Kinh Người Đẹp Nhất Xứ
Janapadakalyāṇī Sutta
Còn gọi là: Kinh Bát Dầu
Bưng một bát dầu đầy đến miệng, đi qua đám đông đang say sưa xem người đẹp nhất xứ múa hát, sau lưng là người cầm gươm. Đức Phật nói: niệm thân là như thế.
Trước khi đọc kinh
Kinh Người Đẹp Nhất Xứ (Janapadakalyāṇī Sutta) là bài kinh ngắn trong Tương Ưng Niệm Xứ, nhóm kinh thứ 47 của Tương Ưng Bộ, nơi gom các lời dạy về bốn niệm xứ. Đức Thế Tôn khi ấy trú giữa dân Sumbha, gần thị trấn Sedaka (đoạn 1.2). Toàn bài chỉ là một ví dụ và một lời giải, nhưng là một trong những hình ảnh về chánh niệm dễ nhớ nhất trong kinh điển.
Đức Phật dựng một cảnh: nghe tin “người đẹp nhất xứ”, đám đông kéo đến; nghe tin người ấy đang múa hát, đám đông còn đông hơn (đoạn 2.1–2.3). Rồi có một người muốn sống, không muốn chết, được trao một bát dầu đầy ngang miệng, phải bưng đi qua giữa đám đông và người đẹp ấy. Sau lưng có người cầm gươm tuốt trần, hễ đổ một giọt là chém đầu (đoạn 2.4–2.8). Đức Phật hỏi: người ấy có lơ là bát dầu mà để tâm ra ngoài không? Các Tỷ-kheo đáp: thưa không (đoạn 2.10–2.11).
Lời giải rất ngắn: bát dầu đầy ngang miệng là chỉ cho niệm thân (kāyagatā sati) (đoạn 3.3). Vì vậy, các Tỷ-kheo hãy tu tập niệm thân, làm cho sung mãn, biến nó thành cỗ xe, thành nền tảng, thực hành bền bỉ (đoạn 3.5). Ví dụ này không nói rằng thế giới bên ngoài là xấu. Người đẹp vẫn múa, đám đông vẫn ồn ào. Điều thay đổi là chỗ đặt sự chú ý. Giữa một ngày đầy thông báo điện thoại, tin tức và lời mời gọi, bát dầu ấy chính là sự có mặt của bạn trong thân mình: hơi thở, bước chân, đôi tay đang làm việc.
Ý chính
- Đám đông tụ lại xem người đẹp nhất xứ múa hát (2.1–2.3).
- Một người phải bưng bát dầu đầy đi qua giữa đám đông ấy (2.6).
- Sau lưng là người cầm gươm: đổ một giọt là mất đầu (2.7–2.8).
- Người ấy sẽ không lơ là bát dầu mà buông lung ra ngoài (2.10–2.11).
- Bát dầu đầy ngang miệng là chỉ cho niệm thân (3.3).
- Hãy tu tập niệm thân, biến nó thành cỗ xe và nền tảng (3.5).
Thuật ngữ Pāli trong kinh
- janapadakalyāṇī
- người đẹp nhất xứ, hoa khôi
- telapatta
- bát dầu
- samatittika
- đầy ngang miệng
- kāyagatā sati
- niệm thân, chánh niệm về thân
- pamāda
- phóng dật, buông lung
- bahulīkata
- làm cho sung mãn, thực hành nhiều
- yānīkata
- biến thành cỗ xe
Kinh Người Đẹp Nhất Xứ
1Như vầy tôi nghe.
Một thời Thế Tôn trú giữa dân chúng Sumbha, tại một thị trấn của dân chúng Sumbha tên là Sedaka.
Tại đấy, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo …Evaṁ me sutaṁ— ekaṁ samayaṁ bhagavā sumbhesu viharati sedakaṁ nāma sumbhānaṁ nigamo. Tatra kho bhagavā bhikkhū āmantesi: “bhikkhavo”ti. “Bhadante”ti te bhikkhū bhagavato paccassosuṁ. Bhagavā etadavoca:So I have heard. At one time the Buddha was staying in the land of the Sumbhas, near the town of the Sumbhas named Sedaka. There the Buddha addressed the mendicants, “Mendicants!” “Venerable sir,” they replied. The Buddha said this:
2—Ví như một số đông quần chúng, này các Tỷ-kheo, tụ họp lại và nói: “Cô gái hoa hậu của quốc độ. Cô gái hoa hậu của quốc độ!”. Và người con gái hoa hậu quốc độ ấy với tất cả sự quyến rủ của mình, múa cho họ xem, với tất cả sự quyến rủ của mình, hát cho họ nghe. Và một số quần chúng còn đông hơn tụ họp lại và nói: “Cô gái hoa hậu của quốc độ múa và hát”. Rồi một người đến, muốn sống, không muốn chết, muốn lạc, ghét khổ, họ nói với người ấy như sau: “Này Ông, hãy xem đây. Đây là cái bát đầy dầu. Ông hãy mang bát dầu ấy và đi vòng quanh đám quần chúng lớn và người con gái hoa hậu của quốc độ. Và một người với cây kiếm giơ cao sẽ đi theo sau lưng Ông. Tại chỗ nào làm đổ một ít dầu, tại chỗ ấy, đầu Ông bị rơi xuống”. Các Ông nghĩ thế nào, này các Tỷ-kheo, người ấy có thể không tác ý đến bát dầu, phóng tâm hướng ngoại không?
