Phật Thuyết Như Vậy 74 · Iti 74

Kinh Người Con

Putta Sutta

Kinh Người Con trình bày ba hạng con trai xuất hiện ở đời, phân biệt bằng việc người con giữ giới đặt cạnh việc giữ giới của cha mẹ.

Trước khi đọc kinh

Tóm lại

  • Người con ưu sanh giữ giới và theo pháp lành dù cha mẹ không giữ giới và không theo pháp lành.
  • Người con tùy sanh giữ giới và theo pháp lành giống như cha mẹ đã giữ giới và theo pháp lành.
  • Người con liệt sanh không giữ giới và theo ác pháp dù cha mẹ đã giữ giới và theo pháp lành.

Kinh Người Con thuộc tập Phật Thuyết Như Vậy và mang số hiệu 74. Bài kinh gồm ba phần. Phần xuôi từ đoạn 1.1 đến đoạn 5.11 nêu ba hạng con trai và giải thích từng hạng bằng việc giữ giới của cha mẹ và của người con. Phần kệ từ đoạn 6.1 đến đoạn 7.6 nhắc lại mong muốn của bậc hiền trí đối với từng hạng con. Phần kết từ đoạn 8.1 đến đoạn 8.2 xác nhận ý nghĩa vừa được nói. Chữ sīlavā nghĩa là người giữ giới, chữ kalyāṇadhammo nghĩa là người theo pháp lành.

Trong phần xuôi, hạng thứ nhất được gọi bằng chữ atijāto, người con ưu sanh, vì người con giữ giới dù cha mẹ không giữ giới. Hạng thứ hai được gọi bằng chữ anujāto, người con tùy sanh, vì người con giữ giới giống cha mẹ. Hạng thứ ba được gọi bằng chữ avajāto, người con liệt sanh, vì người con không giữ giới dù cha mẹ giữ giới. Phần kệ còn nhắc đến người con sống đầy đủ lòng tin và giới, rộng rãi, biết cho và xa lìa sự xan tham. Người viết ghi thêm: bản dịch dùng chữ "biết nghe lời người khác" cho chữ Pāli vadaññū, nghĩa là rộng rãi, biết cho.

Thuật ngữ Pāli trong kinh
atijāto
người con ưu sanh
anujāto
người con tùy sanh
avajāto
người con liệt sanh
saraṇaṁ
nương tựa, quy y
sīlavā
người giữ giới
kalyāṇadhammo
người theo pháp lành
paṇḍitā
bậc hiền trí

Kinh Người Con

1Điều này đã được Thế Tôn nói đến, đã được bậc A-la-hán nói đến, và tôi đã được nghe:

Này các Tỷ-kheo, các ba hạng con trai này xuất hiện, có mặt ở đời. Thế nào là ba? Ưu sanh, tùy sanh, liệt sanh.

Và này các Tỷ-kheo. Thế nào là ưu sanh? Ở đây, này các Tỷ-kheo, cha mẹ của người con không quy y Phật, không quy y Pháp, không quy y Tăng, không từ bỏ sát sanh, không từ bỏ lấy của không cho, không từ bỏ tà hạnh trong các dục, không từ bỏ nói láo, không từ bỏ đắm say rượu men rượu nấu, ác giới theo ác pháp. Còn người con của họ quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng, từ bỏ sát sanh, từ bỏ lấy của không cho, từ bỏ tà hạnh trong các dục, từ bỏ nói láo, từ bỏ đắm say rượu men rượu nấu, giữ giới, theo pháp lành. Như vậy, này các Tỷ-kheo, người con ấy được ưu sanh.

Và này các Tỷ-kheo, thế nào người con trai tùy sanh? Ở đây này các Tỷ-kheo, cha mẹ của người con quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng, từ bỏ sát sanh, từ bỏ lấy của không cho, từ bỏ tà hạnh trong các dục, từ bỏ nói láo, từ bỏ đắm say rượu men rượu nấu, giữ giới, theo các pháp lành. Người con trai của họ cũng quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng, từ bỏ sát sanh, từ bỏ lấy của không cho, từ bỏ tà hạnh trong các dục, từ bỏ nói láo, từ bỏ đắm say rượu men rượu nấu, giữ giới, theo các pháp lành. Như vậy này các Tỷ-kheo, là người con tùy sanh.

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là người con trai liệt sanh? Ở đây, này các Tỷ-kheo, cha mẹ của người con trai này quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng, từ bỏ sát sanh, từ bỏ lấy của không cho, từ bỏ tà hạnh trong các dục, từ bỏ nói láo, từ bỏ đắm say rượu men, rượu nấu, giữ giới, theo các pháp lành. Và người con của họ không quy y Phật, không quy y Pháp, không quy y Tăng, không từ bỏ sát sanh, không từ bỏ lấy của không cho, không từ bỏ tà hạnh trong các dục, không từ bỏ nói láo, không từ bỏ đắm say rượu men rượu nấu, ác giới, theo ác pháp. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là người con liệt sanh. Này các Tỷ-kheo, có ba hạng con trai này có mặt, xuất hiện ở đời.

