Kinh Nakulapitā
Nakulapitu Sutta
Còn gọi là: Kinh Nakulapita
Một cụ ông già yếu, đau ốm luôn, xin Đức Phật một lời khuyên. Ngài dạy ông tự nhủ: thân tôi đau ốm, nhưng tâm tôi sẽ không đau ốm. Ngài Xá-lợi-phất giảng tiếp làm sao làm được như thế.
Trước khi đọc kinh
Kinh Nakulapitā là bài kinh mở đầu Tương Ưng Uẩn, nhóm kinh nói về năm uẩn trong Tương Ưng Bộ. Nhân vật chính là gia chủ Nakulapitā, nghĩa là “cha của Nakula”, một Phật tử tại gia lớn tuổi sống ở xứ Bhagga. Ông đến gặp Đức Thế Tôn và nói thẳng hoàn cảnh của mình: đã già yếu, đi gần hết quãng đời, thân thể đau ốm, bệnh hoạn luôn luôn, lại không được thường gặp Đức Phật và các vị Tỷ-kheo (đoạn 2.1–2.2). Đức Thế Tôn không an ủi bằng lời hứa hẹn. Ngài xác nhận: thân này quả thật đau ốm, như quả trứng chỉ có lớp vỏ mỏng bọc quanh, ai mang thân này mà tự nhận là khỏe mạnh dù một khoảnh khắc thì thật là ngây dại (đoạn 3.2–3.3). Rồi Ngài trao cho ông một câu để tự rèn luyện: “Thân tôi đau ốm, nhưng tâm tôi sẽ không đau ốm” (đoạn 3.5).
Gặp Ngài Xá-lợi-phất (Sāriputta) sau đó, ông được hỏi vì sao gương mặt sáng rỡ như vậy, và kể rằng mình vừa được Đức Thế Tôn rưới lên mình nước bất tử bằng một bài pháp (đoạn 4.2–5.2). Ngài Xá-lợi-phất hỏi tiếp một câu thực tế: ông có hỏi Đức Thế Tôn đến mức nào thì thân đau và tâm cũng đau, đến mức nào thì thân đau mà tâm không đau không (đoạn 7.1–7.2)? Ông khiêm tốn xin chính Ngài giải thích.
Câu trả lời đi thẳng vào năm uẩn: sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Người phàm phu xem từng uẩn là tự ngã, hoặc tự ngã có uẩn ấy, hoặc uẩn ở trong tự ngã, hoặc tự ngã ở trong uẩn, và bị ám ảnh bởi ý nghĩ “tôi là cái này, cái này là của tôi”; khi uẩn ấy biến đổi thì sầu, bi, khổ, ưu, não khởi lên (đoạn 9.3–13.4). Đó là thân đau mà tâm cũng đau (đoạn 13.5). Vị Thánh đệ tử không nhìn như thế, nên khi thân thể và cảm thọ đổi thay, nỗi khổ không lan vào tâm (đoạn 14.3–18.4). Đó là thân đau mà tâm không đau (đoạn 18.5). Bài kinh rất gần với những ai đang chăm người già, người bệnh, hay chính mình đang mang bệnh lâu năm.
Ý chính
- Thân này đau ốm, như quả trứng chỉ có lớp vỏ mỏng bọc quanh (3.2).
- Câu tự rèn luyện: thân tôi đau ốm, nhưng tâm tôi sẽ không đau ốm (3.5).
- Lời Phật được ví như nước bất tử rưới lên người nghe (5.2).
- Xem sắc là tự ngã và bám vào ý nghĩ “tôi là sắc” thì khi sắc đổi thay, khổ sinh (9.3–9.6).
- Thánh đệ tử không đồng hóa mình với năm uẩn nên không sinh sầu khổ khi chúng biến đổi (14.3–14.6).
- Thân đau mà tâm không đau là nhờ cách thấy năm uẩn, chứ không phải nhờ thân hết bệnh (14.2–18.5).
