Kinh Người Cày Ruộng
Kasibhāradvāja Sutta
Còn gọi là: Kinh Kasibhāradvāja, Kinh Kasi Bharadvaja, Kinh Tập 1.4
Một Bà-la-môn giàu có đang lo mùa gieo hạt bảo Đức Phật: muốn ăn thì hãy cày ruộng. Đức Phật đáp: Ta cũng cày và gieo, rồi mới ăn.
Trước khi đọc kinh
Kinh Người Cày Ruộng (Kasibhāradvāja Sutta) là bài kinh thứ tư của Kinh Tập (Sutta Nipāta), thuộc Tiểu Bộ. Một thời Đức Thế Tôn trú ở xứ Ma-kiệt-đà (Magadha), gần làng Bà-la-môn Ekanāḷā. Đang mùa gieo hạt, Bà-la-môn Bhāradvāja, người làm nghề nông nên được gọi là Kasibhāradvāja, đã cho thắng ách chừng năm trăm cây cày và đang phân phát thức ăn (đoạn 1.2–1.5). Đức Phật đắp y, cầm bát đến đứng một bên. Thấy vậy, ông nói: “Này Sa-môn, tôi cày và gieo rồi mới ăn; ông cũng hãy cày và gieo rồi hãy ăn.” Đức Phật đáp: “Ta cũng cày và gieo rồi mới ăn” (đoạn 2.1–3.1). Ông không thấy ách, cày, lưỡi cày hay bò kéo nào, nên hỏi bằng một bài kệ: ngài tự nhận là nông phu, vậy hãy nói việc cày của ngài (đoạn 3.2–5.4).
Câu trả lời của Đức Phật là một trong những bài kệ đẹp nhất của Kinh Tập. Niềm tin là giống Ta gieo, khổ luyện là mưa tưới, trí tuệ là ách và cày, lòng hổ thẹn là cán cày, tâm ý là dây buộc, chánh niệm là lưỡi cày và gậy thúc bò (đoạn 6.1–6.4); theo chú giải Kinh Tập (Paramatthajotikā), “khổ luyện” ở đây là sự thu thúc các căn. Thân và lời được giữ gìn, ăn uống biết đủ, chân thật là lưỡi liềm làm cỏ, hiền hòa là lúc tháo ách (đoạn 7.1–7.4). Tinh tấn là con bò kéo, đưa đến chốn an ổn, đi mãi không quay lại, đến nơi không còn sầu muộn; việc cày ấy đem lại quả bất tử (đoạn 8.1–9.4). Bà-la-môn cảm phục, dâng một bát cơm sữa, nhưng Đức Phật không nhận thức ăn có được nhờ đọc kệ, và bảo ông dâng thức ăn khác cho bậc đã dứt lậu hoặc (đoạn 10.1–12.4). Cơm sữa ấy được thả vào nước liền sôi lên xèo xèo như lưỡi cày nung cả ngày; ông kinh động, xin quy y, xin xuất gia, và về sau chứng quả A-la-hán (đoạn 14.1–16.4).
Hiểu đúng: lời của Kasibhāradvāja là một câu chê mà ngày nay vẫn còn nghe: “người tu không làm mà ăn”. Đức Phật không cãi lại bằng cách hạ thấp nghề nông, mà dùng chính ngôn ngữ của nhà nông để cho thấy việc tu cũng là một công việc có hạt giống, có mưa, có cày, có cỏ dại phải làm, và có mùa gặt. Việc Ngài không nhận bát cơm sữa cũng cho thấy người tu không nhận của cúng dường như tiền công giảng Pháp. Với người tại gia, bài kệ là một gợi ý dễ nhớ: mỗi ngày làm ruộng ngoài đời, bạn cũng có thể chăm một thửa ruộng trong lòng, gieo một chút niềm tin, nhổ một chút cỏ dại của lời nói dối, và giữ chánh niệm như người nông phu giữ chặt lưỡi cày.
Ý chính
- “Ta cũng cày và gieo; cày xong, gieo xong, Ta mới ăn” (3.1).
- Niềm tin là giống Ta gieo, khổ luyện là mưa tưới, trí tuệ là ách và cày (6.1–6.2).
- Lòng hổ thẹn là cán cày, tâm ý là dây buộc, chánh niệm là lưỡi cày và gậy thúc bò (6.3–6.4).
- Giữ gìn thân và lời, ăn uống biết đủ, lấy chân thật làm lưỡi liềm làm cỏ (7.1–7.3).
- Tinh tấn là con bò kéo đưa đến nơi không còn sầu muộn; việc cày ấy có quả bất tử (8.1–9.2).
