Kinh Phẫn Nộ
Kodha Sutta
Phẫn nộ là pháp được nêu ra để từ bỏ, cùng lời bảo đảm của Đức Phật và một bài kệ sáu dòng.
Trước khi đọc kinh
Tóm lại
- Pháp được nêu để từ bỏ là phẫn nộ; Đức Phật bảo đảm cho các Tỷ-kheo không có tái sanh.
- Kệ: bị phẫn nộ, phẫn uất thì đi ác thú; bậc thiền quán, chánh trí từ bỏ phẫn nộ thì không trở lại đời này.
- Kinh không nói thêm cách dập cơn giận, chỉ nêu pháp cần bỏ và kết quả.
Kinh Phẫn Nộ (Kodha Sutta) là kinh thứ tư trong Chương Một Pháp của Kinh Phật Thuyết Như Vậy (Itivuttaka). Cùng khuôn với kinh Si ngay trước nó, bài này bảo các Tỷ-kheo từ bỏ một pháp, lần này là phẫn nộ, và Đức Phật nói Ngài bảo đảm cho các vị không có tái sanh. Bài kệ cuối nói chúng sanh bị phẫn nộ, phẫn uất thì đi ác thú, còn bậc thiền quán, chánh trí từ bỏ phẫn nộ thì không bao giờ trở lại đời này.
Thuật ngữ Pāli trong kinh
- kodha
- phẫn nộ, giận
- kuddha
- bị cơn giận chi phối
- pajahatha
- hãy từ bỏ
- pāṭibhogo
- người bảo đảm
- anāgāmitā
- trạng thái không trở lại; Minh Châu dịch “không có tái sanh”
- duggati
- đường đi xấu, ác thú
- vipassī
- người quán thấy rõ, bậc thiền quán
Kinh Phẫn Nộ
1Điều này đã được Thế Tôn nói đến, đã được bậc A-la-hán nói đến, và tôi đã được nghe:
Này các Tỷ-kheo, hãy từ bỏ một pháp. Ta bảo đảm cho các Thầy không có tái sanh. Thế nào là một pháp? Phẫn nộ, này các Tỷ-kheo, là một pháp các Thầy hãy từ bỏ. Ta bảo đảm cho các Thầy không có tái sanh.
Thế Tôn đã nói lên ý nghĩa này. Ở đây, điều này được nói đến.Vuttañhetaṁ bhagavatā vuttamarahatāti me sutaṁ: “Ekadhammaṁ, bhikkhave, pajahatha; ahaṁ vo pāṭibhogo anāgāmitāya. Katamaṁ ekadhammaṁ? Kodhaṁ, bhikkhave, ekadhammaṁ pajahatha; ahaṁ vo pāṭibhogo anāgāmitāyā”ti. Etamatthaṁ bhagavā avoca. Tatthetaṁ iti vuccati:This was said by the Buddha, the Perfected One: that is what I heard. “Mendicants, give up one thing and I guarantee you non-return. What one thing? Anger is the one thing. Give it up, and I guarantee you non-return.” The Buddha spoke this matter. On this it is said:
2Với phẫn nộ phẫn uất.
Chúng sanh đi ác thú,
Bậc thiền quán, chánh trí
Từ bỏ phẫn nộ ấy,
Từ bỏ, không bao giờ
Trở lại tại đời này.“Yena kodhena kuddhāse,
sattā gacchanti duggatiṁ;
Taṁ kodhaṁ sammadaññāya,
pajahanti vipassino;
Pahāya na punāyanti,
imaṁ lokaṁ kudācanan”ti.“When overcome by anger beings go to a bad place. Having rightly understood that anger, the discerning give it up. Once they’ve given it up, they never return to this world.”
3Đây là ý nghĩa đã được Thế Tôn nói đến, và tôi đã được nghe.Ayampi attho vutto bhagavatā, iti me sutanti. Catutthaṁ.This too is a matter that was spoken by the Blessed One: that is what I heard.
Giải nghĩa ngắn
Kinh không mô tả cơn giận trông thế nào, chỉ gọi tên nó là pháp cần bỏ.
Ví dụ đời thường để dễ hình dung (không phải lời kinh): khi đang giận, ta thường nói những câu mà lúc bình tĩnh ta không nói, rồi hối. Bài kệ gọi tình trạng ấy là “bị phẫn nộ phẫn uất” và nói nó dẫn chúng sanh đi ác thú.
Phần đối lập trong kệ là “biết rõ” rồi “từ bỏ”: người thấy rõ cơn giận là gì thì buông được nó.
Kinh Phẫn Nộ ngắn, nhưng nói đủ một điều: thấy rõ phẫn nộ và buông nó là con đường không trở lại.
Viết bởi Diệu Hạnh
Nguồn trích dẫn
- Phật Thuyết Như Vậy 4 (Kodha Sutta, Itivuttaka 4). Bản Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka, Iti 4 trên SuttaCentral.
- Bản tiếng Anh: Bhikkhu Sujato dịch, SuttaCentral, phát hành theo giấy phép CC0.
- Bản tiếng Việt: HT. Thích Minh Châu dịch (Tiểu Bộ Kinh, Kinh Phật Thuyết Như Vậy, Chương Một Pháp; bản trên phatphapungdung.com, lấy ngày 24/10/2026). Bản dịch tiếng Việt của HT. Thích Minh Châu, trích đăng để phụng sự Pháp thí; nếu chủ sở hữu bản quyền có yêu cầu, xin liên hệ 0902 332 970 để điều chỉnh.
- Tên kinh tiếng Việt do Hoan Hỉ đặt theo tên Pāli; bản dịch của HT. Thích Minh Châu không đặt tên riêng cho từng kinh trong Phật Thuyết Như Vậy.