Tương Ưng Bộ 45.2 · SN 45.2

Kinh Thiện Hữu

Upaḍḍha Sutta

Còn gọi là: Kinh Một Nửa, Kinh Bạn Lành

Ngài A-nan thưa rằng có bạn lành là một nửa đời sống phạm hạnh. Đức Phật đáp: chớ nói vậy, có bạn lành là toàn bộ đời sống phạm hạnh.

Trước khi đọc kinh

Kinh Thiện Hữu, còn được gọi là Kinh Một Nửa (Upaḍḍha Sutta), là bài kinh thứ hai của Tương Ưng Đạo trong Tương Ưng Bộ, nhóm kinh nói về Bát chánh đạo. Bài kinh rất ngắn. Khi ấy Đức Thế Tôn đang ở giữa dòng họ Thích-ca (Sakya), tại thị trấn Nagaraka. Ngài A-nan (Ānanda) đến đảnh lễ và nói lên một điều mình đã nghiệm thấy: có bạn lành, có người đồng hành tốt, có người thân cận tốt, điều ấy là một nửa đời sống phạm hạnh (đoạn 1.4).

Đức Phật đáp ngay, lặp lại hai lần: “Chớ nói vậy, này Ānanda!” Có bạn lành là toàn bộ đời sống phạm hạnh (đoạn 2.1–2.2). Vì sao? Vì người có bạn lành có thể chờ đợi một điều chắc chắn: người ấy sẽ tu tập và làm cho sung mãn Bát chánh đạo của bậc Thánh (đoạn 2.3). Mỗi chi phần, từ chánh kiến đến chánh định, được tu tập nương vào viễn ly, nương vào ly tham, nương vào đoạn diệt và hướng đến sự buông bỏ (đoạn 3.2–3.9). Bạn lành (kalyāṇamitta) ở đây không chỉ là người dễ chịu, mà là người giúp mình đi đúng con đường ấy.

Lý do thứ hai còn sâu hơn: chính Đức Phật là người bạn lành. Nhờ nương vào Ngài như một người bạn lành mà chúng sinh vốn phải sinh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não được thoát khỏi những điều ấy (đoạn 4.2). Với người tu tại gia hôm nay, bài kinh là một lời nhắc thiết thực: chọn người để gần, chọn nơi để sinh hoạt, chọn những gì mình đọc và nghe mỗi ngày đều là một phần của con đường tu, chứ không phải chuyện bên lề. Kinh Thi-ca-la-việt (DN 31) cũng dành nhiều lời dạy người tại gia về cách nhận ra người bạn thật lòng.

Ý chính

  • Ngài A-nan nghĩ rằng có bạn lành là một nửa đời sống phạm hạnh (1.4).
  • Đức Phật dạy: có bạn lành là toàn bộ đời sống phạm hạnh (2.2).
  • Người có bạn lành có thể chờ đợi sẽ tu tập Bát chánh đạo của bậc Thánh (2.3).
  • Mỗi chi phần của đạo nương vào viễn ly, ly tham, đoạn diệt và hướng đến buông bỏ (3.2–3.9).
  • Nhờ nương vào Đức Phật như bạn lành, chúng sinh thoát khỏi sinh, già, chết (4.2).
  • Theo hai cách ấy, có thể hiểu vì sao bạn lành là toàn bộ đời sống phạm hạnh (4.1–4.3).
Thuật ngữ Pāli trong kinh
kalyāṇamitta
bạn lành
kalyāṇasahāya
người đồng hành tốt
kalyāṇasampavaṅka
người thân cận tốt
upaḍḍha
một nửa
brahmacariya
đời sống phạm hạnh
viveka
viễn ly, sự tách lìa
vossagga
sự buông bỏ, buông xả
ariya aṭṭhaṅgika magga
Bát chánh đạo của bậc Thánh

Kinh Thiện Hữu

1Một thời, Thế Tôn trú giữa các dân chúng Sakka, tại thị trấn của dân chúng Sakka tên là Sakkara.