- Đức Phật không nhận thức ăn có được nhờ đọc kệ (11.1–11.3).
Thuật ngữ Pāli trong kinh
- kassaka
- người nông phu
- kasi
- việc cày ruộng
- saddhā
- niềm tin
- tapo
- khổ luyện, nghĩa gốc là sự thiêu đốt phiền não; chú giải Kinh Tập giải thích ở đây là sự thu thúc các căn
- hirī
- tàm, lòng hổ thẹn với điều xấu
- yogakkhema
- sự an ổn khỏi các ách trói buộc
- amata
- bất tử
- gāthābhigīta
- thức ăn có được nhờ đọc kệ
Kinh Người Cày Ruộng
1Như vầy tôi nghe:
Một thời Thế Tôn trú ở giữa dân chúng Magadha, tại núi Dakkhinàgini, trong một làng Bà-la-môn tên Ekanàlà. Lúc bấy giờ, Bà-la-môn Kasibhàradvàja có khoảng năm trăm lưỡi cày sẵn sàng, vì là thời gieo mạ. Rồi Thế Tôn, vào buổi sáng đắp y, cầm bát đi đến chỗ Bà-la-môn Kasibhàradvàja đang làm việc. Lúc bấy giờ Bà-la-môn Kasibhàradvàja đang phân phát đồ ăn. Rồi Thế Tôn đi đến chỗ phân phát đồ ăn, sau khi đến, Ngài đứng một bên, Bà-la-môn Kasibhàradvàja thấy Thế Tôn đang đứng một bên để khất thực, liền nói với Thế Tôn:
- Này Sa-môn, ta cày và ta gieo, sau khi cày, sau khi gieo, ta ăn. Và Sa-môn, hãy cày và gieo. Sau khi cày và gieo, hãy ăn!Evaṁ me sutaṁ— ekaṁ samayaṁ bhagavā magadhesu viharati dakkhiṇāgirismiṁ ekanāḷāyaṁ brāhmaṇagāme. Tena kho pana samayena kasibhāradvājassa brāhmaṇassa pañcamattāni naṅgalasatāni payuttāni honti vappakāle. Atha kho bhagavā pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā pattacīvaramādāya yena kasibhāradvājassa brāhmaṇassa kammanto tenupasaṅkami. Tena kho pana samayena kasibhāradvājassa brāhmaṇassa parivesanā vattati. Atha kho bhagavā yena parivesanā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā ekamantaṁ aṭṭhāsi.So I have heard. At one time the Buddha was staying in the land of the Magadhans in the Southern Hills near the brahmin village of Ekanāḷa. Now at that time the brahmin Bhāradvāja the Farmer had harnessed around five hundred plows, it being the season for sowing. Then the Buddha robed up in the morning and, taking his bowl and robe, went to where Bhāradvāja the Farmer was working. Now at that time Bhāradvāja the Farmer was distributing food. Then the Buddha went to where the distribution was taking place and stood to one side.
2–3- Này Bà-la-môn, Ta cũng cày và cũng gieo. Sau khi cày và sau khi gieo, Ta ăn.
- Nhưng chúng tôi không thấy cái ách, hay cái cày, hay lưỡi cày, hay gậy thúc trâu bò, hay các con bò đực của Tôn giả Gotama. Vậy mà Tôn giả Gotama nói: "Này Bà-la-môn, Ta có cày và Ta có gieo. Sau khi cày và sau khi gieo, Ta ăn ".
Rồi Bà-la-môn Kasibhàradvàja nói lên với Thế Tôn bài kệ:Addasā kho kasibhāradvājo brāhmaṇo bhagavantaṁ piṇḍāya ṭhitaṁ. Disvāna bhagavantaṁ etadavoca: “ahaṁ kho, samaṇa, kasāmi ca vapāmi ca; kasitvā ca vapitvā ca bhuñjāmi. Tvampi, samaṇa, kasassu ca vapassu ca; kasitvā ca vapitvā ca bhuñjassū”ti. “Ahampi kho, brāhmaṇa, kasāmi ca vapāmi ca; kasitvā ca vapitvā ca bhuñjāmī”ti. “Na kho pana mayaṁ passāma bhoto gotamassa yugaṁ vā naṅgalaṁ vā phālaṁ vā pācanaṁ vā balībadde vā. Atha ca pana bhavaṁ gotamo evamāha: ‘ahampi kho, brāhmaṇa, kasāmi ca vapāmi ca; kasitvā ca vapitvā ca bhuñjāmī’”ti.Bhāradvāja the Farmer saw him standing for alms and said to him, “I plough and sow, ascetic, and then I eat. You too should plough and sow, then you may eat.” “I too plough and sow, brahmin, and then I eat.” “I don’t see the worthy Gotama with a yoke or plow or plowshare or goad or oxen, yet he says: ‘I too plough and sow, brahmin, and then I eat.’”