Thuật ngữ Pāli trong kinh
- ātura
- đau ốm, bệnh hoạn
- anātura
- không đau ốm, lành mạnh
- khandha
- uẩn: năm nhóm sắc, thọ, tưởng, hành, thức
- attā
- tự ngã
- pariyuṭṭhaṭṭhāyī
- bị ám ảnh, bị chiếm giữ bởi một ý nghĩ
- vipariṇāma
- sự biến đổi
- sokaparideva
- sầu và bi, nỗi buồn và than khóc
- amata
- bất tử, nước cam lồ
Kinh Nakulapitā
1Như vầy tôi nghe.
Một thời Thế Tôn sống giữa dân chúng Bhayga, tại núi Cá Sấu, rừng Bhesaka, vườn Nai.
Rồi gia chủ Nakulapitā đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.
Ngồi xuống một bên, gia chủ Nakulapitā bạch Thế Tôn:Evaṁ me sutaṁ— ekaṁ samayaṁ bhagavā bhaggesu viharati susumāragire bhesakaḷāvane migadāye. Atha kho nakulapitā gahapati yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho nakulapitā gahapati bhagavantaṁ etadavoca:So I have heard. At one time the Buddha was staying in the land of the Bhaggas at Crocodile’s Bellow, in the deer park at Bhesakaḷā’s Wood. Then the householder Nakula’s father went up to the Buddha, bowed, sat down to one side, and said to him:
2—Bạch Thế Tôn, con đã già, tuổi lớn, trưởng lão, cao niên, đã đạt đến tuổi thọ, thân bịnh hoạn, luôn luôn ốm đau. Bạch Thế Tôn, con không được thường thấy Thế Tôn và các vị Tỷ-kheo đáng kính. Bạch Thế Tôn, mong Thế Tôn hãy giáo giới cho con! Bạch Thế Tôn, mong Thế Tôn hãy giảng dạy cho con! Nhờ vậy, con được hạnh phúc, an lạc lâu dài.“Ahamasmi, bhante, jiṇṇo vuḍḍho mahallako addhagato vayoanuppatto āturakāyo abhikkhaṇātaṅko. Aniccadassāvī kho panāhaṁ, bhante, bhagavato manobhāvanīyānañca bhikkhūnaṁ. Ovadatu maṁ, bhante, bhagavā; anusāsatu maṁ, bhante, bhagavā; yaṁ mamassa dīgharattaṁ hitāya sukhāyā”ti.“Sir, I’m an old man, elderly and senior. I’m advanced in years and have reached the final stage of life. My body is ailing and I’m constantly unwell. I hardly ever get to see the esteemed mendicants. May the Buddha please advise me and instruct me. It will be for my lasting welfare and happiness.”
3—Thật sự là vậy, này Gia chủ. Thật sự là vậy, này Gia chủ. Thân của Gia chủ, này Gia chủ, là bịnh hoạn, ốm đau, bị nhiễm ô che đậy. Ai mang cái thân này, này Gia chủ, lại tự cho là không bịnh, dầu chỉ trong một giây phút; người ấy phải là người ngu! Do vậy, này Gia chủ, Gia chủ cần phải học tập như sau: “Dầu cho thân tôi có bịnh, tâm sẽ không bị bịnh”. Như vậy, này Gia chủ, Gia chủ cần phải học tập.“Evametaṁ, gahapati, evametaṁ, gahapati. Āturo hāyaṁ, gahapati, kāyo aṇḍabhūto pariyonaddho. Yo hi, gahapati, imaṁ kāyaṁ pariharanto muhuttampi ārogyaṁ paṭijāneyya, kimaññatra bālyā? Tasmātiha te, gahapati, evaṁ sikkhitabbaṁ: ‘āturakāyassa me sato cittaṁ anāturaṁ bhavissatī’ti. Evañhi te, gahapati, sikkhitabban”ti.“That’s so true, householder! That’s so true, householder! For this body is ailing, swaddled in its shell. If anyone dragging around this body claimed to be healthy even for an hour, what is that but foolishness? So you should train like this: ‘Though my body is ailing, my mind will be healthy.’ That’s how you should train.”