Thế Tôn đã nói lên ý nghĩa này. Ở đây, điều này được nói đến.
Vuttañhetaṁ bhagavatā vuttamarahatāti me sutaṁ: “Tayome, bhikkhave, puttā santo saṁvijjamānā lokasmiṁ. Katame tayo? Atijāto, anujāto, avajātoti. Kathañca, bhikkhave, putto atijāto hoti? Idha, bhikkhave, puttassa mātāpitaro honti— na buddhaṁ saraṇaṁ gatā, na dhammaṁ saraṇaṁ gatā, na saṅghaṁ saraṇaṁ gatā; pāṇātipātā appaṭiviratā, adinnādānā appaṭiviratā, kāmesumicchācārā appaṭiviratā, musāvādā appaṭiviratā, surāmerayamajjapamādaṭṭhānā appaṭiviratā, dussīlā pāpadhammā. Putto ca nesaṁ hoti— buddhaṁ saraṇaṁ gato, dhammaṁ saraṇaṁ gato, saṅghaṁ saraṇaṁ gato; pāṇātipātā paṭivirato, adinnādānā paṭivirato, kāmesumicchācārā paṭivirato, musāvādā paṭivirato, surāmerayamajjapamādaṭṭhānā paṭivirato, sīlavā kalyāṇadhammo. Evaṁ kho, bhikkhave, putto atijāto hoti. Kathañca, bhikkhave, putto anujāto hoti? Idha, bhikkhave, puttassa mātāpitaro honti— buddhaṁ saraṇaṁ gatā, dhammaṁ saraṇaṁ gatā, saṅghaṁ saraṇaṁ gatā; pāṇātipātā paṭiviratā, adinnādānā paṭiviratā, kāmesumicchācārā paṭiviratā, musāvādā paṭiviratā, surāmerayamajjapamādaṭṭhānā paṭiviratā, sīlavanto kalyāṇadhammā. Puttopi nesaṁ hoti— buddhaṁ saraṇaṁ gato, dhammaṁ saraṇaṁ gato, saṅghaṁ saraṇaṁ gato; pāṇātipātā paṭivirato, adinnādānā paṭivirato, kāmesumicchācārā paṭivirato, musāvādā paṭivirato, surāmerayamajjapamādaṭṭhānā paṭivirato, sīlavā kalyāṇadhammo. Evaṁ kho, bhikkhave, putto anujāto hoti. Kathañca, bhikkhave, putto avajāto hoti? Idha, bhikkhave, puttassa mātāpitaro honti— buddhaṁ saraṇaṁ gatā, dhammaṁ saraṇaṁ gatā, saṅghaṁ saraṇaṁ gatā; pāṇātipātā paṭiviratā, adinnādānā paṭiviratā, kāmesumicchācārā paṭiviratā, musāvādā paṭiviratā, surāmerayamajjapamādaṭṭhānā paṭiviratā, sīlavanto kalyāṇadhammā. Putto ca nesaṁ hoti— na buddhaṁ saraṇaṁ gato, na dhammaṁ saraṇaṁ gato, na saṅghaṁ saraṇaṁ gato; pāṇātipātā appaṭivirato, adinnādānā appaṭivirato, kāmesumicchācārā appaṭivirato, musāvādā appaṭivirato, surāmerayamajjapamādaṭṭhānā appaṭivirato, dussīlo pāpadhammo. Evaṁ kho, bhikkhave, putto avajāto hoti. Ime kho, bhikkhave, tayo puttā santo saṁvijjamānā lokasmin”ti. Etamatthaṁ bhagavā avoca. Tatthetaṁ iti vuccati:This was said by the Buddha, the Perfected One: that is what I heard. “These three kinds of children are found in the world. What three? One who betters their birth, one who equals their birth, one who fails their birth. And how does a child better their birth? It’s when a child’s parents have not gone for refuge to the Buddha, the teaching, and the Saṅgha. They kill living creatures, steal, commit sexual misconduct, lie, and consume intoxicants of beer, wine, and liquor. They’re immoral, of bad character. But their child has gone for refuge to the Buddha, the teaching, and the Saṅgha. They don’t kill living creatures, steal, commit sexual misconduct, lie, or consume intoxicants of beer, wine, and liquor. They’re ethical, of good character. That’s how a child betters their birth. And how does a child equal their birth? It’s when a child’s parents have gone for refuge to the Buddha, the teaching, and the Saṅgha. They don’t kill living creatures, steal, commit sexual misconduct, lie, or consume intoxicants of beer, wine, and liquor. They’re ethical, of good character. And their child has gone for refuge to the Buddha, the teaching, and the Saṅgha. They don’t kill living creatures, steal, commit sexual misconduct, lie, or consume intoxicants of beer, wine, and liquor. They’re ethical, of good character. That’s how a child equals their birth. And how does a child fail their birth? It’s when a child’s parents have gone for refuge to the Buddha, the teaching, and the Saṅgha. They don’t kill living creatures, steal, commit sexual misconduct, lie, or consume intoxicants of beer, wine, and liquor. They’re ethical, of good character. But their child has not gone for refuge to the Buddha, the teaching, and the Saṅgha. They kill living creatures, steal, commit sexual misconduct, lie, and consume intoxicants of beer, wine, and liquor. They’re immoral, of bad character. That’s how a child fails their birth. These are the three kinds of children found in the world.” The Buddha spoke this matter. On this it is said:

