Tăng Chi Bộ 7.64 · AN 7.64

Kinh Người Hay Giận

Kodhana Sutta

Còn gọi là: Kinh Sân Hận

Kẻ thù của bạn mong bạn xấu xí, mất ngủ, mất của, mất bạn. Đức Phật nói người hay giận tự làm giúp kẻ thù cả bảy điều ấy, không cần ai ra tay.

Trước khi đọc kinh

Kinh Người Hay Giận (Kodhana Sutta) là bài kinh thứ mười một, bài cuối của phẩm Không Giải Đáp, phần Bảy Pháp của Tăng Chi Bộ. Đức Phật mở đầu bằng một câu khiến người nghe giật mình: có bảy điều khiến kẻ thù hài lòng, như thể làm giúp việc của kẻ thù, xảy đến với người hay giận, dù là nữ hay nam (đoạn 1.1). Kẻ thù mong ta xấu xí, và người bị cơn giận chế ngự, dù tắm rửa sạch sẽ, xoa dầu thơm, mặc áo trắng tinh, vẫn cứ xấu xí (đoạn 1.4–1.8). Kẻ thù mong ta ngủ không yên, và người hay giận, dù nằm trên giường êm nệm ấm, vẫn cứ ngủ không yên (đoạn 2.2–2.6). Kẻ thù mong ta chẳng được nhiều lợi ích, và người hay giận nắm lấy điều có hại lại tưởng là điều có lợi, nắm lấy điều có lợi lại tưởng là điều có hại (đoạn 3.2–3.6).

Bốn điều còn lại cũng rõ ràng như vậy. Của cải làm ra bằng mồ hôi, hợp với Pháp, cũng bị vua sung vào kho, vì người ấy bị cơn giận chế ngự (đoạn 4.5). Danh tiếng có được nhờ sống không phóng dật cũng bị đánh mất (đoạn 5.5). Bạn bè, bà con tránh xa người hay giận (đoạn 6.5). Và vì làm điều ác bằng thân, lời, ý, khi thân hoại mạng chung, người ấy sinh vào cõi khổ (đoạn 7.5–7.7). Phần kệ nói thêm: cơn giận sinh điều bất lợi, làm tâm rối loạn, là hiểm họa sinh ra từ bên trong mà người ta không nhận biết (đoạn 12.1–12.4); điều khó làm mà người giận phá đi như thể dễ dàng, rồi khi cơn giận đã tan, người ấy bị thiêu đốt như bị lửa đốt (đoạn 14.1–14.4). Kệ còn kể những việc nặng nề người giận có thể làm, kể cả giết cha, giết mẹ, giết bậc Bà-la-môn (đoạn 18.1–18.4); theo chú giải Tăng Chi Bộ (Manorathapūraṇī), “Bà-la-môn” ở đây là bậc đã dứt sạch lậu hoặc. Chữ bhūnahacca ở đoạn 22.1 có thể hiểu theo nhiều cách; bản dịch ở đây theo lời giải của chú giải: những việc làm hủy hoại sự hưng thịnh. Lời khuyên sau cùng: hãy cắt đứt cơn giận bằng sự tự chế, bằng trí tuệ, tinh tấn và chánh kiến (đoạn 23.3–23.4).

Điều đáng quý của bài kinh là Đức Phật không dọa nạt. Ngài chỉ cho ta thấy ai thật sự được lợi khi ta nổi giận. Một cuộc cãi nhau trong nhà vào bữa tối có thể khiến bạn trằn trọc đến khuya, sáng hôm sau mặt mày cau có, nói một câu nặng lời với đồng nghiệp, và cứ thế lan ra. Không ai trừng phạt bạn cả; bảy điều ấy tự đến từ chính cơn giận. Lần tới khi thấy nóng mặt, bạn có thể tự hỏi một câu ngắn: “Nếu kẻ ghét mình đang nhìn mình lúc này, họ có vui không?”. Chỉ một câu hỏi ấy cũng đủ cho bạn dừng lại vài hơi thở, và đó là bước đầu của sự tự chế mà bài kệ nói đến.