Rồi Tôn giả Ānanda đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, Tôn giả Ānanda bạch Thế Tôn:

—Một nửa Phạm hạnh này, bạch Thế Tôn, là thiện bạn hữu (kalyàsamittatà), thiện bạn đãng (kalyànasahàyatà), thiện thân tình (kalyàsam-pavankatà).
Evaṁ me sutaṁ— ekaṁ samayaṁ bhagavā sakyesu viharati nagarakaṁ nāma sakyānaṁ nigamo. Atha kho āyasmā ānando yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho āyasmā ānando bhagavantaṁ etadavoca: “upaḍḍhamidaṁ, bhante, brahmacariyaṁ, yadidaṁ—kalyāṇamittatā kalyāṇasahāyatā kalyāṇasampavaṅkatā”ti.So I have heard. At one time the Buddha was staying in the land of the Sakyans, where they have a town named Townsville. Then Venerable Ānanda went up to the Buddha, bowed, sat down to one side, and said to him: “Sir, good friends, companions, and associates are half the spiritual life.”

2—Chớ có nói vậy, này Ānanda! Chớ có nói vậy, này Ānanda! Toàn bộ Phạm hạnh này, này Ānanda, là thiện bạn hữu, thiện bạn đãng, thiện thân tình. Với Tỷ-kheo thiện bạn hữu, thiện bạn đãng, thiện thân tình, này Ānanda, thời được chờ đợi Thánh đạo Tám ngành được tu tập, Thánh đạo Tám ngành được làm cho viên mãn.“Mā hevaṁ, ānanda, mā hevaṁ, ānanda. Sakalamevidaṁ, ānanda, brahmacariyaṁ, yadidaṁ—kalyāṇamittatā kalyāṇasahāyatā kalyāṇasampavaṅkatā. Kalyāṇamittassetaṁ, ānanda, bhikkhuno pāṭikaṅkhaṁ kalyāṇasahāyassa kalyāṇasampavaṅkassa—ariyaṁ aṭṭhaṅgikaṁ maggaṁ bhāvessati, ariyaṁ aṭṭhaṅgikaṁ maggaṁ bahulīkarissati.“Not so, Ānanda! Not so, Ānanda! Good friends, companions, and associates are the whole of the spiritual life. A mendicant with good friends, companions, and associates can expect to develop and cultivate the noble eightfold path.

3Và này Ānanda, thế nào là Tỷ-kheo thiện bạn hữu, thiện bạn đãng, thiện thân tình, tu tập và làm cho viên mãn Thánh đạo Tám ngành? Ở đây, này Ānanda, Tỷ-kheo tu tập chánh tri kiến liên hệ đến viễn ly, liên hệ đến ly tham, liên hệ đến đoạn diệt, hướng đến từ bỏ. Tỷ-kheo tu tập chánh tư duy … tu tập chánh ngữ … tu tập chánh nghiệp … tu tập chánh mạng … tu tập chánh tinh tấn … tu tập chánh niệm … tu tập chánh định liên hệ đến viễn ly, liên hệ đến ly tham, liên hệ đến đoạn diệt, hướng đến từ bỏ. Như vậy, này Ānanda, là Tỷ-kheo thiện bạn hữu, thiện bạn đãng, thiện thân tình, tu tập Thánh đạo Tám ngành, làm cho sung mãn Thánh đạo Tám ngành.Kathañcānanda, bhikkhu kalyāṇamitto kalyāṇasahāyo kalyāṇasampavaṅko ariyaṁ aṭṭhaṅgikaṁ maggaṁ bhāveti, ariyaṁ aṭṭhaṅgikaṁ maggaṁ bahulīkaroti? Idhānanda, bhikkhu sammādiṭṭhiṁ bhāveti vivekanissitaṁ virāganissitaṁ nirodhanissitaṁ vossaggapariṇāmiṁ; sammāsaṅkappaṁ bhāveti vivekanissitaṁ …pe… sammāvācaṁ bhāveti …pe… sammākammantaṁ bhāveti …pe… sammāājīvaṁ bhāveti …pe… sammāvāyāmaṁ bhāveti …pe… sammāsatiṁ bhāveti …pe… sammāsamādhiṁ bhāveti vivekanissitaṁ virāganissitaṁ nirodhanissitaṁ vossaggapariṇāmiṁ. Evaṁ kho, ānanda, bhikkhu kalyāṇamitto kalyāṇasahāyo kalyāṇasampavaṅko ariyaṁ aṭṭhaṅgikaṁ maggaṁ bhāveti, ariyaṁ aṭṭhaṅgikaṁ maggaṁ bahulīkaroti.And how does a mendicant with good friends develop and cultivate the noble eightfold path? It’s when a mendicant develops right view, which relies on seclusion, fading away, and cessation, and ripens as letting go. They develop right purpose … right speech … right action … right livelihood … right effort … right mindfulness … right immersion, which relies on seclusion, fading away, and cessation, and ripens as letting go. That’s how a mendicant with good friends develops and cultivates the noble eightfold path.

