Kinh Người Nhào Lộn Trên Cây Tre
Sedaka Sutta
Kinh Người Nhào Lộn Trên Cây Tre dùng câu chuyện thầy trò nhào lộn trên cây tre để nói một nguyên lý của niệm xứ: trong khi hộ trì cho tự thân là hộ trì người khác, và trong khi hộ trì người khác là hộ trì cho tự thân.
Trước khi đọc kinh
Tóm lại
- Người thầy nhào lộn bảo đệ tử rằng thầy hộ trì cho đệ tử và đệ tử hộ trì cho thầy thì cả hai sẽ trình bày tiết mục và leo xuống an toàn.
- Đệ tử đáp rằng thầy nên hộ trì tự ngã thầy và đệ tử sẽ hộ trì tự ngã đệ tử, như vậy cả hai tự che chở cho bản thân và leo xuống an toàn, và Thế Tôn xác nhận đây là chánh lý cần phải làm.
- Hộ trì cho tự thân tức là niệm xứ cần phải thực hành, hộ trì người khác tức là niệm xứ cần phải thực hành, và kinh nói: trong khi hộ trì mình là hộ trì người khác, trong khi hộ trì người khác là hộ trì mình.
Kinh Người Nhào Lộn Trên Cây Tre thuộc Tương Ưng Bộ của kinh Nikāya, tức năm bộ kinh gốc bằng tiếng Pāli, ngôn ngữ gốc của kinh, nằm trong Tương Ưng Niệm Xứ (chương 47), phẩm Nālanda. Kinh mở đầu tại Sedaka, một thị trấn của dân chúng Sumbha, nơi Thế Tôn trú và gọi các Tỷ-kheo, tức các vị xuất gia theo Phật, ở đoạn 1.1 đến 1.2. Bản Minh Châu ghi 'Desakà' và 'Medakathàlikà'; bài này dùng 'Sedaka' và 'Medakathālikā' theo bản Pāli.
Theo cách đọc của người viết, không phải câu trong kinh, cấu trúc của kinh đi từ câu chuyện sang lời dạy. Phần câu chuyện ở đoạn 1.3 đến 1.12 kể về người nhào lộn dựng cây tre và cuộc đối đáp giữa thầy và đệ tử Medakathālikā. Lời Thế Tôn từ đoạn 2.1 đến 3.10 lấy câu trả lời của đệ tử làm chánh lý, rồi giải thích thế nào là hộ trì tự thân và thế nào là hộ trì người khác, và lặp lại nguyên lý hộ trì lẫn nhau ở đoạn kết.
Theo cách đọc của người viết, không phải câu trong kinh, kinh này nổi tiếng vì nó đảo ngược một trực giác thông thường: người ta thường nghĩ phải lo cho người khác trước thì mới là tốt, còn kinh nói rằng lo cho bản thân một cách đúng pháp chính là cách lo cho người khác.
Thuật ngữ Pāli trong kinh
- satipaṭṭhāna
- niệm xứ, nền tảng của chánh niệm
- attā
- tự ngã, bản thân
- rakkhati
- hộ trì, che chở, giữ gìn
- khanti
- kham nhẫn, nhẫn nại
- avihiṁsā
- vô hại, không gây hại
- mettacittatā
- lòng từ, tâm từ
- anudayatā
- lòng ai mẫn, sự thương xót
- bhāvanā
- tu tập, làm cho phát triển
- āsevanā
- thực hành, sự chuyên cần thực hành
- bhikkhu
- Tỷ-kheo, vị xuất gia theo Phật
Kinh Người Nhào Lộn Trên Cây Tre
1.1Một thời Thế Tôn trú ở giữa dân chúng Sumbha, tại Desakà, một thị trấn của dân chúng Sumbhà.Ekaṁ samayaṁ bhagavā sumbhesu viharati sedakaṁ nāma sumbhānaṁ nigamo.At one time the Buddha was staying in the land of the Sumbhas, near the town of the Sumbhas named Sedaka.