Ý chính

  • Có bảy điều khiến kẻ thù hài lòng, như thể làm giúp việc của kẻ thù, xảy đến với người hay giận (1.1).
  • Người hay giận dù tắm rửa, trang điểm vẫn xấu xí; dù nằm giường êm vẫn ngủ không yên (1.7–1.8, 2.5–2.6).
  • Người hay giận nắm lấy điều có hại lại tưởng là điều có lợi, đem lại khổ đau lâu dài cho mình (3.5–3.6).
  • Của cải, danh tiếng, bạn bè đều có thể mất vì cơn giận (4.5, 5.5, 6.5).
  • Cơn giận là hiểm họa sinh ra từ bên trong mà người ta không nhận biết (12.3–12.4).
  • Hãy cắt đứt cơn giận bằng sự tự chế, bằng trí tuệ, tinh tấn và chánh kiến (23.3–23.4).
Thuật ngữ Pāli trong kinh
kodhana
người hay giận
bhūnahacca
việc làm hủy hoại sự hưng thịnh, theo lời giải của chú giải Tăng Chi Bộ
sapatta
kẻ thù, đối thủ
sapattakanta
điều khiến kẻ thù hài lòng
kodhābhibhūta
bị cơn giận chế ngự
dummaṅkuya
vẻ mặt sa sầm, cau có; theo chú giải là gương mặt mất vẻ tươi sáng
hirī / ottappa
tàm, lòng hổ thẹn với điều xấu / quý, sự ghê sợ điều xấu
dama
sự tự chế, sự điều phục

Kinh Người Hay Giận

1—Này các Tỷ-kheo, có bảy pháp này được người thù địch ưa thích, tác thành kẻ thù địch đi đến người phẫn nộ, đàn bà hay đàn ông. Thế nào là bảy?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, người thù địch mong muốn kẻ thù địch của mình như sau: “Mong rằng kẻ này trở thành xấu xí!' Vì cớ sao? Này các Tỷ-kheo, người thù địch không hoan hỷ kẻ thù địch của mình có dung sắc. Này các Tỷ-kheo, hạng người nào phẫn nộ, bị phẫn nộ chinh phục, bị phẫn nộ chi phối, dầu cho người ấy khéo tắm rửa, khéo chải chuốt, tóc râu khéo sửa soạn, mặc toàn đồ trắng rồi người ấy cũng trở thành xấu xí, vì bị phẫn nộ chinh phục. Này các Tỷ-kheo, đây là pháp thứ nhất, được người thù địch ưa thích, tác thành kẻ thù địch đi đến người phẫn nộ, đàn bà hoặc đàn ông.
“Sattime, bhikkhave, dhammā sapattakantā sapattakaraṇā kodhanaṁ āgacchanti itthiṁ vā purisaṁ vā. Katame satta? Idha, bhikkhave, sapatto sapattassa evaṁ icchati: ‘aho vatāyaṁ dubbaṇṇo assā’ti. Taṁ kissa hetu? Na, bhikkhave, sapatto sapattassa vaṇṇavatāya nandati. Kodhanoyaṁ, bhikkhave, purisapuggalo kodhābhibhūto kodhapareto, kiñcāpi so hoti sunhāto suvilitto kappitakesamassu odātavatthavasano; atha kho so dubbaṇṇova hoti kodhābhibhūto. Ayaṁ, bhikkhave, paṭhamo dhammo sapattakanto sapattakaraṇo kodhanaṁ āgacchati itthiṁ vā purisaṁ vā.“Mendicants, these seven things that please and assist an enemy happen to an irritable woman or man. What seven? Firstly, an enemy wishes for an enemy: ‘If only they’d become ugly!’ Why is that? Because an enemy doesn’t like to have a beautiful enemy. An irritable individual, overcome and overwhelmed by anger, is ugly, even though they’re nicely bathed and anointed, with hair and beard dressed, and wearing white clothes. This is the first thing that pleases and assists an enemy which happens to an irritable woman or man.