4Rồi gia chủ Nakulapitā sau khi hoan hỷ, tín thọ lời Thế Tôn dạy, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Thế Tôn, thân bên hữu hướng về Ngài, đi đến Tôn giả Sāriputta; sau khi đến, đảnh lễ Tôn giả Sāriputta rồi ngồi xuống một bên.
Tôn giả Sāriputta nói với gia chủ Nakulapitā đang ngồi một bên:
—Này Gia chủ, tịch tịnh là các căn của Gia chủ; thanh tịnh và trong sáng là sắc diện của Gia chủ. Có phải hôm nay Gia chủ đối diện với Thế Tôn, được nghe pháp thoại?
—Làm sao không thể như vậy được, thưa Tôn giả? Hôm nay, thưa Tôn giả, con được rưới với nước bất tử, nhờ Thế Tôn giảng cho pháp thoại!Atha kho nakulapitā gahapati bhagavato bhāsitaṁ abhinanditvā anumoditvā uṭṭhāyāsanā bhagavantaṁ abhivādetvā padakkhiṇaṁ katvā yenāyasmā sāriputto tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā āyasmantaṁ sāriputtaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinnaṁ kho nakulapitaraṁ gahapatiṁ āyasmā sāriputto etadavoca: “vippasannāni kho te, gahapati, indriyāni; parisuddho mukhavaṇṇo pariyodāto. Alattha no ajja bhagavato sammukhā dhammiṁ kathaṁ savanāyā”ti?And then the householder Nakula’s father approved and agreed with what the Buddha said. He got up from his seat, bowed and respectfully circled the Buddha, keeping him on his right. Then he went up to Venerable Sāriputta, bowed, and sat down to one side. Sāriputta said to him: “Householder, your faculties are so very clear, and your complexion is pure and bright. Did you get to hear a Dhamma talk in the Buddha’s presence today?”
5—Như thế nào, này Gia chủ, Gia chủ được rưới với nước bất tử, nhờ Thế Tôn giảng cho pháp thoại?
—Ở đây, thưa Tôn giả, con đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, thưa Tôn giả, con bạch Thế Tôn:
“—Bạch Thế Tôn, con đã già, tuổi lớn, trưởng lão, cao niên, đã đạt đến tuổi thọ, thân bịnh hoạn, luôn luôn ốm đau. Bạch Thế Tôn, con không được thường thấy Thế Tôn và các Tỷ-kheo đáng kính. Bạch Thế Tôn, mong Thế Tôn giáo giới cho con! Bạch Thế Tôn, mong Thế Tôn giảng dạy cho con! Nhờ vậy con được hạnh phúc, an lạc lâu dài!”“Kathañhi no siyā, bhante. Idānāhaṁ, bhante, bhagavatā dhammiyā kathāya amatena abhisitto”ti. “Yathā kathaṁ pana tvaṁ, gahapati, bhagavatā dhammiyā kathāya amatena abhisitto”ti? “Idhāhaṁ, bhante, yena bhagavā tenupasaṅkamiṁ; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdiṁ. Ekamantaṁ nisinno khvāhaṁ, bhante, bhagavantaṁ etadavocaṁ: ‘ahamasmi, bhante, jiṇṇo vuḍḍho mahallako addhagato vayoanuppatto āturakāyo abhikkhaṇātaṅko. Aniccadassāvī kho panāhaṁ, bhante, bhagavato manobhāvanīyānañca bhikkhūnaṁ. Ovadatu maṁ, bhante, bhagavā; anusāsatu maṁ, bhante, bhagavā; yaṁ mamassa dīgharattaṁ hitāya sukhāyā’ti.“What else, sir, could it be? Just now the Buddha anointed me with the deathless ambrosia of a Dhamma talk.” “But with what kind of ambrosial Dhamma talk did the Buddha anoint you?” So Nakula’s father told Sāriputta all that had happened, and said,
6Được nghe nói vậy, thưa Tôn giả, Thế Tôn nói với con:
“—Thật sự là vậy, này Gia chủ. Thật sự là vậy, này Gia chủ. Thân của Gia chủ, này Gia chủ, là bịnh hoạn, ốm yếu, bị nhiễm ô che đậy. Ai mang cái thân này, này Gia chủ, lại tự cho là không bịnh, dầu chỉ trong một giây phút; người ấy phải là người ngu! Do vậy, này Gia chủ, Gia chủ cần phải học tập như sau: ‘Dầu thân tôi có bịnh, tâm sẽ không bị bịnh!”