4Này Ānanda, chính với pháp môn này, các Ông cần phải hiểu thế nào toàn bộ Phạm hạnh này là thiện bạn hữu, thiện bạn đãng, thiện thân tình. Do Ta lấy thiện làm bạn hữu, này Ānanda, nên các chúng sanh bị sanh được giải thoát khỏi sanh; các chúng sanh bị già được giải thoát khỏi già; các chúng sanh bị chết được giải thoát khỏi chết; các chúng sanh bị sầu, bi, khổ, ưu, não được giải thoát khỏi sầu, bi, khổ, ưu, não. Chính với pháp môn này, này Ānanda, các Ông cần phải hiểu thế nào toàn bộ Phạm hạnh này là thiện bạn hữu, thiện bạn đãng, thiện thân tình.Tadamināpetaṁ, ānanda, pariyāyena veditabbaṁ yathā sakalamevidaṁ brahmacariyaṁ, yadidaṁ—kalyāṇamittatā kalyāṇasahāyatā kalyāṇasampavaṅkatā. Mamañhi, ānanda, kalyāṇamittaṁ āgamma jātidhammā sattā jātiyā parimuccanti; jarādhammā sattā jarāya parimuccanti; maraṇadhammā sattā maraṇena parimuccanti; sokaparidevadukkhadomanassupāyāsadhammā sattā sokaparidevadukkhadomanassupāyāsehi parimuccanti. Iminā kho etaṁ, ānanda, pariyāyena veditabbaṁ yathā sakalamevidaṁ brahmacariyaṁ, yadidaṁ—kalyāṇamittatā kalyāṇasahāyatā kalyāṇasampavaṅkatā”ti. Dutiyaṁ.And here’s another way to understand how good friends are the whole of the spiritual life. For, by relying on me as a good friend, sentient beings who are liable to rebirth, old age, and death, to sorrow, lamentation, pain, sadness, and distress are freed from all these things. This is another way to understand how good friends are the whole of the spiritual life.”

Viết bởi Diệu Hạnh

Nguồn trích dẫn

  1. Tương Ưng Bộ 45.2 (Upaḍḍha Sutta). Bản Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka, SN 45.2 trên SuttaCentral.
  2. Bản tiếng Anh: Bhikkhu Sujato dịch, SuttaCentral, phát hành theo giấy phép CC0.
  3. Bản tiếng Việt: HT. Thích Minh Châu dịch (bản trên SuttaCentral). Bản dịch tiếng Việt của HT. Thích Minh Châu, trích đăng để phụng sự Pháp thí; nếu chủ sở hữu bản quyền có yêu cầu, xin liên hệ 0902 332 970 để điều chỉnh.

Đọc tiếp