1.2Tại đấy, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo và bảo:Tatra kho bhagavā bhikkhū āmantesi:There the Buddha addressed the mendicants:
1.3–1.5—Thuở trước, này các Tỷ-kheo, một người nhào lộn với cây tre, sau khi dựng lên một cây tre, liền bảo người đệ tử tên là Medakathàlikà: “Này Medakathàlikà, hãy đến, leo lên cây tre và đứng trên vai ta”: “Thưa thầy, vâng”. Này các Tỷ-kheo, đệ tử Medakathàlikà vâng đáp người nhào lộn trên cây tre, leo lên cây tre và đứng trên vai của thầy.“bhūtapubbaṁ, bhikkhave, caṇḍālavaṁsiko caṇḍālavaṁsaṁ ussāpetvā medakathālikaṁ antevāsiṁ āmantesi: ‘ehi tvaṁ, samma medakathālike, caṇḍālavaṁsaṁ abhiruhitvā mama uparikhandhe tiṭṭhāhī’ti. ‘Evaṁ, ācariyā’ti kho, bhikkhave, medakathālikā antevāsī caṇḍālavaṁsikassa paṭissutvā caṇḍālavaṁsaṁ abhiruhitvā ācariyassa uparikhandhe aṭṭhāsi.“Once upon a time, mendicants, a pole acrobat of the corpse-workers set up the bamboo pole of his tribe and said to his apprentice Medakathālikā, ‘Come now, dear Medakathālikā, climb up the bamboo pole and stand above my shoulders.’ ‘Yes, tutor,’ she replied. She climbed up the bamboo pole and stood above her tutor’s shoulders.
1.6–1.8Rồi này các Tỷ-kheo, người nhào lộn trên cây tre nói với đệ tử Medakathàlikà: “Này Medakathàlikà, Ông hộ trì cho ta và ta sẽ hộ trì cho Ông. Như vậy, chúng ta nhờ che chở cho nhau, nhờ hộ trì cho nhau, trình bày các tiết mục, thâu hoạch được lợi tức và leo xuống cây tre một cách an toàn”.Atha kho, bhikkhave, caṇḍālavaṁsiko medakathālikaṁ antevāsiṁ etadavoca: ‘tvaṁ, samma medakathālike, mamaṁ rakkha, ahaṁ taṁ rakkhissāmi. Evaṁ mayaṁ aññamaññaṁ guttā aññamaññaṁ rakkhitā sippāni ceva dassessāma, lābhañca lacchāma, sotthinā ca caṇḍālavaṁsā orohissāmā’ti.Then the pole acrobat of the corpse-workers said to Medakathālikā, ‘You look after me, dear Medakathālikā, and I shall look after you. That’s how, guarding and looking after each other, we’ll display our skill, collect our fee, and get down safely from the bamboo pole.’
1.9–1.12Khi được nghe nói vậy, này các Tỷ-kheo, đệ tử Medakathàlikà nói với người nhào lộn trên cây tre: “Thưa thầy, không nên như vậy. Thưa thầy, nên như vầy: Thầy nên hộ trì tự ngã thầy và con sẽ hộ trì tự ngã con. Như vậy, chúng ta tự che chở cho mình, tự hộ trì cho mình, trình bày các tiết mục, thâu hoạch được lợi ích, và leo xuống cây tre một cách an toàn. Đây là chánh lý (nàyo) cần phải làm”.Evaṁ vutte, bhikkhave, medakathālikā antevāsī caṇḍālavaṁsikaṁ etadavoca: ‘na kho panetaṁ, ācariya, evaṁ bhavissati. Tvaṁ, ācariya, attānaṁ rakkha, ahaṁ attānaṁ rakkhissāmi. Evaṁ mayaṁ attaguttā attarakkhitā sippāni ceva dassessāma, lābhañca lacchāma, sotthinā ca caṇḍālavaṁsā orohissāmā’”ti.When he said this, Medakathālikā said to her teacher, ‘That’s not how it will be, tutor! You look after yourself, and I shall look after myself. That’s how, guarding and looking after ourselves, we’ll display our skill, collect our fee, and get down safely from the bamboo pole.’
