tamenaṁ dutiyena sallena anuvedhaṁ na vijjheyya. Evañhi so, bhikkhave, puriso ekasallena vedanaṁ vedayati. Evameva kho, bhikkhave, sutavā ariyasāvako dukkhāya vedanāya phuṭṭho samāno na socati, na kilamati, na paridevati, na urattāḷiṁ kandati, na sammohaṁ āpajjati. So ekaṁ vedanaṁ vedayati— kāyikaṁ, na cetasikaṁ. Tassāyeva kho pana dukkhāya vedanāya phuṭṭho samāno paṭighavā na hoti. Tamenaṁ dukkhāya vedanāya appaṭighavantaṁ, yo dukkhāya vedanāya paṭighānusayo, so nānuseti. So dukkhāya vedanāya phuṭṭho samāno kāmasukhaṁ nābhinandati. Taṁ kissa hetu? Pajānāti hi so, bhikkhave, sutavā ariyasāvako aññatra kāmasukhā dukkhāya vedanāya nissaraṇaṁ. Tassa kāmasukhaṁ nābhinandato yo sukhāya vedanāya rāgānusayo, so nānuseti. So tāsaṁ vedanānaṁ samudayañca atthaṅgamañca assādañca ādīnavaṁ ca nissaraṇañca yathābhūtaṁ pajānāti. Tassa tāsaṁ vedanānaṁ samudayañca atthaṅgamañca assādañca ādīnavañca nissaraṇañca yathābhūtaṁ pajānato, yo adukkhamasukhāya vedanāya avijjānusayo, so nānuseti. So sukhañce vedanaṁ vedayati, visaññutto naṁ vedayati. Dukkhañce vedanaṁ vedayati, visaññutto naṁ vedayati. Adukkhamasukhañce vedanaṁ vedayati, visaññutto naṁ vedayati. Ayaṁ vuccati, bhikkhave, ‘sutavā ariyasāvako visaññutto jātiyā jarāya maraṇena sokehi paridevehi dukkhehi domanassehi upāyāsehi, visaññutto dukkhasmā’ti vadāmi. Ayaṁ kho, bhikkhave, viseso, ayaṁ adhippayāso, idaṁ nānākaraṇaṁ sutavato ariyasāvakassa assutavatā puthujjanenāti.It’s like a person who is struck with an arrow, but was not struck with a second arrow. That person would experience the feeling of one arrow. In the same way, when a learned noble disciple experiences painful physical feelings they don’t sorrow or wail or lament, beating their breast and falling into confusion. They experience one feeling: physical, not mental. When they’re touched by painful feeling, they don’t resist it. There’s no underlying tendency for aversion toward painful feeling underlying that. When touched by painful feeling they don’t look forward to enjoying sensual pleasures. Why is that? Because a learned noble disciple understands an escape from painful feeling apart from sensual pleasures. Since they don’t look forward to enjoying sensual pleasures, there’s no underlying tendency to greed for pleasant feeling underlying that. They truly understand feelings’ origin, disappearance, gratification, drawback, and escape. There’s no underlying tendency to ignorance about neutral feeling underlying that. If they feel a pleasant feeling, they feel it detached. If they feel a painful feeling, they feel it detached. If they feel a neutral feeling, they feel it detached. They’re called a learned noble disciple who is detached from rebirth, old age, and death, from sorrow, lamentation, pain, sadness, and distress. They are detached from suffering, I say. This is the difference between a learned noble disciple and an unlearned ordinary person.
4Này các Tỷ-kheo, đây là sự đặc thù, đây là thù thắng, đây là sự sai biệt giữa bậc Đa văn Thánh đệ tử và kẻ vô văn phàm phu.Na vedanaṁ vedayati sapañño, Sukhampi dukkhampi bahussutopi; Ayañca dhīrassa puthujjanena, Mahā viseso kusalassa hoti.A wise and learned person does not not feel the feeling of pleasure and pain. This is the great difference of skill between the attentive one and the ordinary.
5Bậc Trí tuệ Đa văn,
Lạc khổ không chi phối,
Giữa kẻ trí, phàm phu,
Thiện sai biệt rất lớn.
Bậc Đa văn, Tầm pháp,
Thấy đời này, đời sau,
Ái pháp không phá tâm,
Không ái, không sân hận.Saṅkhātadhammassa bahussutassa, Vipassato lokamimaṁ parañca; Iṭṭhassa dhammā na mathenti cittaṁ, Aniṭṭhato no paṭighātameti.A learned person who has appraised the teaching discerns this world and the next. Desirable things don’t disturb their mind, nor are they repelled by the undesirable.
6Tùy thuận hay đối nghịch,
Tiêu tán, diệt, không còn,
Vị ấy biết con đường,
Đường không cấu, không sầu,
Chánh trí, đoạn tái sanh,
Đến được bờ giác ngộ.Tassānurodhā athavā virodhā, Vidhūpitā atthagatā na santi; Padañca ñatvā virajaṁ asokaṁ, Sammā pajānāti bhavassa pāragū”ti. Chaṭṭhaṁ.Both favoring and opposing are cleared and ended, and are no more. Knowing the stainless, sorrowless state, they who have gone beyond rebirth understand rightly.”
Viết bởi Diệu Hạnh
Nguồn trích dẫn
- Tương Ưng Bộ 36.6 (Salla Sutta). Bản Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka, SN 36.6 trên SuttaCentral.
- Bản tiếng Anh: Bhikkhu Sujato dịch, SuttaCentral, phát hành theo giấy phép CC0.
- Bản tiếng Việt: HT. Thích Minh Châu dịch (bản trên SuttaCentral). Bản dịch tiếng Việt của HT. Thích Minh Châu, trích đăng để phụng sự Pháp thí; nếu chủ sở hữu bản quyền có yêu cầu, xin liên hệ 0902 332 970 để điều chỉnh.