2Lại nữa, này các Tỷ-kheo, người thù địch mong muốn kẻ thù địch của mình như sau: “Mong rằng kẻ này ngủ một cách khổ sở!” Vì cớ sao? Này các Tỷ-kheo, người thù địch không hoan hỷ kẻ thù địch của mình ngủ một cách an lành. Này các Tỷ-kheo, hạng người nào phẫn nộ, bị phẫn nộ chinh phục, bị phẫn nộ chi phối, dầu có nằm trên ghế dài, nệm trải bằng len, chăn len trắng, chăn len thêu, nệm bằng da con sơn dương gọi là kadali, tấm khảm với lọng che phía trên, ghế dài có đầu gối chân màu đỏ. Tuy vậy, họ vẫn ngủ một cách khổ sở, vì bị phẫn nộ chinh phục. Này các Tỷ-kheo, đây là pháp thứ hai, được người thù địch ưa thích, tác thành kẻ thù địch đi đến người phẫn nộ, đàn bà hoặc đàn ông.Puna caparaṁ, bhikkhave, sapatto sapattassa evaṁ icchati: ‘aho vatāyaṁ dukkhaṁ sayeyyā’ti. Taṁ kissa hetu? Na, bhikkhave, sapatto sapattassa sukhaseyyāya nandati. Kodhanoyaṁ, bhikkhave, purisapuggalo kodhābhibhūto kodhapareto, kiñcāpi so pallaṅke seti gonakatthate paṭalikatthate kadalimigapavarapaccattharaṇe sauttaracchade ubhatolohitakūpadhāne; atha kho so dukkhaññeva seti kodhābhibhūto. Ayaṁ, bhikkhave, dutiyo dhammo sapattakanto sapattakaraṇo kodhanaṁ āgacchati itthiṁ vā purisaṁ vā.Furthermore, an enemy wishes for an enemy: ‘If only they’d sleep badly!’ Why is that? Because an enemy doesn’t like to have an enemy who sleeps at ease. An irritable individual, overcome and overwhelmed by anger, sleeps badly, even though they sleep on a couch spread with woolen covers—shag-piled, pure white, or embroidered with flowers—and spread with a fine deer hide, with a canopy above and red pillows at both ends. This is the second thing …

3Lại nữa, này các Tỷ-kheo, người thù địch mong muốn kẻ thù địch của mình như sau: “Mong rằng kẻ này không có lợi ích!” Vì cớ sao? Này các Tỷ-kheo, người thù địch không hoan hỷ kẻ thù địch của mình có được lợi ích. Này các Tỷ-kheo, hạng người nào phẫn nộ, bị phẫn nộ chinh phục, bị phẫn nộ chi phối, thâu hoạch bất lợi, lại nghĩ rằng: “Ta được lợi ích”, thâu hoạch điều bất lợi ích, lại nghĩ rằng: “Ta không được lợi ích”. Những pháp này được nắm giữ khiến người khác trở thành thù địch, đưa đến không hạnh phúc, đau khổ lâu dài, vì bị phẫn nộ chinh phục. Này các Tỷ-kheo, đây là pháp thứ ba, được người thù ưa thích, tác thành kẻ thù địch đi đến người phẫn nộ, đàn bà hoặc đàn ông.Puna caparaṁ, bhikkhave, sapatto sapattassa evaṁ icchati: ‘aho vatāyaṁ na pacurattho assā’ti. Taṁ kissa hetu? Na, bhikkhave, sapatto sapattassa pacuratthatāya nandati. Kodhanoyaṁ, bhikkhave, purisapuggalo kodhābhibhūto kodhapareto, anatthampi gahetvā ‘attho me gahito’ti maññati, atthampi gahetvā ‘anattho me gahito’ti maññati. Tassime dhammā aññamaññaṁ vipaccanīkā gahitā dīgharattaṁ ahitāya dukkhāya saṁvattanti kodhābhibhūtassa. Ayaṁ, bhikkhave, tatiyo dhammo sapattakanto sapattakaraṇo kodhanaṁ āgacchati itthiṁ vā purisaṁ vā.Furthermore, an enemy wishes for an enemy: ‘If only their needs are not amply satisfied!’ Why is that? Because an enemy doesn’t like to have an enemy whose needs are amply satisfied. When an irritable individual, overcome and overwhelmed by anger, gets what they don’t need they think, ‘I’ve got what I need.’ When they get what they need they think, ‘I’ve got what I don’t need.’ When an angry person gets these things that are the exact opposite of what they need, it’s for their lasting harm and suffering. This is the third thing …

