Tăng Chi Bộ 3.66 · AN 3.66

Kinh Sāḷha

Sāḷha Sutta

Còn gọi là: Kinh Salha

Cùng mười lời khuyên như Kinh Kālāma, nhưng lần này do Tôn giả Nandaka nói với Sāḷha và một người bạn, và dẫn họ đi từng bước từ chỗ tự quan sát đến tâm từ và giải thoát.

Trước khi đọc kinh

Kinh Sāḷha (Sāḷha Sutta) thuộc Tăng Chi Bộ, phần Ba Pháp, Đại Phẩm, nằm ngay sau Kinh Kālāma (AN 3.65). Người giảng không phải Đức Phật mà là Tôn giả Nandaka, khi Ngài đang ở Đông Viên, trong ngôi giảng đường của mẹ Migāra, gần thành Xá-vệ (Sāvatthī) (đoạn 1.2). Theo truyền thống, “mẹ của Migāra” là danh xưng của bà Tỳ-xá-khư (Visākhā), người đã dâng cúng ngôi giảng đường ấy. Hai người đến gặp Tôn giả là Sāḷha, cháu của Migāra, và Sāṇa, cháu của Sekhuniya (đoạn 1.3).

Tôn giả mở đầu bằng mười điều quen thuộc của Kinh Kālāma: chớ tin vì nghe truyền miệng, vì truyền thống, vì lời đồn, vì có trong kinh điển, vì lý luận suông, vì suy diễn, vì ngẫm thấy có lý, vì hợp với quan điểm mình đã ưng, vì người nói có vẻ đáng tin, hay vì nghĩ “vị sa-môn này là thầy của ta” (đoạn 2.1). Khi tự mình biết rõ pháp nào là bất thiện, đáng chê, bị người trí quở trách, đem lại bất hạnh và khổ đau, thì hãy từ bỏ (đoạn 2.2). Rồi Ngài hỏi: có tham không? Có. Ngài gọi đó là tham muốn; người tham muốn thì giết hại, trộm cắp, đi lại với vợ người, nói dối, và còn xúi người khác làm như vậy (đoạn 5.1–5.2). Sân là ác ý, si là vô minh, và mỗi thứ đều dẫn đến những việc làm ấy (đoạn 9.1–9.2, 13.1–13.2). Hai người tự mình xác nhận: các pháp ấy là bất thiện, đáng chê, đem lại khổ đau (đoạn 15.1–22.2). Phần sau đi theo chiều ngược lại: không tham, không sân, không si đem lại lợi ích và an vui lâu dài, nên hãy đạt đến và sống với chúng (đoạn 24.3–44.2).

Cả hai bài kinh đều đi đến hình ảnh vị Thánh đệ tử đã lìa tham muốn, lìa ác ý, không si mê, sống trải tâm từ, tâm bi, tâm hỷ, tâm xả cùng khắp mọi phương (đoạn 46.1–46.4), nhưng chỗ kết thì khác. Kinh Kālāma kết bằng bốn sự an ủi ngay trong đời này; còn ở đây, vị ấy thấy rõ “có cái này, có cái thấp kém, có cái cao thượng, và có sự thoát ly” (đoạn 46.6), tâm giải thoát khỏi các lậu hoặc (đoạn 46.7–46.9). Vị ấy nhìn lại: trước kia có tham, đó là bất thiện; nay không còn, đó là thiện (đoạn 47.2). Hiểu đúng bài kinh: lời khuyên “chớ tin” hay được trích như một sự cho phép nghi ngờ mọi thứ. Đặt trong bài kinh này, đó là lời mời tự quan sát tham, sân, si trong chính đời mình, và con đường ấy đi đến tận chỗ giải thoát chứ không dừng ở sự hoài nghi.

Ý chính

  • Chớ tin chỉ vì truyền miệng, truyền thống, kinh điển hay vì vị ấy là thầy mình (2.1).
  • Tự mình biết pháp nào bất thiện, đáng chê, đem lại khổ đau thì hãy từ bỏ (2.2).
  • Người tham muốn, đầy ác ý hay chìm trong vô minh thì sát sinh, trộm cắp, tà dâm, nói dối và xúi người khác làm theo (5.2, 9.2, 13.2).
  • Tự mình biết pháp nào thiện, được người trí khen, đem lại an vui thì hãy sống với chúng (24.3).
  • Thánh đệ tử sống với tâm từ, bi, hỷ, xả lan tỏa khắp mọi phương (46.1–46.4).
  • Trước có tham, sân, si là bất thiện; nay không còn là thiện (47.2–47.4).
Thuật ngữ Pāli trong kinh
anussava
nghe truyền miệng
paramparā
truyền thống, truyền thừa
abhijjhā
tham muốn
byāpāda
ác ý
avijjā
vô minh
viññugarahita
bị người trí quở trách
mettā
tâm từ
nissaraṇa
sự thoát ly

Kinh Sāḷha

1Như vầy tôi nghe.