2Bậc Hiền trí ước muốn,
Con trai ưu, tùy sanh,
Không ước muốn liệt sanh,
Một gánh nặng gia đình,
Đời có những con này,
Trở thành nam cư sĩ,
Sống đầy đủ tín giới,
Biết nghe lời người khác,
Xa lìa sự xan tham.
Những người con như vậy,
Như trăng thoát đám mây,
Chói sáng giữa hội chúng.
“Atijātaṁ anujātaṁ,
puttamicchanti paṇḍitā;
Avajātaṁ na icchanti,
yo hoti kulagandhano.
Ete kho puttā lokasmiṁ,
ye bhavanti upāsakā;
Saddhā sīlena sampannā,
vadaññū vītamaccharā;
Cando abbhaghanā mutto,
parisāsu virocare”ti.
“The astute wish for a child who betters or equals their birth; not one who fails their birth, disgracing their family. These are the children in the world who become lay devotees; faithful, accomplished in ethics, bountiful, rid of stinginess. Like the moon freed from clouds, they dazzle in the assemblies.”

3Ý nghĩa này được Thế Tôn nói đến và tôi đã được nghe.Ayampi attho vutto bhagavatā, iti me sutanti. Pañcamaṁ.This too is a matter that was spoken by the Blessed One: that is what I heard.

Giải nghĩa ngắn

Điểm chính của Kinh Người Con nằm ở việc giữ giới của chính người con. Kinh phân biệt các hạng bằng việc giữ giới của người con đặt cạnh việc giữ giới của cha mẹ. Theo cách đọc của người viết, không phải câu trong kinh, điều này đặt trách nhiệm trở lại nơi mỗi người, thay vì đổ cho hoàn cảnh gia đình.

Ví dụ của người viết, không phải chuyện trong kinh: một người trẻ lớn lên trong gia đình mà cha mẹ không giữ giới, nhưng sau này người ấy tập sống ngay thẳng, không lấy của không cho và không nói dối trong công việc. Hình ảnh ấy chỉ giúp bạn hình dung người con ưu sanh trong đời thường (không phải lời kinh).

Người con tùy sanh giữ giới cùng với cha mẹ, còn người con liệt sanh không giữ giới dù cha mẹ giữ giới. Theo cách đọc của người viết, không phải câu trong kinh, một đời sống giữ giới cần được duy trì đều đặn thì mới giữ được hướng lành mà kinh nêu.

Phần kệ cuối kinh nhắc đến người con sống đầy đủ lòng tin và giới, rộng rãi, biết cho và xa lìa sự xan tham, rồi ví người ấy như mặt trăng thoát khỏi đám mây và chói sáng giữa hội chúng. Theo cách đọc của người viết, không phải câu trong kinh, hình ảnh ấy không nói đến một phép lạ nào.

Hạng của người con được xác định bằng việc giữ giới của người con đặt cạnh việc giữ giới của cha mẹ.

Viết bởi Diệu Hạnh

Nguồn trích dẫn

  1. Phật Thuyết Như Vậy 74 (Putta Sutta, Itivuttaka 74). Bản Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka, Iti 74 trên SuttaCentral.
  2. Bản tiếng Anh: Bhikkhu Sujato dịch, SuttaCentral, phát hành theo giấy phép CC0.
  3. Bản tiếng Việt: HT. Thích Minh Châu dịch (Tiểu Bộ Kinh, Kinh Phật Thuyết Như Vậy, Chương Ba Pháp; bản trên phatphapungdung.com, lấy ngày 24/10/2026). Bản dịch tiếng Việt của HT. Thích Minh Châu, trích đăng để phụng sự Pháp thí; nếu chủ sở hữu bản quyền có yêu cầu, xin liên hệ 0902 332 970 để điều chỉnh.
  4. Tên kinh tiếng Việt do Hoan Hỉ đặt theo tên Pāli; bản dịch của HT. Thích Minh Châu không đặt tên riêng cho từng kinh trong Phật Thuyết Như Vậy.

Đọc tiếp