4Lại nữa, này các Tỷ-kheo, người thù địch mong muốn kẻ thù địch của mình như sau: “Mong rằng kẻ này không có tài sản!” Vì cớ sao? Này các Tỷ-kheo, người thù địch không hoan hỷ kẻ thù địch của mình có được tài sản. Này các Tỷ-kheo, hạng người nào phẫn nộ, bị phẫn nộ chinh phục, bị phẫn nộ chi phối, những tài sản nào của họ thâu hoạch do sự phấn chấn tinh cần, cất chứa do sức mạnh của cánh tay, chồng chất do những giọt mồ hôi, đúng pháp, thâu hoạch hợp pháp. Các tài sản ấy được nhà vua cho chở về ngân khố nhà vua, vì bị phẫn nộ chinh phục. Này các Tỷ-kheo, đây là pháp thứ tư, được người thù ưa thích, tác thành kẻ thù địch đi đến người phẫn nộ, đàn bà hoặc đàn ông.Puna caparaṁ, bhikkhave, sapatto sapattassa evaṁ icchati: ‘aho vatāyaṁ na bhogavā assā’ti. Taṁ kissa hetu? Na, bhikkhave, sapatto sapattassa bhogavatāya nandati. Kodhanassa, bhikkhave, purisapuggalassa kodhābhibhūtassa kodhaparetassa, yepissa te honti bhogā uṭṭhānavīriyādhigatā bāhābalaparicitā sedāvakkhittā dhammikā dhammaladdhā, tepi rājāno rājakosaṁ pavesenti kodhābhibhūtassa. Ayaṁ, bhikkhave, catuttho dhammo sapattakanto sapattakaraṇo kodhanaṁ āgacchati itthiṁ vā purisaṁ vā.Furthermore, an enemy wishes for an enemy: ‘If only they weren’t wealthy!’ Why is that? Because an enemy doesn’t like to have an enemy who is wealthy. When an individual is irritable, overcome and overwhelmed by anger, the rulers seize the legitimate wealth they’ve earned by their efforts, built up with their own hands, gathered by the sweat of their brow. This is the fourth thing …

5Lại nữa, này các Tỷ-kheo, người thù địch mong muốn kẻ thù địch của mình như sau: “Mong rằng kẻ này không có danh tiếng!” Vì cớ sao? Này các Tỷ-kheo, người thù địch không hoan hỷ kẻ thù địch của mình có được danh tiếng. Này các Tỷ-kheo, hạng người nào phẫn nộ, bị phẫn nộ chinh phục, bị phẫn nộ chi phối, nếu có được danh tiếng gì nhờ không phóng dật thâu hoạch được, danh tiếng ấy lánh xa họ, vì bị phẫn nộ chinh phục. Này các Tỷ-kheo, đây là pháp thứ năm, được người thù ưa thích, tác thành kẻ thù địch đi đến người phẫn nộ, đàn bà hoặc đàn ông.Puna caparaṁ, bhikkhave, sapatto sapattassa evaṁ icchati: ‘aho vatāyaṁ na yasavā assā’ti. Taṁ kissa hetu? Na, bhikkhave, sapatto sapattassa yasavatāya nandati. Kodhanoyaṁ, bhikkhave, purisapuggalo kodhābhibhūto kodhapareto, yopissa so hoti yaso appamādādhigato, tamhāpi dhaṁsati kodhābhibhūto. Ayaṁ, bhikkhave, pañcamo dhammo sapattakanto sapattakaraṇo kodhanaṁ āgacchati itthiṁ vā purisaṁ vā.Furthermore, an enemy wishes for an enemy: ‘If only they weren’t famous!’ Why is that? Because an enemy doesn’t like to have a famous enemy. When an individual is irritable, overcome and overwhelmed by anger, any fame they have acquired by diligence falls to dust. This is the fifth thing …