Một thời Tôn giả Nandaka trú ở Sàvatthi, tại Đông Viên, ở lâu đài mẹ của Migàra.

Rồi Sàlhà, cháu của Migàra, và Rohana, cháu của Pekhuniya đi đến Tôn giả Nandaka; sau khi đến, đảnh lễ Tôn giả Nandaka rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Nandaka nói với Sàlhà, cháu trai của Migàra như sau:
Evaṁ me sutaṁ— ekaṁ samayaṁ āyasmā nandako sāvatthiyaṁ viharati pubbārāme migāramātupāsāde. Atha kho sāḷho ca migāranattā sāṇo ca sekhuniyanattā yenāyasmā nandako tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā āyasmantaṁ nandakaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdiṁsu. Ekamantaṁ nisinnaṁ kho sāḷhaṁ migāranattāraṁ āyasmā nandako etadavoca:So I have heard. Now at that time Venerable Nandaka was staying near Sāvatthī in the stilt longhouse of Migāra’s mother in the Eastern Monastery. Then Sāḷha, Migāra’s grandson, and Rohaṇa, Pekhuṇiya’s grandson went up to Venerable Nandaka, bowed, and sat down to one side. Then Venerable Nandaka said to Sāḷha:

2—Hãy đến, này các Sàlhà Nandaka, chớ có tin vì nghe theo truyền thống; chớ có tin vì nghe theo người ta nói; chớ có tin vì được Kinh Tạng truyền tụng; chớ có tin vì nhân lý luận siêu hình; chớ có tin vì đúng theo một lập trường; chớ có tin vì đánh giá hời hợt những dữ kiện; chớ có tin vì phù hợp với định kiến; chớ có tin vì phát xuất từ nơi có uy quyền, chớ có tin vì vị Sa-môn là bậc đạo sư của mình. Nhưng này các Sàlhà, khi nào tự mình biết như sau: “Các pháp này là bất thiện; các pháp này là có tội; các pháp này bị người trí quở trách; các pháp này nếu được thực hành và chấp nhận, đưa lại bất hạnh và đau khổ”, thời này các Sàlhà, các thầy cần phải từ bỏ chúng.“Etha tumhe, sāḷhā, mā anussavena, mā paramparāya, mā itikirāya, mā piṭakasampadānena, mā takkahetu, mā nayahetu, mā ākāraparivitakkena, mā diṭṭhinijjhānakkhantiyā, mā bhabbarūpatāya, mā samaṇo no garūti. Yadā tumhe, sāḷhā, attanāva jāneyyātha ‘ime dhammā akusalā, ime dhammā sāvajjā, ime dhammā viññugarahitā, ime dhammā samattā samādinnā ahitāya dukkhāya saṁvattantī’ti, atha tumhe, sāḷhā, pajaheyyātha.“Please, Sāḷha and friend, don’t go by oral transmission, don’t go by lineage, don’t go by testament, don’t go by canonical authority, don’t rely on logic, don’t rely on inference, don’t go by reasoned train of thought, don’t go by the acceptance of a view after deliberation, don’t go by the appearance of competence, and don’t think ‘The ascetic is our respected teacher.’ But when you know for yourselves: ‘These things are unskillful, blameworthy, criticized by sensible people, and when you undertake them, they lead to harm and suffering’, then you should give them up.

3Này các Sàlhà, các thầy nghĩ thế nào, có tham hay không?Taṁ kiṁ maññatha, sāḷhā, atthi lobho”ti?What do you think, Sāḷha? Is greed real?”

4—Thưa có, bạch Tôn giả.“Evaṁ, bhante”.“Yes, sir.”