Như vậy, thưa Tôn giả, con được rưới với nước bất tử, nhờ Thế Tôn giảng cho pháp thoại.Evaṁ vutte, maṁ, bhante, bhagavā etadavoca: ‘evametaṁ, gahapati, evametaṁ, gahapati. Āturo hāyaṁ, gahapati, kāyo aṇḍabhūto pariyonaddho. Yo hi, gahapati, imaṁ kāyaṁ pariharanto muhuttampi ārogyaṁ paṭijāneyya, kimaññatra bālyā? Tasmātiha te, gahapati, evaṁ sikkhitabbaṁ— āturakāyassa me sato cittaṁ anāturaṁ bhavissatīti. Evañhi te, gahapati, sikkhitabban’ti. Evaṁ khvāhaṁ, bhante, bhagavatā dhammiyā kathāya amatena abhisitto”ti.“That’s the ambrosial Dhamma talk with which I was anointed by the Buddha.”
7—Nhưng này Gia chủ, Gia chủ có hỏi thêm Thế Tôn như sau: “Cho đến như thế nào, bạch Thế Tôn, là thân bị bịnh và tâm cũng bị bịnh? Cho đến như thế nào là thân bị bịnh, nhưng tâm không bị bịnh không?”
—Thưa Tôn giả, con có thể đi đến thật xa để nghe tận mặt Tôn giả Sāriputta ý nghĩa của lời nói này. Lành thay, nếu được Tôn giả Sāriputta giải thích ý nghĩa của lời nói này!“Na hi pana taṁ, gahapati, paṭibhāsi bhagavantaṁ uttariṁ paṭipucchituṁ: ‘kittāvatā nu kho, bhante, āturakāyo ceva hoti āturacitto ca, kittāvatā ca pana āturakāyo hi kho hoti no ca āturacitto’”ti? “Dūratopi kho mayaṁ, bhante, āgaccheyyāma āyasmato sāriputtassa santike etassa bhāsitassa atthamaññātuṁ. Sādhu vatāyasmantaṁyeva sāriputtaṁ paṭibhātu etassa bhāsitassa attho”ti.“But didn’t you feel the need to ask the Buddha the further question: ‘Sir, how do you define someone ailing in body and ailing in mind, and someone ailing in body and healthy in mind’?” “Sir, we would travel a long way to learn the meaning of this statement in the presence of Venerable Sāriputta. May Venerable Sāriputta himself please clarify the meaning of this.”
8—Vậy này Gia chủ, hãy lắng nghe và khéo suy nghiệm, ta sẽ nói.
—Thưa vâng, Tôn giả.
Gia chủ Nakulapitā vâng đáp Tôn giả Sāriputta.
Tôn giả Sāriputta nói như sau:“Tena hi, gahapati, suṇāhi, sādhukaṁ manasi karohi; bhāsissāmī”ti. “Evaṁ, bhante”ti kho nakulapitā gahapati āyasmato sāriputtassa paccassosi. Āyasmā sāriputto etadavoca:“Well then, householder, listen and apply your mind well, I will speak.” “Yes, sir,” replied Nakula’s father. Sāriputta said this:
9—Thế nào, này Gia chủ, là thân bịnh và tâm bịnh?