2.1–2.4Thế Tôn nói:
—Này các Tỷ-kheo, như đệ tử Medakathàlikà đã nói với thầy của ông ấy: “Tôi sẽ hộ trì cho mình”, tức là niệm xứ cần phải thực hành. Này các Tỷ-kheo, “Chúng ta sẽ hộ trì người khác”, tức là niệm xứ cần phải thực hành. Trong khi hộ trì cho mình, này các Tỷ-kheo, là hộ trì người khác. Trong khi hộ trì người khác, là hộ trì cho mình.“So tattha ñāyo”ti bhagavā etadavoca, “yathā medakathālikā antevāsī ācariyaṁ avoca. Attānaṁ, bhikkhave, rakkhissāmīti satipaṭṭhānaṁ sevitabbaṁ; paraṁ rakkhissāmīti satipaṭṭhānaṁ sevitabbaṁ. Attānaṁ, bhikkhave, rakkhanto paraṁ rakkhati, paraṁ rakkhanto attānaṁ rakkhati.That’s the way,” said the Buddha. “It’s just as Medakathālikā said to her tutor. Thinking ‘I’ll look after myself,’ you should cultivate mindfulness meditation. Thinking ‘I’ll look after others,’ you should cultivate mindfulness meditation. Looking after yourself, you look after others; and looking after others, you look after yourself.
3.1–3.3Và này các Tỷ-kheo, thế nào trong khi hộ trì cho mình, là hộ trì người khác? Chính do sự thực hành (àsevanàya), do sự tu tập (bhàvanàya), do sự làm cho sung mãn. Như vậy, này các Tỷ-kheo, trong khi hộ trì cho mình, là hộ trì người khác.Kathañca, bhikkhave, attānaṁ rakkhanto paraṁ rakkhati? Āsevanāya, bhāvanāya, bahulīkammena— evaṁ kho, bhikkhave, attānaṁ rakkhanto paraṁ rakkhati.And how do you look after others by looking after yourself? By development, cultivation, and practice of meditation.
3.4–3.6Và này các Tỷ-kheo, thế nào trong khi hộ trì người khác, là hộ trì cho mình? Chính do sự kham nhẫn, do sự vô hại, do lòng từ, do lòng ai mẫn. Như vậy, này các Tỷ-kheo, trong khi hộ trì người khác, là hộ trì cho mình.Kathañca, bhikkhave, paraṁ rakkhanto attānaṁ rakkhati? Khantiyā, avihiṁsāya, mettacittatāya, anudayatāya— evaṁ kho, bhikkhave, paraṁ rakkhanto attānaṁ rakkhati.And how do you look after yourself by looking after others? By acceptance, harmlessness, love, and sympathy.
3.7–3.10Này các Tỷ-kheo, “Tôi sẽ hộ trì cho mình”, tức là niệm xứ cần phải thực hành. Này các Tỷ-kheo, “Tôi sẽ hộ trì người khác”, tức là niệm xứ cần phải thực hành. Trong khi hộ trì cho mình, này các Tỷ-kheo, là hộ trì người khác. Trong khi hộ trì người khác, là hộ trì cho mình.
Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Đại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16.
Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.Attānaṁ, bhikkhave, rakkhissāmīti satipaṭṭhānaṁ sevitabbaṁ; paraṁ rakkhissāmīti satipaṭṭhānaṁ sevitabbaṁ. Attānaṁ, bhikkhave, rakkhanto paraṁ rakkhati, paraṁ rakkhanto attānaṁ rakkhatī”ti. Navamaṁ.Thinking ‘I’ll look after myself,’ you should cultivate mindfulness meditation. Thinking ‘I’ll look after others,’ you should cultivate mindfulness meditation. Looking after yourself, you look after others; and looking after others, you look after yourself.”
