Kinh La-hầu-la
Rāhula Sutta
Còn gọi là: Kinh La Hầu La, Kinh Rāhula, Kinh Tập 2.11
Sống gần một người thầy lâu ngày, ta dễ quen mà xem nhẹ. Đức Phật hỏi con trai mình đúng câu ấy, rồi trao cho Ngài La-hầu-la cả một lộ trình tu tập trong tám bài kệ ngắn.
Trước khi đọc kinh
Kinh La-hầu-la (Rāhula Sutta) là bài kinh thứ mười một trong phẩm Tiểu (Cūḷavagga) của Kinh Tập. Kinh mở đầu bằng một câu hỏi: có phải vì sống gần gũi luôn mà con xem nhẹ bậc hiền trí; người cầm đuốc soi đường cho nhân loại, con có tôn kính vị ấy chăng (kệ 1.1–1.4)? Ngài La-hầu-la (Rāhula) đáp: con không xem nhẹ, con luôn luôn tôn kính (kệ 2.1–2.4). Lời kinh không nói bậc hiền trí ấy là ai. Theo chú giải Kinh Tập (Paramatthajotikā), đó là Ngài Xá-lợi-phất (Sāriputta), và Ngài được gọi là người cầm đuốc vì mang ngọn đèn trí tuệ và ngọn đèn giảng Pháp. Chú giải kể: sau khi thành đạo, Đức Phật về Ca-tỳ-la-vệ (Kapilavatthu); cậu bé La-hầu-la xin cha phần gia tài, và Đức Phật bảo Ngài Xá-lợi-phất cho cậu xuất gia. Khi La-hầu-la đủ tuổi thọ đại giới, chính Ngài Xá-lợi-phất làm thầy tế độ, còn Ngài Mục-kiền-liên (Mahāmoggallāna) làm vị thầy tuyên đọc lời yết-ma.
Vì sao Đức Phật hỏi như vậy? Theo chú giải, Ngài thấy La-hầu-la sinh trong dòng dõi cao quý, nên muốn chú không dựa vào dòng dõi, họ tộc hay dung mạo mà sinh kiêu mạn; vì thế từ khi La-hầu-la còn nhỏ cho đến khi chứng Thánh quả, Ngài thường nhắc lại bài kinh này. Câu cuối kinh cũng ghi đúng như thế: Đức Thế Tôn thường dùng những bài kệ này để khuyên dạy Tôn giả La-hầu-la (đoạn 9.1). Phần còn lại là một lộ trình đi từ ngoài vào trong: đã vì lòng tin rời nhà thì hãy làm cho khổ đau chấm dứt (kệ 3.1–3.4); gần bạn lành, ở nơi vắng, biết vừa đủ trong ăn uống (kệ 4.1–4.4); chớ khao khát y áo, đồ ăn, thuốc men, chỗ ở (kệ 5.1–5.4); thu thúc theo giới bổn và năm căn, có niệm hướng về thân (kệ 6.1–6.4); tránh tướng đẹp khêu gợi tham, tu tập tâm quán bất tịnh (kệ 7.1–7.4); tu tập vô tướng, nhổ bỏ kiêu mạn, rồi sẽ sống an tịnh (kệ 8.1–8.4). Chú giải kể rằng nghe đến lời dạy chớ khao khát bốn món vật dụng, Ngài La-hầu-la tự nguyện giữ các hạnh đầu-đà (dhutaṅga) về y, về đồ ăn và về chỗ ở, và biết đủ với thuốc men có được. Chú giải giải “vô tướng” ở đây là thiền minh sát (vipassanā), và ghi rằng về sau Ngài chứng quả A-la-hán khi nghe Tiểu Kinh Giáo Giới La-hầu-la (MN 147).
Câu hỏi đầu bài kinh chạm đến một điều rất đời thường: người ở gần mình nhất lại dễ bị mình xem nhẹ nhất. Thầy cô dạy mình nhiều năm, cha mẹ, người bạn đời: ta quen với họ đến mức không còn thật sự lắng nghe. Đức Phật không trách, Ngài chỉ hỏi, để người con tự soi lại lòng mình. Bài kinh này nối với hai bài kinh Đức Phật dạy riêng cho Ngài La-hầu-la: Kinh Giáo Giới La-hầu-la ở Ambalaṭṭhikā (MN 61) về không nói dối và tự soi xét việc làm, và Đại Kinh Giáo Giới La-hầu-la (MN 62) về quán thân và quán hơi thở. Lời dạy gần bạn lành ở kệ 4.1 cũng là điều Kinh Thiện Hữu (SN 45.2) gọi là trọn cả đời sống phạm hạnh. Hôm nay, bạn thử lắng nghe trọn vẹn một người thân trong nhà, như thể lần đầu được nghe họ nói.
Ý chính
- Chớ vì sống gần gũi lâu ngày mà xem nhẹ bậc hiền trí, người cầm đuốc soi đường cho nhân loại (1.1–2.4).
- Đã vì lòng tin rời nhà ra đi, hãy làm cho khổ đau chấm dứt (3.1–3.4).
- Gần gũi bạn lành, chọn chỗ ở xa vắng, biết vừa đủ trong ăn uống (4.1–4.4).
- Chớ khao khát y áo, đồ ăn, thuốc men, chỗ ở, để không còn trở lại thế gian (5.1–5.4).
- Thu thúc giới bổn và năm căn, niệm thân, quán bất tịnh cho tâm chuyên nhất (6.1–7.4).