Ở đây, này Gia chủ, có kẻ vô văn phàm phu không thấy rõ các bậc Thánh, không thuần thục pháp các bậc Thánh, không tu tập pháp các bậc Thánh, không thấy rõ các bậc Chân nhân, không thuần thục pháp các bậc Chân nhân, không tu tập pháp các bậc Chân nhân, quán sắc như là tự ngã, hay tự ngã như là có sắc, hay sắc ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong sắc. Vị ấy bị ám ảnh: “Sắc là ta, sắc là của ta”. Do bị ám ảnh: “Sắc là ta, sắc là của ta.” khi sắc biến hoại, đổi khác; do sắc biến hoại, đổi khác, nên vị ấy khởi lên sầu, bi, khổ, ưu, não!“Kathañca, gahapati, āturakāyo ceva hoti, āturacitto ca? Idha, gahapati, assutavā puthujjano ariyānaṁ adassāvī ariyadhammassa akovido ariyadhamme avinīto sappurisānaṁ adassāvī sappurisadhammassa akovido sappurisadhamme avinīto rūpaṁ attato samanupassati, rūpavantaṁ vā attānaṁ; attani vā rūpaṁ, rūpasmiṁ vā attānaṁ. ‘Ahaṁ rūpaṁ, mama rūpan’ti pariyuṭṭhaṭṭhāyī hoti. Tassa ‘ahaṁ rūpaṁ, mama rūpan’ti pariyuṭṭhaṭṭhāyino taṁ rūpaṁ vipariṇamati aññathā hoti. Tassa rūpavipariṇāmaññathābhāvā uppajjanti sokaparidevadukkhadomanassupāyāsā.“And how is one ailing in body and ailing in mind? It’s when an unlearned ordinary person has not seen the noble ones, and is neither skilled nor trained in the qualities of a noble one. They’ve not seen true persons, and are neither skilled nor trained in the qualities of a true person. They regard form as self, self as having form, form in self, or self in form. They’re obsessed with the thought: ‘I am form, form is mine!’ But that form of theirs decays and perishes, which gives rise to sorrow, lamentation, pain, sadness, and distress.
10Vị ấy quán thọ như là tự ngã, hay tự ngã như là có thọ, hay thọ ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong thọ. Vị ấy bị ám ảnh: “Thọ là ta, thọ là của ta”. Do bị ám ảnh: “Thọ là ta, thọ là của ta” khi thọ biến hoại, đổi khác; nên do thọ biến hoại, đổi khác, vị ấy khởi lên sầu, bi, khổ, ưu, não!Vedanaṁ attato samanupassati, vedanāvantaṁ vā attānaṁ; attani vā vedanaṁ, vedanāya vā attānaṁ. ‘Ahaṁ vedanā, mama vedanā’ti pariyuṭṭhaṭṭhāyī hoti. Tassa ‘ahaṁ vedanā, mama vedanā’ti pariyuṭṭhaṭṭhāyino, sā vedanā vipariṇamati aññathā hoti. Tassa vedanāvipariṇāmaññathābhāvā uppajjanti sokaparidevadukkhadomanassupāyāsā.They regard feeling as self, self as having feeling, feeling in self, or self in feeling. They’re obsessed with the thought: ‘I am feeling, feeling is mine!’ But that feeling of theirs decays and perishes, which gives rise to sorrow, lamentation, pain, sadness, and distress.
11Vị ấy quán tưởng như là tự ngã, hay tự ngã như là có tưởng, hay tưởng ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong tưởng. Vị ấy bị ám ảnh: “Tưởng là ta, tưởng là của ta”. Do bị ám ảnh: “Tưởng là ta, tưởng là của ta” khi tưởng biến hoại, đổi khác; nên do tưởng biến hoại, đổi khác, vị ấy khởi lên sầu, bi, khổ, ưu, não!Saññaṁ attato samanupassati, saññāvantaṁ vā attānaṁ; attani vā saññaṁ, saññāya vā attānaṁ. ‘Ahaṁ saññā, mama saññā’ti pariyuṭṭhaṭṭhāyī hoti. Tassa ‘ahaṁ saññā, mama saññā’ti pariyuṭṭhaṭṭhāyino, sā saññā vipariṇamati aññathā hoti. Tassa saññāvipariṇāmaññathābhāvā uppajjanti sokaparidevadukkhadomanassupāyāsā.They regard perception as self, self as having perception, perception in self, or self in perception. They’re obsessed with the thought: ‘I am perception, perception is mine!’ But that perception of theirs decays and perishes, which gives rise to sorrow, lamentation, pain, sadness, and distress.