Giải nghĩa ngắn
Câu chuyện mở đầu rất cụ thể: người thầy nhào lộn dựng cây tre và bảo đệ tử leo lên đứng trên vai thầy, rồi đề nghị thầy hộ trì cho đệ tử và đệ tử hộ trì cho thầy thì cả hai sẽ trình bày tiết mục và leo xuống an toàn. Theo cách đọc của người viết, không phải câu trong kinh, đề nghị của người thầy nghe qua thì có vẻ hợp lý, vì nó nói về sự hợp tác và che chở lẫn nhau. Đệ tử đáp lại bằng một đề nghị khác: thầy nên hộ trì tự ngã thầy và đệ tử sẽ hộ trì tự ngã đệ tử. Như vậy cả hai tự che chở cho bản thân và leo xuống an toàn. Thế Tôn xác nhận đây là chánh lý cần phải làm. Điểm khác biệt nằm ở chỗ đệ tử không phủ nhận sự hợp tác mà đặt sự hợp tác lên một nền tảng vững hơn: mỗi người giữ vững phần của bản thân thì cả hai mới cùng an toàn, còn nếu mỗi người chỉ lo giữ cho người kia mà bản thân thì chao đảo, cả hai sẽ cùng ngã.
Thế Tôn giải thích rằng hộ trì cho tự thân tức là niệm xứ cần phải thực hành, và hộ trì người khác tức là niệm xứ cần phải thực hành. Theo cách đọc của người viết, không phải câu trong kinh, niệm xứ ở đây là sự thực hành chánh niệm trên thân, thọ, tâm và pháp. Việc thực hành ấy vừa là cách giữ tự thân vừa là cách giữ người, vì một người có chánh niệm thì ít gây hại cho người khác hơn.
Kinh giải thích tiếp thế nào là hộ trì tự thân thì hộ trì người: chính do sự thực hành, do sự tu tập và do sự làm cho sung mãn. Theo cách đọc của người viết, không phải câu trong kinh, ba chữ thực hành, tu tập và làm cho sung mãn nói về một quá trình bền bỉ, chứ không phải một lần cố gắng rồi thôi.
Ví dụ của người viết, không phải chuyện trong kinh (không phải lời kinh): chú Khải làm việc chung với một người bạn trong xưởng, trước đây chú hay bỏ phần việc của bản thân để chạy sang giúp bạn rồi cả hai cùng trễ hẹn, từ khi chú tập làm xong phần việc của bản thân trước rồi mới giúp bạn thì cả hai đều đúng hẹn và ít cãi nhau hơn.
Kinh giải thích thế nào là hộ trì người thì hộ trì tự thân: chính do sự kham nhẫn, do sự vô hại, do lòng từ và do lòng ai mẫn. Theo cách đọc của người viết, không phải câu trong kinh, bốn phẩm chất này đều là những cách không gây hại cho người khác, và một người không gây hại cho người khác thì cũng đang bảo vệ bản thân khỏi những hậu quả của việc gây hại.
Hộ trì tự thân bằng niệm xứ là hộ trì người, và hộ trì người bằng kham nhẫn, vô hại, từ tâm và ai mẫn là hộ trì tự thân.
Viết bởi Diệu Hạnh
Nguồn trích dẫn
- Tương Ưng Bộ 47.19 (Sedaka Sutta). Bản Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka, SN 47.19 trên SuttaCentral.
- Bản tiếng Anh: Bhikkhu Sujato dịch, SuttaCentral, phát hành theo giấy phép CC0.
- Bản tiếng Việt: HT. Thích Minh Châu dịch (bản trên SuttaCentral). Bản dịch tiếng Việt của HT. Thích Minh Châu, trích đăng để phụng sự Pháp thí; nếu chủ sở hữu bản quyền có yêu cầu, xin liên hệ 0902 332 970 để điều chỉnh.