6Lại nữa, này các Tỷ-kheo, người thù địch mong muốn kẻ thù địch của mình như sau: “Mong rằng kẻ này không có bạn bè!” Vì cớ sao? Này các Tỷ-kheo, người thù địch không hoan hỷ kẻ thù địch của mình có được bạn bè. Này các Tỷ-kheo, hạng người nào phẫn nộ, bị phẫn nộ chinh phục, bị phẫn nộ chi phối, nếu người đó có những bạn bè thân hữu, bà con huyết thống gì, họ sẽ xa lánh, từ bỏ người đó, vì người đó bị phẫn nộ chinh phục. Đây là pháp thứ sáu, được người thù ưa thích, tác thành kẻ thù địch đi đến người phẫn nộ, đàn bà hoặc đàn ông.Puna caparaṁ, bhikkhave, sapatto sapattassa evaṁ icchati: ‘aho vatāyaṁ na mittavā assā’ti. Taṁ kissa hetu? Na, bhikkhave, sapatto sapattassa mittavatāya nandati. Kodhanaṁ, bhikkhave, purisapuggalaṁ kodhābhibhūtaṁ kodhaparetaṁ, yepissa te honti mittāmaccā ñātisālohitā, tepi ārakā parivajjanti kodhābhibhūtaṁ. Ayaṁ, bhikkhave, chaṭṭho dhammo sapattakanto sapattakaraṇo kodhanaṁ āgacchati itthiṁ vā purisaṁ vā.Furthermore, an enemy wishes for an enemy: ‘If only they had no friends!’ Why is that? Because an enemy doesn’t like to have an enemy with friends. When an individual is irritable, overcome and overwhelmed by anger, their friends and colleagues, relatives and kin avoid them from afar. This is the sixth thing …

7Lại nữa, này các Tỷ-kheo, người thù địch mong muốn kẻ thù địch của mình như sau: “Mong rằng kẻ này sau khi thân hoại mạng chung, sẽ sanh trong cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục !” Vì cớ sao? Này các Tỷ-kheo, người thù địch không hoan hỷ kẻ thù địch của mình sau khi thân hoại mạng chung, được sanh lên thiện thú, Thiên giới, cõi đời này! Này các Tỷ-kheo, hạng người nào phẫn nộ, bị phẫn nộ chinh phục, bị phẫn nộ chi phối, người đó làm ác hạnh với thân, người đó nói lời ác hạnh với lời, người đó nghĩ đến điều ác hạnh với ý, khi thân hoại mạng chung, người đó sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Đây là pháp thứ bảy, được người thù ưa thích, tác thành kẻ thù địch đi đến người phẫn nộ, đàn bà hoặc đàn ông.Puna caparaṁ, bhikkhave, sapatto sapattassa evaṁ icchati: ‘aho vatāyaṁ kāyassa bhedā paraṁ maraṇā apāyaṁ duggatiṁ vinipātaṁ nirayaṁ upapajjeyyā’ti. Taṁ kissa hetu? Na, bhikkhave, sapatto sapattassa sugatigamane nandati. Kodhanoyaṁ, bhikkhave, purisapuggalo kodhābhibhūto kodhapareto kāyena duccaritaṁ carati, vācāya duccaritaṁ carati, manasā duccaritaṁ carati. So kāyena duccaritaṁ caritvā vācāya …pe… kāyassa bhedā paraṁ maraṇā apāyaṁ duggatiṁ vinipātaṁ nirayaṁ upapajjati kodhābhibhūto. Ayaṁ, bhikkhave, sattamo dhammo sapattakanto sapattakaraṇo kodhanaṁ āgacchati itthiṁ vā purisaṁ vā.Furthermore, an enemy wishes for an enemy: ‘If only, when their body breaks up, after death, they’re reborn in a place of loss, a bad place, the underworld, hell!’ Why is that? Because an enemy doesn’t like to have an enemy who goes to a good place. When an individual is irritable, overcome and overwhelmed by anger, they do bad things by way of body, speech, and mind. When their body breaks up, after death, they’re reborn in a place of loss, a bad place, the underworld, hell. This is the seventh thing that pleases and assists an enemy which happens to an irritable woman or man.