12Vị ấy quán các hành như là tự ngã hay tự ngã như là có các hành, hay các hành ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong các hành. Vị ấy bị ám ảnh: “Các hành là ta, các hành là của ta”. Do bị ám ảnh: “Các hành là ta, các hành là của ta” khi các hành biến hoại, đổi khác; do các hành biến hoại, đổi khác, vị ấy khởi lên sầu, bi, khổ, ưu, não!Saṅkhāre attato samanupassati, saṅkhāravantaṁ vā attānaṁ; attani vā saṅkhāre, saṅkhāresu vā attānaṁ. ‘Ahaṁ saṅkhārā, mama saṅkhārā’ti pariyuṭṭhaṭṭhāyī hoti. Tassa ‘ahaṁ saṅkhārā, mama saṅkhārā’ti pariyuṭṭhaṭṭhāyino, te saṅkhārā vipariṇamanti aññathā honti. Tassa saṅkhāravipariṇāmaññathābhāvā uppajjanti sokaparidevadukkhadomanassupāyāsā.They regard choices as self, self as having choices, choices in self, or self in choices. They’re obsessed with the thought: ‘I am choices, choices are mine!’ But those choices of theirs decay and perish, which gives rise to sorrow, lamentation, pain, sadness, and distress.
13Vị ấy quán thức như là tự ngã, hay tự ngã như là có thức, hay thức ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong thức. Vị ấy bị ám ảnh: “Thức là ta, thức là của ta” khi thức biến hoại, đổi khác; nên do thức biến hoại, đổi khác, vị ấy khởi lên sầu, bi, khổ, ưu, não!
Như vậy, này Gia chủ, là thân có bịnh và tâm có bịnh.
Thế nào, này Gia chủ, là thân có bịnh nhưng tâm không có bịnh?Viññāṇaṁ attato samanupassati, viññāṇavantaṁ vā attānaṁ; attani vā viññāṇaṁ, viññāṇasmiṁ vā attānaṁ. ‘Ahaṁ viññāṇaṁ, mama viññāṇan’ti pariyuṭṭhaṭṭhāyī hoti. Tassa ‘ahaṁ viññāṇaṁ, mama viññāṇan’ti pariyuṭṭhaṭṭhāyino, taṁ viññāṇaṁ vipariṇamati aññathā hoti. Tassa viññāṇavipariṇāmaññathābhāvā uppajjanti sokaparidevadukkhadomanassupāyāsā. Evaṁ kho, gahapati, āturakāyo ceva hoti āturacitto ca.They regard consciousness as self, self as having consciousness, consciousness in self, or self in consciousness. They’re obsessed with the thought: ‘I am consciousness, consciousness is mine!’ But that consciousness of theirs decays and perishes, which gives rise to sorrow, lamentation, pain, sadness, and distress. That’s how one is ailing in body and ailing in mind.