4–5Bhàradvàja:
Người tự nhận Người cày,
Ta không thấy Người cày,
Hãy trả lời chúng tôi,
Đã hỏi về Người cày,
Chúng tôi muốn rõ biết,
Người cày như thế nào?Atha kho kasibhāradvājo brāhmaṇo bhagavantaṁ gāthāya ajjhabhāsi: “Kassako paṭijānāsi, na ca passāma te kasiṁ; Kasiṁ no pucchito brūhi, yathā jānemu te kasiṁ”.Then Bhāradvāja the Farmer addressed the Buddha in verse: “You claim to be a farmer, but I don’t see you farming. Tell me your farming when asked, so I can recognize your farming.”
6Thế Tôn:
Lòng tin là hột giống,
Khổ hạnh là cơn mưa,
Trí tuệ đối với Ta
Là ách và lưỡi cày,
Xấu hổ là cán cày,
Ý là sợi dây buộc,
Và niệm đối với Ta
Là lưỡi cày, gậy thúc.“Saddhā bījaṁ tapo vuṭṭhi, paññā me yuganaṅgalaṁ; Hirī īsā mano yottaṁ, sati me phālapācanaṁ.“Faith is my seed, fervor my rain, and wisdom is my yoke and plough. Conscience is my draft-pole, mind my strap, mindfulness my plowshare and goad.
7Với thân khéo phòng hộ,
Với lời khéo phòng hộ,
Với món ăn trong bụng,
Biết tiết độ, chế ngự,
Ta tác thành chơn thực,
Để cắt dọn cỏ rác,
Sự giải thoát của Ta
Thật hiền lành nhu thuận.Kāyagutto vacīgutto, āhāre udare yato; Saccaṁ karomi niddānaṁ, soraccaṁ me pamocanaṁ.Guarded in body and speech, I restrict my intake of food. I use truth as my scythe, and gentleness is my release.
8Với tinh cần tinh tấn,
Ta gánh chịu trách nhiệm,
Ta tự mình đem lại
An ổn khỏi khổ ách.
Như vậy, Ta đi tới,
Không trở ngại thối lui,
Chỗ nào Ta đi tới,
Chỗ ấy không sầu muộn.Vīriyaṁ me dhuradhorayhaṁ, yogakkhemādhivāhanaṁ; Gacchati anivattantaṁ, yattha gantvā na socati.Energy is my harnessed beast, transporting me to sanctuary from the yoke. Without turning back, it goes to where there is no sorrow.
9Cày bừa là như vậy,
Được quả là bất tử,
Sau cày bừa như vậy,
Mọi khổ được giải thoát.Evamesā kasī kaṭṭhā, Sā hoti amatapphalā; Etaṁ kasiṁ kasitvāna, Sabbadukkhā pamuccatī”ti.That’s how to do the farming that has freedom from death as its fruit. When you finish this farming you’re released from all suffering.”
10–11Rồi Bà-la-môn Kasibhàradvàja lấy một bát bằng đồng lớn, cho đổ đầy với cháo sữa dâng đức Phật và thưa:
- Thưa Tôn giả Gotama, hãy dùng cháo sữa, Tôn giả là người đi cày! Tôn giả Gotama đi cày quả bất tử!
Thế Tôn:
Ta không hưởng vật dụng,
Do tụng kệ đem lại,
Đây không phải là pháp,
Của bậc có chánh kiến
Chư Phật đều bác bỏ,
Tụng hát các bài kệ,
Khi pháp có hiện hữu,
Truyền thống là như vậy.Atha kho kasibhāradvājo brāhmaṇo mahatiyā kaṁsapātiyā pāyasaṁ vaḍḍhetvā bhagavato upanāmesi: “bhuñjatu bhavaṁ gotamo pāyasaṁ. Kassako bhavaṁ; yañhi bhavaṁ gotamo amatapphalaṁ kasiṁ kasatī”ti. “Gāthābhigītaṁ me abhojaneyyaṁ, Sampassataṁ brāhmaṇa nesa dhammo; Gāthābhigītaṁ panudanti buddhā, Dhamme satī brāhmaṇa vuttiresā.Then Bhāradvāja the Farmer poured milk-rice in a large bronze cup and presented it to the Buddha: “May the worthy Gotama eat the milk-rice! The worthy one is a farmer. For the worthy Gotama does the farming that has freedom from death as its fruit.” “Food enchanted by a verse isn’t fit for me to eat. That’s not the principle of those who see, brahmin. The Buddhas cast aside things enchanted with verses. Since there is such a principle, brahmin, that’s how they live.