8Bảy pháp này, này các Tỷ-kheo, được người thù địch ưa thích, tác thành kẻ thù địch đi đến người phẫn nộ, đàn bà hoặc đàn ông.Ime kho, bhikkhave, satta dhammā sapattakantā sapattakaraṇā kodhanaṁ āgacchanti itthiṁ vā purisaṁ vāti.These are the seven things that please and assist an enemy which happen to an irritable woman or man.

9–26Kẻ phẫn nộ xấu xí,
Đau khổ khi nằm ngủ,
Được các điều lợi ích
Lại cảm thấy bất lợi.
Phẫn nộ, nó đả thương,
Với thân với lời nói,
Người phẫn nộ chinh phục,
Tài sản bị tiêu vong.
Bị phẫn nộ điên loạn,
Danh dự bị hủy diệt,
Bà con cùng bạn bè,
Lánh xa người phẫn nộ.
Phẫn nộ sanh bất lợi,
Phẫn nộ dao động tâm,
Sợ hãi sanh từ trong,
Người ấy không rõ biết.
Phẫn nộ không biết lợi,
Phẫn nộ không thấy pháp,
Phẫn nộ chinh phục ai,
Người ấy bị mê ám.
Người phẫn nộ thích thú
Làm ác như làm thiện,
Về sau phẫn nộ dứt,
Bị khổ như lửa đốt,
Như ngọn lửa dầu khói,
Được thấy thất thểu cháy,
Khi phẫn nộ lan tràn,
Khi tuổi trẻ nổi nóng,
Không xấu hổ, sợ hãi,
Lời nói không cung kính.
Bị phẫn nộ chinh phục,
Không hòn đảo tựa nương.
Việc làm đem hối hận,
Rất xa với Chánh pháp.
Ta sẽ tuyên bố họ,
Hãy nghe như tuyên bố,
Phẫn nộ giết cả cha,
Phẫn nộ giết cả mẹ,
Phẫn nộ giết Phạm chí,
Phẫn nộ giết phàm phu.
Chính nhờ mẹ dưỡng dục,
Người thấy được đời này,
Nhưng phàm phu phẫn nộ,
Giết người cho sự sống.
Chúng sanh tự ví dụ,
Thương tự ngã tối thượng,
Phàm phu giết tự ngã,
Điên loạn nhiều hình thức,
Lấy gươm giết tự ngã,
Điên loại uống thuốc độc,
Dây tự trói họ chết,
Trong hang động núi rừng,
Những hành động sát sanh,
Khiến tự ngã phải chết.
Họ làm nhưng không biết,
Kẻ phẫn nộ hại người,
Với hình thức phẫn nộ,
Ma bẫy ẩn trong tâm.
Hãy nhiếp phục cắt đứt,
Với tuệ, tấn, chánh kiến,
Bậc trí tuệ cắt đoạn,
Mỗi mỗi bất thiện pháp
Như vậy học tập pháp,
Không để tâm nản chí,
Ly sân, không áo não,
Ly tham, tật đố không,
Nhiếp phục, đoạn phẫn nộ,
Vô lậu, nhập Niết-bàn.
Kodhano dubbaṇṇo hoti, atho dukkhampi seti so; Atho atthaṁ gahetvāna, anatthaṁ adhipajjati. Tato kāyena vācāya, vadhaṁ katvāna kodhano; Kodhābhibhūto puriso, dhanajāniṁ nigacchati. Kodhasammadasammatto, āyasakyaṁ nigacchati; Ñātimittā suhajjā ca, parivajjanti kodhanaṁ. Anatthajanano kodho, kodho cittappakopano; Bhayamantarato jātaṁ, taṁ jano nāvabujjhati. Kuddho atthaṁ na jānāti, kuddho dhammaṁ na passati; Andhatamaṁ tadā hoti, yaṁ kodho sahate naraṁ. Yaṁ kuddho uparodheti, sukaraṁ viya dukkaraṁ; Pacchā so vigate kodhe, aggidaḍḍhova tappati. Dummaṅkuyaṁ padasseti, dhūmaṁ dhūmīva pāvako; Yato patāyati kodho, yena kujjhanti mānavā. Nāssa hirī na ottappaṁ, na vāco hoti gāravo; Kodhena abhibhūtassa, na dīpaṁ hoti kiñcanaṁ. Tapanīyāni kammāni, yāni dhammehi ārakā; Tāni ārocayissāmi, taṁ suṇātha yathā tathaṁ. Kuddho hi pitaraṁ hanti, hanti kuddho samātaraṁ; Kuddho hi brāhmaṇaṁ hanti, hanti kuddho puthujjanaṁ. Yāya mātu bhato poso, imaṁ lokaṁ avekkhati; Tampi pāṇadadiṁ santiṁ, hanti kuddho puthujjano. Attūpamā hi te sattā, attā hi paramo piyo; Hanti kuddho puthuttānaṁ, nānārūpesu mucchito. Asinā hanti attānaṁ, visaṁ khādanti mucchitā; Rajjuyā bajjha mīyanti, pabbatāmapi kandare. Bhūnahaccāni