14Ở đây, này Gia chủ, vị đa văn Thánh đệ tử hiểu rõ các bậc Thánh, thuần thục pháp các bậc Thánh, tu tập pháp các bậc Thánh, hiểu rõ các bậc Chân nhân, thuần thục pháp các bậc Chân nhân, tu tập pháp các bậc Chân nhân, không quán sắc như là tự ngã, hay tự ngã như là có sắc, hay sắc ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong sắc. Vị ấy không bị ám ảnh: “Sắc là ta, sắc là của ta”. Do vị ấy không bị ám ảnh: “Sắc là ta, sắc là của ta” khi sắc biến hoại, đổi khác; nên không do sắc biến hoại, đổi khác mà khởi lên sầu, bi, khổ, ưu, não!Kathañca, gahapati, āturakāyo hi kho hoti no ca āturacitto? Idha, gahapati, sutavā ariyasāvako ariyānaṁ dassāvī ariyadhammassa kovido ariyadhamme suvinīto sappurisānaṁ dassāvī sappurisadhammassa kovido sappurisadhamme suvinīto na rūpaṁ attato samanupassati, na rūpavantaṁ vā attānaṁ; na attani vā rūpaṁ, na rūpasmiṁ vā attānaṁ. ‘Ahaṁ rūpaṁ, mama rūpan’ti na pariyuṭṭhaṭṭhāyī hoti. Tassa ‘ahaṁ rūpaṁ, mama rūpan’ti apariyuṭṭhaṭṭhāyino, taṁ rūpaṁ vipariṇamati aññathā hoti. Tassa rūpavipariṇāmaññathābhāvā nuppajjanti sokaparidevadukkhadomanassupāyāsā.And how is one ailing in body and healthy in mind? It’s when a learned noble disciple has seen the noble ones, and is skilled and trained in the teaching of the noble ones. They’ve seen true persons, and are skilled and trained in the teaching of the true persons. They don’t regard form as self, self as having form, form in self, or self in form. They’re not obsessed with the thought: ‘I am form, form is mine!’ So when that form of theirs decays and perishes, it doesn’t give rise to sorrow, lamentation, pain, sadness, and distress.
15Không quán thọ như là tự ngã, hay tự ngã như là có thọ, hay thọ ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong thọ. Vị ấy không bị ám ảnh: “Thọ là ta, thọ là của ta”. Do vị ấy không bị ám ảnh: “Thọ là ta, thọ là của ta” khi thọ biến hoại, đổi khác; nên không do thọ biến hoại, đổi khác, mà khởi lên sầu, bi, khổ, ưu, não!Na vedanaṁ attato samanupassati, na vedanāvantaṁ vā attānaṁ; na attani vā vedanaṁ, na vedanāya vā attānaṁ. ‘Ahaṁ vedanā, mama vedanā’ti na pariyuṭṭhaṭṭhāyī hoti. Tassa ‘ahaṁ vedanā, mama vedanā’ti apariyuṭṭhaṭṭhāyino, sā vedanā vipariṇamati aññathā hoti. Tassa vedanāvipariṇāmaññathābhāvā nuppajjanti sokaparidevadukkhadomanassupāyāsā.They don’t regard feeling as self, self as having feeling, feeling in self, or self in feeling. They’re not obsessed with the thought: ‘I am feeling, feeling is mine!’ So when that feeling of theirs decays and perishes, it doesn’t give rise to sorrow, lamentation, pain, sadness, and distress.
16Không quán tưởng như là tự ngã, hay tự ngã như là có tưởng, hay tưởng ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong tưởng. Vị ấy không bị ám ảnh: “Tưởng là ta, tưởng là của ta”. Do vị ấy không bị ám ảnh: “Tưởng là ta, tưởng là của ta” khi tưởng biến hoại, đổi khác; nên không do tưởng biến hoại, đổi khác mà khởi lên sầu, bi, khổ, ưu, não!Na saññaṁ attato samanupassati, na saññāvantaṁ vā attānaṁ; na attani vā saññaṁ, na saññāya vā attānaṁ. ‘Ahaṁ saññā, mama saññā’ti na pariyuṭṭhaṭṭhāyī hoti. Tassa ‘ahaṁ saññā, mama saññā’ti apariyuṭṭhaṭṭhāyino, sā saññā vipariṇamati aññathā hoti. Tassa saññāvipariṇāmaññathābhāvā nuppajjanti sokaparidevadukkhadomanassupāyāsā.They don’t regard perception as self, self as having perception, perception in self, or self in perception. They’re not obsessed with the thought: ‘I am perception, perception is mine!’ So when that perception of theirs decays and perishes, it doesn’t give rise to sorrow, lamentation, pain, sadness, and distress.