12Hỡi này Bà-la-môn,
Người cần phải cúng dường,
Đồ ăn vật uống khác,
Bậc đại sĩ toàn diện,
Đã đoạn các lậu hoặc,
Đã lắng dịu dao động,
Ta chính là thửa ruộng,
Cho những ai cầu phước.Aññena ca kevalinaṁ mahesiṁ, Khīṇāsavaṁ kukkuccavūpasantaṁ; Annena pānena upaṭṭhahassu, Khettaṁ hi taṁ puññapekkhassa hotī”ti.Serve with other food and drink the consummate one, the great seer, with defilements ended and remorse stilled. For he is the field for the seeker of merit.”
13- Vậy, thưa Tôn giả Gotama, con sẽ cho ai cháo sữa này?
- Này Bà-la-môn, Ta không thấy ai ở thế giới, với chư Thiên, chư Ma, chư Phạm thiên, hay trên đời này với quần chúng Sa-môn, Bà-la-môn, với chư Thiên và loài Người, có thể sau khi ăn, tiêu hóa được món cháo sữa này, trừ Như Lai hay đệ tử của Như Lai. Vậy, này Bà-la-môn, Ông hãy đổ cháo sữa này trên chỗ không có cỏ xanh, hay nhận chìm trong nước không có sinh vật.“Atha kassa cāhaṁ, bho gotama, imaṁ pāyasaṁ dammī”ti? “Na khvāhaṁ taṁ, brāhmaṇa, passāmi sadevake loke samārake sabrahmake sassamaṇabrāhmaṇiyā pajāya sadevamanussāya, yassa so pāyaso bhutto sammā pariṇāmaṁ gaccheyya, aññatra tathāgatassa vā tathāgatasāvakassa vā. Tena hi tvaṁ, brāhmaṇa, taṁ pāyasaṁ appaharite vā chaḍḍehi appāṇake vā udake opilāpehī”ti.“Then, worthy Gotama, to whom should I give the milk-rice?” “Brahmin, I don’t see anyone in this world—with its gods, Māras, and divinities, this population with its ascetics and brahmins, its gods and humans—who can properly digest this milk-rice, except the Realized One or one of his disciples. Well then, brahmin, throw out the milk-rice where there is little that grows, or drop it into water that has no living creatures.”
14Rồi Bà-la-môn Kasibhàradvàja đem nhận chìm cháo sữa ấy vào nước không có sinh vật. Cháo sữa ấy khi bị đổ xuống nước, nó sôi lên, sôi lên sùng sục, nó phun khói, nó bốc khói lên. Ví như một lưỡi cày, phơi cả ngày dưới ánh nắng, được đem quăng xuống nước, lưỡi cày ấy sôi lên sùng sục, nó phun khói, nó bốc khói lên. Cũng vậy, cháo sữa ấy, khi bị đổ xuống nước, nó sôi lên, sôi lên sùng sục, nó phun khói, nó bốc khói lên. Rồi Bà-la-môn Kasibhàradvàja hoảng hốt, rợn tóc gáy, đi đến Thế Tôn, sau khi đến, cúi đầu đảnh lễ chân Thế Tôn, và bạch Thế Tôn:Atha kho kasibhāradvājo brāhmaṇo taṁ pāyasaṁ appāṇake udake opilāpesi. Atha kho so pāyaso udake pakkhitto cicciṭāyati ciṭiciṭāyati sandhūpāyati sampadhūpāyati. Seyyathāpi nāma phālo divasaṁ santatto udake pakkhitto cicciṭāyati ciṭiciṭāyati sandhūpāyati sampadhūpāyati; evamevaṁ so pāyaso udake pakkhitto cicciṭāyati ciṭiciṭāyati sandhūpāyati sampadhūpāyati.So Bhāradvāja the Farmer dropped the milk-rice in water that had no living creatures. And when the milk-rice was placed in the water, it sizzled and hissed, steaming and fuming. Suppose there was an iron cauldron that had been heated all day. If you placed it in the water, it would sizzle and hiss, steaming and fuming. In the same way, when the milk-rice was placed in the water, it sizzled and hissed, steaming and fuming.