- Tu tập vô tướng, nhổ bỏ tùy miên kiêu mạn, rồi sẽ sống an tịnh (8.1–8.4).
Thuật ngữ Pāli trong kinh
- paṇḍita
- bậc hiền trí; theo chú giải ở đây là Ngài Xá-lợi-phất
- ukkādhāra
- người cầm đuốc soi đường
- kalyāṇamitta
- bạn lành
- pātimokkha
- giới bổn, các học giới căn bản của Tỷ-kheo
- kāyagatā sati
- niệm hướng về thân
- asubha
- bất tịnh: quán các phần không đẹp của thân
- animitta
- vô tướng; theo chú giải ở đây là thiền minh sát
- mānānusaya
- tùy miên kiêu mạn: sự kiêu mạn ngủ ngầm trong tâm
Kinh La-hầu-la
1Thế Tôn:
Thường chung sống người hiền,
Thầy có khinh miệt không?
Người cầm đuốc loài Người,
Được thầy tôn trọng không?“Kacci abhiṇhasaṁvāsā, nāvajānāsi paṇḍitaṁ; Ukkādhāro manussānaṁ, kacci apacito tayā”.“Does familiarity breed contempt, even for the man of wisdom? Do you honor he who holds aloft the torch for all humanity?”
2Ràhula:
Thường chung sống người hiền,
Con không có khinh miệt.
Người cầm đuốc loài Người,
Thường được con tôn trọng.“Nāhaṁ abhiṇhasaṁvāsā, avajānāmi paṇḍitaṁ; Ukkādhāro manussānaṁ, niccaṁ apacito mayā”.“Familiarity breeds no contempt for the man of wisdom. I always honor he who holds aloft the torch for all humanity.”
3Thế Tôn:
Bỏ năm dục trưởng dưỡng,
Khả ái và đẹp ý,
Với lòng tin xuất gia,
Hãy trở thành con người,
Làm chấm dứt khổ đau.“Pañca kāmaguṇe hitvā, piyarūpe manorame; Saddhāya gharā nikkhamma, dukkhassantakaro bhava.“One who’s given up the five sensual stimulations, so pleasing and delightful, and who’s left the home life out of faith— let them make an end to suffering!
4Thân cận với bạn lành,
Sống trú xứ xa vắng,
Viễn ly không ồn ào,
Hãy tiết độ ăn uốngMitte bhajassu kalyāṇe, pantañca sayanāsanaṁ; Vivittaṁ appanigghosaṁ, mattaññū hohi bhojane.Mix with spiritual friends, stay in remote lodgings, secluded and quiet, and eat in moderation.
5Y áo, đồ khất thực,
Vật dụng và sàng tọa,
Chớ có tham ái chúng,
Chớ trở lui đời này.Cīvare piṇḍapāte ca, paccaye sayanāsane; Etesu taṇhaṁ mākāsi, mā lokaṁ punarāgami.Robes, almsfood, requisites and lodgings: don’t crave such things; don’t come back to this world again.
6Chế ngự trong giới bổn,
Phòng hộ trong năm căn,
Hãy tu tập niệm thân,
Sống với nhiều nhàm chán.Saṁvuto pātimokkhasmiṁ, indriyesu ca pañcasu; Sati kāyagatā tyatthu, nibbidābahulo bhava.Be restrained in the monastic code and the five sense faculties. With mindfulness immersed in the body, be full of disillusionment.
7Hãy từ bỏ tịnh tướng,
Hệ lụy với tham ái,
Tu tập tâm bất tịnh,
Nhất tâm, khéo định tĩnh.Nimittaṁ parivajjehi, subhaṁ rāgūpasañhitaṁ; Asubhāya cittaṁ bhāvehi, ekaggaṁ susamāhitaṁ.Turn away from the sign that’s attractive, provoking lust. With mind unified and serene, meditate on the ugly aspects of the body.
8Hãy tu tập vô tướng,
Bỏ đi, mạn tùy miên,
Do nhiếp phục kiêu mạn,
Ngươi sẽ sống an tịnh.Animittañca bhāvehi, Mānānusayamujjaha; Tato mānābhisamayā, Upasanto carissatī”ti.Meditate on the signless, give up the tendency to conceit; and when you comprehend conceit, you will live at peace.”
9Như vậy, Thế Tôn thường giáo giới Tôn giả Ràhula với những bài kệ này.Itthaṁ sudaṁ bhagavā āyasmantaṁ rāhulaṁ imāhi gāthāhi abhiṇhaṁ ovadatīti. Rāhulasuttaṁ ekādasamaṁ.That is how the Buddha regularly advised Venerable Rāhula with these verses.
Viết bởi Diệu Hạnh
Nguồn trích dẫn
- Kinh Tập 2.11 (Rāhula Sutta). Bản Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka, Snp 2.11 trên SuttaCentral.
- Bản tiếng Anh: Bhikkhu Sujato dịch, SuttaCentral, phát hành theo giấy phép CC0.
- Bản tiếng Việt: HT. Thích Minh Châu dịch (Đại Tạng Kinh Việt Nam, Tiểu Bộ Kinh tập I; bản trên BuddhaSasana, budsas.org). Bản dịch tiếng Việt của HT. Thích Minh Châu, trích đăng để phụng sự Pháp thí; nếu chủ sở hữu bản quyền có yêu cầu, xin liên hệ 0902 332 970 để điều chỉnh.