17Không quán các hành như là tự ngã, hay tự ngã như là có hành, hay các hành ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong các hành. Vị ấy không bị ám ảnh: “Các hành là ta, các hành là của ta”. Do vị ấy không bị ám ảnh: “Các hành là ta, các hành là của ta” khi các hành biến hoại, đổi khác; nên không do các hành biến hoại, đổi khác mà khởi lên sầu, bi, khổ, ưu, não!Na saṅkhāre attato samanupassati, na saṅkhāravantaṁ vā attānaṁ; na attani vā saṅkhāre, na saṅkhāresu vā attānaṁ. ‘Ahaṁ saṅkhārā, mama saṅkhārā’ti na pariyuṭṭhaṭṭhāyī hoti. Tassa ‘ahaṁ saṅkhārā, mama saṅkhārā’ti apariyuṭṭhaṭṭhāyino, te saṅkhārā vipariṇamanti aññathā honti. Tassa saṅkhāravipariṇāmaññathābhāvā nuppajjanti sokaparidevadukkhadomanassupāyāsā.They don’t regard choices as self, self as having choices, choices in self, or self in choices. They’re not obsessed with the thought: ‘I am choices, choices are mine!’ So when those choices of theirs decay and perish, it doesn’t give rise to sorrow, lamentation, pain, sadness, and distress.
18Không quán thức như là tự ngã, hay tự ngã như là có thức, hay thức ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong thức. Vị ấy không bị ám ảnh: “Thức là ta, thức là của ta”. Do vị ấy không bị ám ảnh: “Thức là ta, thức là của ta” khi thức biến hoại, đổi khác; nên không do thức biến hoại, đổi khác mà khởi lên sầu, bi, khổ, ưu, não!
Như vậy, này Gia chủ, là thân có bịnh, nhưng tâm không có bịnh.Na viññāṇaṁ attato samanupassati, na viññāṇavantaṁ vā attānaṁ; na attani vā viññāṇaṁ, na viññāṇasmiṁ vā attānaṁ. ‘Ahaṁ viññāṇaṁ, mama viññāṇan’ti na pariyuṭṭhaṭṭhāyī hoti. Tassa ‘ahaṁ viññāṇaṁ, mama viññāṇan’ti apariyuṭṭhaṭṭhāyino, taṁ viññāṇaṁ vipariṇamati aññathā hoti. Tassa viññāṇavipariṇāmaññathābhāvā nuppajjanti sokaparidevadukkhadomanassupāyāsā. Evaṁ kho, gahapati, āturakāyo hoti no ca āturacitto”ti.They don’t regard consciousness as self, self as having consciousness, consciousness in self, or self in consciousness. They’re not obsessed with the thought: ‘I am consciousness, consciousness is mine!’ So when that consciousness of theirs decays and perishes, it doesn’t give rise to sorrow, lamentation, pain, sadness, and distress. That’s how an individual is ailing in body and healthy in mind.”
19Tôn giả Sāriputta thuyết như vậy, gia chủ Nakulapitā hoan hỷ, tín thọ lời Tôn giả Sāriputta thuyết.Idamavoca āyasmā sāriputto. Attamano nakulapitā gahapati āyasmato sāriputtassa bhāsitaṁ abhinandīti. Paṭhamaṁ.That is what Venerable Sāriputta said. Satisfied, Nakula’s father approved what Sāriputta said.
Viết bởi Diệu Hạnh
Nguồn trích dẫn
- Tương Ưng Bộ 22.1 (Nakulapitu Sutta). Bản Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka, SN 22.1 trên SuttaCentral.
- Bản tiếng Anh: Bhikkhu Sujato dịch, SuttaCentral, phát hành theo giấy phép CC0.
- Bản tiếng Việt: HT. Thích Minh Châu dịch (bản trên SuttaCentral). Bản dịch tiếng Việt của HT. Thích Minh Châu, trích đăng để phụng sự Pháp thí; nếu chủ sở hữu bản quyền có yêu cầu, xin liên hệ 0902 332 970 để điều chỉnh.