kammāni, attamāraṇiyāni ca; Karontā nāvabujjhanti, kodhajāto parābhavo. Itāyaṁ kodharūpena, maccupāso guhāsayo; Taṁ damena samucchinde, paññāvīriyena diṭṭhiyā. Yathā metaṁ akusalaṁ, samucchindetha paṇḍito; Tatheva dhamme sikkhetha, mā no dummaṅkuyaṁ ahu. Vītakodhā anāyāsā, Vītalobhā anussukā; Dantā kodhaṁ pahantvāna, Parinibbanti anāsavā”ti. Ekādasamaṁ. Abyākatavaggo chaṭṭho. Tassuddānaṁ Abyākato purisagati, Tissa sīha arakkhiyaṁ; Kimilaṁ satta pacalā, Mettā bhariyā kodhekādasāti.An irritable person is ugly and they sleep badly. When they get what they need, they take it to be what they don’t need. An angry person kills with body or speech; overcome with anger, they lose their wealth. Mad with anger, they fall into disgrace. Family, friends, and loved ones avoid an irritable person. Anger creates harm; anger upsets the mind. That person doesn’t recognize the danger that arises within. An angry person doesn’t know the good. An angry person doesn’t see the truth. When a person is beset by anger, only blind darkness is left. An angry person destroys with ease what was hard to build. Afterwards, when the anger is spent, they’re tormented as if burnt by fire. Their look betrays their sulkiness like a fire’s smoky plume. And when their anger flares up, they make others angry. They have no conscience or prudence, nor any respectful speech. One overcome by anger has no island refuge anywhere. The deeds that torment a man are far from those that are good. I’ll explain them now; listen to this, for it is the truth. An angry person slays their father; their mother, too, they slay. An angry person slays a saint; a normal person, too, they slay. A man is raised by his mother, who shows him the world. But an angry ordinary person slays even that good woman who gave him life. Like oneself, those sentient beings hold themselves most dear. But when angered, they kill themselves in different ways, distraught in many respects. Some kill themselves with swords, some, distraught, take poison. Some hang themselves with rope, or fling themselves down a mountain gorge. When they commit deeds of baby-killing, and killing themselves, they don’t realize what they do, for anger leads to their downfall. The snare of death in the form of anger lies hidden in the heart. You should cut it out by self-control, by wisdom, energy, and right ideas. An astute person should cut out this unskillful thing. And they’d train in the teaching in just the same way, not yielding to sulkiness. Free of anger, free of despair, free of greed, with no more longing, tamed, having given up anger, the undefiled are fully extinguished.”

Viết bởi Diệu Hạnh

Nguồn trích dẫn

  1. Tăng Chi Bộ 7.64 (Kodhana Sutta). Bản Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka, AN 7.64 trên SuttaCentral.
  2. Bản tiếng Anh: Bhikkhu Sujato dịch, SuttaCentral, phát hành theo giấy phép CC0.
  3. Bản tiếng Việt: HT. Thích Minh Châu dịch (bản trên SuttaCentral). Bản dịch tiếng Việt của HT. Thích Minh Châu, trích đăng để phụng sự Pháp thí; nếu chủ sở hữu bản quyền có yêu cầu, xin liên hệ 0902 332 970 để điều chỉnh.

Đọc tiếp