5—Tham, này các Sàlhà, ta nói nghĩa này là vậy. Này các Sàlhà, người có tham này bị tham chinh phục, giết các sinh loại, lấy của không cho, đi đến vợ người, nói láo, khích lệ người khác cùng làm như vậy, như vậy có làm người ấy bất hạnh đau khổ lâu dài hay không?“Abhijjhāti kho ahaṁ, sāḷhā, etamatthaṁ vadāmi. Luddho kho ayaṁ, sāḷhā, abhijjhālu pāṇampi hanati, adinnampi ādiyati, paradārampi gacchati, musāpi bhaṇati, parampi tathattāya samādapeti, yaṁ sa hoti dīgharattaṁ ahitāya dukkhāyā”ti.“‘Covetousness’ is what I mean by this. A person who is greedy and covetous kills living creatures, steals, commits adultery, lies, and encourages others to do the same. Is that for their lasting harm and suffering?”

6—Thưa có, bạch Tôn giả.“Evaṁ, bhante”.“Yes, sir.”

7—Này các Sàlhà, các thầy nghĩ thế nào, có sân hay không?“Taṁ kiṁ maññatha, sāḷhā, atthi doso”ti?“What do you think, Sāḷha? Is hate real?”

8—Thưa có, bạch Tôn giả.“Evaṁ, bhante”.“Yes, sir.”

9—Sân, này các Sàlhà, ta nói nghĩa này là vậy. Này các Sàlhà, người có sân này bị sân chinh phục, giết các sinh loại, lấy của không cho, đi đến vợ người, nói láo, khích lệ người khác cũng làm như vậy, như vậy có làm người ấy bất hạnh đau khổ lâu dài hay không?“Byāpādoti kho ahaṁ, sāḷhā, etamatthaṁ vadāmi. Duṭṭho kho ayaṁ, sāḷhā, byāpannacitto pāṇampi hanati, adinnampi ādiyati, paradārampi gacchati, musāpi bhaṇati, parampi tathattāya samādapeti, yaṁ sa hoti dīgharattaṁ ahitāya dukkhāyā”ti.“‘Malice’ is what I mean by this. A hateful and malicious person kills living creatures, steals, commits adultery, lies, and encourages others to do the same. Is that for their lasting harm and suffering?”

10—Thưa có, bạch Tôn giả.“Evaṁ, bhante”.“Yes, sir.”

11—Này các Sàlhà, các thầy nghĩ thế nào, có si hay không?“Taṁ kiṁ maññatha, sāḷhā, atthi moho”ti?“What do you think, Sāḷha? Is delusion real?”

12—Thưa có, bạch Tôn giả.“Evaṁ, bhante”.“Yes, sir.”

13—Si, này các Sàlhà, ta nói nghĩa này là vậy. Này các Sàlhà, người có si này bị si chinh phục, giết các sinh loại, lấy của không cho, đi đến vợ người, nói láo, khích lệ người khác cũng làm như vậy, như vậy có làm người ấy bất hạnh đau khổ lâu dài hay không?“Avijjāti kho ahaṁ, sāḷhā, etamatthaṁ vadāmi. Mūḷho kho ayaṁ, sāḷhā, avijjāgato pāṇampi hanati, adinnampi ādiyati, paradārampi gacchati, musāpi bhaṇati, parampi tathattāya samādapeti, yaṁ sa hoti dīgharattaṁ ahitāya dukkhāyā”ti.“‘Ignorance’ is what I mean by this. A person who is deluded and ignorant kills living creatures, steals, commits adultery, lies, and encourages others to do the same. Is that for their lasting harm and suffering?”

14—Thưa có, bạch Tôn giả.“Evaṁ, bhante”.“Yes, sir.”

15—Các thầy nghĩ thế nào, này các Sàlhà. Các pháp này là thiện hay bất thiện?“Taṁ kiṁ maññatha, sāḷhā, ime dhammā kusalā vā akusalā vā”ti?“What do you think, Sāḷha, are these things skillful or unskillful?”

16—Là bất thiện, thưa Tôn giả.“Akusalā, bhante”.“Unskillful, sir.”

17—Có tội hay không có tội?“Sāvajjā vā anavajjā vā”ti?“Blameworthy or blameless?”

18—Có tội, thưa Tôn giả.“Sāvajjā, bhante”.“Blameworthy, sir.”

19—Bị người có trí quở trách hay được người có trí tán thán?“Viññugarahitā vā viññuppasatthā vā”ti?“Criticized or praised by sensible people?”

20—Bị người có trí quở trách, thưa Tôn giả.“Viññugarahitā, bhante”.“Criticized by sensible people, sir.”

21—Được thực hiện, được chấp thuận, có đưa lại bất hạnh hay đau khổ không? Hay ở đây là thế nào?“Samattā samādinnā ahitāya dukkhāya saṁvattanti, no vā? Kathaṁ vā ettha hotī”ti?“When you undertake them, do they lead to harm and suffering, or not? Or how do you see this?”