—Thưa không, bạch Thế Tôn.“Seyyathāpi, bhikkhave, ‘janapadakalyāṇī, janapadakalyāṇī’ti kho, bhikkhave, mahājanakāyo sannipateyya. ‘Sā kho panassa janapadakalyāṇī paramapāsāvinī nacce, paramapāsāvinī gīte. Janapadakalyāṇī naccati gāyatī’ti kho, bhikkhave, bhiyyoso mattāya mahājanakāyo sannipateyya. Atha puriso āgaccheyya jīvitukāmo amaritukāmo sukhakāmo dukkhappaṭikūlo. Tamenaṁ evaṁ vadeyya: ‘ayaṁ te, ambho purisa, samatittiko telapatto antarena ca mahāsamajjaṁ antarena ca janapadakalyāṇiyā pariharitabbo. Puriso ca te ukkhittāsiko piṭṭhito piṭṭhito anubandhissati. Yattheva naṁ thokampi chaḍḍessati tattheva te siro pātessatī’ti. Taṁ kiṁ maññatha, bhikkhave, api nu so puriso amuṁ telapattaṁ amanasikaritvā bahiddhā pamādaṁ āhareyyā”ti? “No hetaṁ, bhante”.“Mendicants, suppose that on hearing, ‘The finest lady in the land! The finest lady in the land!’ a large crowd would gather. And the finest lady in the land would dance and sing in a most thrilling way. On hearing, ‘The finest lady in the land is dancing and singing! The finest lady in the land is dancing and singing!’ an even larger crowd would gather. Then a person would come along who wants to live and doesn’t want to die, who wants to be happy and recoils from pain. They’d say to him, ‘My man, this is a bowl full to the brim with oil. You must carry it in between this large crowd and the finest lady in the land. And a man with a drawn sword will follow right behind you. Wherever you spill even a drop, he’ll chop off your head right there.’ What do you think, mendicants? Would that person lose focus on that bowl, and negligently get distracted outside?” “No, sir.”
3–4—Ví dụ này, này các Tỷ-kheo, Ta nói ra để nêu rõ ý nghĩa. Và đây là ý nghĩa của nó. Này các Tỷ-kheo, cái bát đầy dầu là đồng nghĩa với thân hành niệm.
Do vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải học tập như sau: “Chúng ta sẽ tu tập thân hành niệm, làm cho sung mãn, làm cho như thành cỗ xe, làm cho như thành đất nền, làm cho tiếp tục an trú, làm cho tích tập, làm cho khéo có hiệu năng (susamàraddhà)”. Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải học tập.“Upamā kho myāyaṁ, bhikkhave, katā atthassa viññāpanāya. Ayaṁ cevettha attho— samatittiko telapattoti kho, bhikkhave, kāyagatāya etaṁ satiyā adhivacanaṁ. Tasmātiha, bhikkhave, evaṁ sikkhitabbaṁ: ‘kāyagatā sati no bhāvitā bhavissati bahulīkatā yānīkatā vatthukatā anuṭṭhitā paricitā susamāraddhā’ti. Evañhi kho, bhikkhave, sikkhitabban”ti. Dasamaṁ. Nālandavaggo dutiyo. Tassuddānaṁ Mahāpuriso nālandaṁ, Cundo celañca bāhiyo; Uttiyo ariyo brahmā, Sedakaṁ janapadena cāti.“I’ve made up this simile to make a point. And this is what it means. ‘A bowl of oil filled to the brim’ is a term for mindfulness of the body. So you should train like this: ‘We will develop mindfulness of the body. We’ll cultivate it, make it our vehicle and our basis, keep it up, consolidate it, and properly implement it.’ That’s how you should train.”
Viết bởi Tuệ Minh
Nguồn trích dẫn
- Tương Ưng Bộ 47.20 (Janapadakalyāṇī Sutta). Bản Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka, SN 47.20 trên SuttaCentral.
- Bản tiếng Anh: Bhikkhu Sujato dịch, SuttaCentral, phát hành theo giấy phép CC0.
- Bản tiếng Việt: HT. Thích Minh Châu dịch (bản trên SuttaCentral). Bản dịch tiếng Việt của HT. Thích Minh Châu, trích đăng để phụng sự Pháp thí; nếu chủ sở hữu bản quyền có yêu cầu, xin liên hệ 0902 332 970 để điều chỉnh.