15- Thật vi diệu thay, thưa Tôn giả Gotama! Thật vi diệu thay, thưa Tôn giả Gotama! Ví như, thưa Tôn giả Gotama, một người dựng đứng lại những gì bị quăng ngã xuống, mở toang ra những gì bị che kín, chỉ đường cho kẻ đi lạc hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối, để những ai có mắt có thể thấy sắc. Cũng vậy, pháp được Tôn giả Gotama dùng nhiều phương tiện trình bày. Con xin qui y Tôn giả Gotama, qui y Pháp, qui y chúng Tỷ-kheo. Mong rằng con được xuất gia với Tôn giả Gotama, được thọ đại giới.Atha kho kasibhāradvājo brāhmaṇo saṁviggo lomahaṭṭhajāto yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavato pādesu sirasā nipatitvā bhagavantaṁ etadavoca: “abhikkantaṁ, bho gotama, abhikkantaṁ, bho gotama. Seyyathāpi, bho gotama, nikkujjitaṁ vā ukkujjeyya, paṭicchannaṁ vā vivareyya, mūḷhassa vā maggaṁ ācikkheyya, andhakāre vā telapajjotaṁ dhāreyya, ‘cakkhumanto rūpāni dakkhantī’ti; evamevaṁ bhotā gotamena anekapariyāyena dhammo pakāsito. Esāhaṁ bhavantaṁ gotamaṁ saraṇaṁ gacchāmi dhammañca bhikkhusaṅghañca, labheyyāhaṁ bhoto gotamassa santike pabbajjaṁ, labheyyaṁ upasampadan”ti.Then Bhāradvāja the Farmer, shocked and awestruck, went up to the Buddha, bowed down with his head to the Buddha’s feet, and said, “Excellent, worthy Gotama! Excellent! As if he were righting the overturned, or revealing the hidden, or pointing out the path to the lost, or lighting a lamp in the dark so people with clear eyes can see what’s there, worthy Gotama has made the teaching clear in many ways. I go for refuge to the worthy Gotama, to the teaching, and to the mendicant Saṅgha. May I receive the going forth, the ordination in the worthy Gotama’s presence?”
16Rồi Bà-la-môn Kasibhàradvàja được xuất gia với Sa-môn Gotama, được thọ đại giới. Thọ đại giới không bao lâu, Tôn giả Bhàradvàja sống một mình, viễn ly, không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần. Không bao lâu, do vì mục đích gì, bậc thiên nam tử chơn chánh xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, vị ấy ngay trong hiện tại, tự mình với thắng trí, chứng ngộ, chứng đạt và an trú cứu cánh Phạm hạnh ấy. Vị ấy thắng tri: "Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa ". Tôn giả Bhàradvàja trở thành một vị A-la-hán.Alattha kho kasibhāradvājo brāhmaṇo bhagavato santike pabbajjaṁ, alattha upasampadaṁ. Acirūpasampanno kho panāyasmā bhāradvājo eko vūpakaṭṭho appamatto ātāpī pahitatto viharanto nacirasseva—yassatthāya kulaputtā sammadeva agārasmā anagāriyaṁ pabbajanti, tadanuttaraṁ—brahmacariyapariyosānaṁ diṭṭheva dhamme sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja vihāsi. “Khīṇā jāti, vusitaṁ brahmacariyaṁ, kataṁ karaṇīyaṁ, nāparaṁ itthattāyā”ti abbhaññāsi. Aññataro ca panāyasmā bhāradvājo arahataṁ ahosīti. Kasibhāradvājasuttaṁ catutthaṁ.And Bhāradvāja the Farmer received the going forth, the ordination in the Buddha’s presence. Not long after his ordination, Venerable Bhāradvāja, living alone, withdrawn, diligent, keen, and resolute, soon realized the supreme culmination of the spiritual path in this very life. He lived having achieved with his own insight the goal for which gentlemen rightly go forth from the lay life to homelessness. He understood: “Rebirth is ended; the spiritual journey has been completed; what had to be done has been done; there is nothing further for this place.” And Venerable Bhāradvāja became one of the perfected.
Viết bởi Chánh Tín
Nguồn trích dẫn
- Kinh Tập 1.4 (Kasibhāradvāja Sutta). Bản Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka, Snp 1.4 trên SuttaCentral.
- Bản tiếng Anh: Bhikkhu Sujato dịch, SuttaCentral, phát hành theo giấy phép CC0.
- Bản tiếng Việt: HT. Thích Minh Châu dịch (Đại Tạng Kinh Việt Nam, Tiểu Bộ Kinh tập I; bản trên BuddhaSasana, budsas.org). Bản dịch tiếng Việt của HT. Thích Minh Châu, trích đăng để phụng sự Pháp thí; nếu chủ sở hữu bản quyền có yêu cầu, xin liên hệ 0902 332 970 để điều chỉnh.