22—Được thực hiện, được chấp thuận, thưa Tôn giả, chúng đưa lại bất hạnh đau khổ. Ở đây, đối với chúng con là như vậy.“Samattā, bhante, samādinnā ahitāya dukkhāya saṁvattantīti. Evaṁ no ettha hotī”ti.“When you undertake them, they lead to harm and suffering. That’s how we see it.”

23—Như vậy, này các Sàlhà, điều ta vừa nói với các thầy, “Chớ có tin vì nghe theo truyền thống; chớ có tin vì nghe theo người ta nói; chớ có tin vì được Kinh Tạng truyền tụng; chớ có tin vì nhân lý luận; chớ có tin vì nhân định lý; chớ có tin, sau khi thẩm lự hay chấp nhận một vài lý thuyết; chớ có tin vì thấy là thích hợp; chớ có tin, sau khi thẩm lự hay chấp nhận một vài lý thuyết, chớ có tin vì thấy là thích hợp; chớ có tin vì vị Sa-môn là bậc đạo sư của mình”. Này các Sàlhà, khi nào tự mình biết như sau: “Các pháp này là bất thiện; các pháp này là có tội; các pháp này bị người có trí quở trách; các pháp này nếu được thực hành và chấp nhận, đưa lại bất hạnh và đau khổ”, thời này các Sàlhà, hãy từ bỏ chúng! Điều này đã được nói lên như vậy, chính là do duyên như vậy được nói lên.“Iti kho, sāḷhā, yaṁ taṁ avocumhā: ‘etha tumhe, sāḷhā, mā anussavena, mā paramparāya, mā itikirāya, mā piṭakasampadānena, mā takkahetu, mā nayahetu, mā ākāraparivitakkena, mā diṭṭhinijjhānakkhantiyā, mā bhabbarūpatāya, mā samaṇo no garūti. Yadā tumhe, sāḷhā, attanāva jāneyyātha— ime dhammā akusalā, ime dhammā sāvajjā, ime dhammā viññugarahitā, ime dhammā samattā samādinnā ahitāya dukkhāya saṁvattantīti, atha tumhe, sāḷhā, pajaheyyāthā’ti, iti yaṁ taṁ vuttaṁ idametaṁ paṭicca vuttaṁ.“So, Sāḷha and friend, when I said: ‘Please, don’t go by oral transmission, don’t go by lineage, don’t go by testament, don’t go by canonical authority, don’t rely on logic, don’t rely on inference, don’t go by reasoned train of thought, don’t go by the acceptance of a view after deliberation, don’t go by the appearance of competence, and don’t think “The ascetic is our respected teacher.” But when you know for yourselves: “These things are unskillful, blameworthy, criticized by sensible people, and when you undertake them, they lead to harm and suffering”, then you should give them up.’ That’s what I said, and this is why I said it.

24Như vậy, này các Sàlhà, chớ có tin vì nghe theo truyền thống; chớ có tin vì nghe theo người ta nói; chớ có tin vì được Kinh Tạng truyền tụng; chớ có tin vì nhân lý luận siêu hình; chớ có tin vì đúng theo một lập trường; chớ có tin vì đánh giá hời hợt những dữ kiện; chớ có tin vì phù hợp với định kiến; chớ có tin vì phát xuất từ nơi có uy quyền, chớ có tin vì vị Sa-môn là bậc đạo sư của mình. Nhưng này các Sàlhà, khi nào tự mình biết như sau: “Các pháp này là thiện; các pháp này là không có tội; các pháp này không bị người có trí quở trách; các pháp này nếu được thực hành và chấp nhận, đưa đến hạnh phúc an lạc”, thời này các Sàlhà, hãy đạt đến và an trú!Etha tumhe, sāḷhā, mā anussavena, mā paramparāya, mā itikirāya, mā piṭakasampadānena, mā takkahetu, mā nayahetu, mā ākāraparivitakkena, mā diṭṭhinijjhānakkhantiyā, mā bhabbarūpatāya, mā samaṇo no garūti. Yadā tumhe, sāḷhā, attanāva jāneyyātha: ‘ime dhammā kusalā, ime dhammā anavajjā, ime dhammā viññuppasatthā, ime dhammā samattā samādinnā hitāya sukhāya saṁvattantī’ti, atha tumhe, sāḷhā, upasampajja vihareyyātha.Please, Sāḷha and friend, don’t go by oral transmission, don’t go by lineage, don’t go by testament, don’t go by canonical authority, don’t rely on logic, don’t rely on inference, don’t go by reasoned train of thought, don’t go by the acceptance of a view after deliberation, don’t go by the appearance of competence, and don’t think ‘The ascetic is our respected teacher.’ But when you know for yourselves: ‘These things are skillful, blameless, praised by sensible people, and when you undertake them, they lead to welfare and happiness’, then you should acquire them and keep them.

25—Các Ông nghĩ như thế nào, này các Sàlhà, không tham khi khởi lên trong nội tâm người nào, khởi lên như vậy là đưa lại bất hạnh hay hạnh phúc lâu dài cho người ấy?Taṁ kiṁ maññatha, sāḷhā, atthi alobho”ti?What do you think? Is contentment real?”

26—Hạnh phúc, thưa Tôn giả.“Evaṁ, bhante”.“Yes, sir.”

27—Người này không tham, này các Sàlhà, không bị tham chinh phục, tâm không bị xâm chiếm, không giết các sinh vật, không lấy của không cho, không đi đến vợ người, không nói láo, khích lệ người khác cũng làm như vậy. Như vậy, có làm cho người ấy được hạnh phúc, an lạc lâu dài hay không?“Anabhijjhāti kho ahaṁ, sāḷhā, etamatthaṁ vadāmi. Aluddho kho ayaṁ, sāḷhā, anabhijjhālu neva pāṇaṁ hanati, na adinnaṁ ādiyati, na paradāraṁ gacchati, na musā bhaṇati, parampi na tathattāya samādapeti, yaṁ sa hoti dīgharattaṁ hitāya sukhāyā”ti.“‘Satisfaction’ is what I mean by this. A person who is content and satisfied doesn’t kill living creatures, steal, commit adultery, lie, or encourage others to do the same. Is that for their lasting welfare and happiness?”

28—Thưa có, bạch Tôn giả.“Evaṁ, bhante”.“Yes, sir.”

29—Các Ông nghĩ như thế nào, này các Sàlhà, không sân khi khởi lên trong nội tâm người nào, khởi lên như vậy là đưa lại bất hạnh hay hạnh phúc lâu dài cho người ấy?“Taṁ kiṁ maññatha, sāḷhā, atthi adoso”ti?“What do you think? Is love real?”

30—Hạnh phúc, thưa Tôn giả.“Evaṁ, bhante”.“Yes, sir.”

31—Người này không sân, này các Sàlhà, không bị sân chinh phục, tâm không bị xâm chiếm, không giết các sinh vật, không lấy của không cho, không đi đến vợ người, không nói láo, không khích lệ người khác cũng làm như vậy. Như vậy, có làm cho người ấy được hạnh phúc, an lạc lâu dài hay không?“Abyāpādoti kho ahaṁ, sāḷhā, etamatthaṁ vadāmi. Aduṭṭho kho ayaṁ, sāḷhā, abyāpannacitto neva pāṇaṁ hanati, na adinnaṁ ādiyati, na paradāraṁ gacchati, na musā bhaṇati, parampi na tathattāya samādapeti, yaṁ sa hoti dīgharattaṁ hitāya sukhāyā”ti.“‘Kindness’ is what I mean by this. A loving and kind-hearted person doesn’t kill living creatures, steal, commit adultery, lie, or encourage others to do the same. Is that for their lasting welfare and happiness?”

32—Thưa có, bạch Tôn giả.“Evaṁ, bhante”.“Yes, sir.”

33—Các Ông nghĩ như thế nào, này các Sàlhà, không si khi khởi lên trong nội tâm người nào, khởi lên như vậy là đưa lại bất hạnh hay hạnh phúc lâu dài cho người ấy?“Taṁ kiṁ maññatha, sāḷhā, atthi amoho”ti?“What do you think, Sāḷha? Is understanding real?”

34—Hạnh phúc, thưa Tôn giả.“Evaṁ, bhante”.“Yes, sir.”

35—Người này không si, này các Sàlhà, không bị si chinh phục, tâm không bị xâm chiếm, không giết các sinh vật, không lấy của không cho, không đi đến vợ người, không nói láo, khích lệ người khác cũng làm như vậy. Như vậy, có làm cho người ấy được hạnh phúc, an lạc lâu dài hay không?“Vijjāti kho ahaṁ, sāḷhā, etamatthaṁ vadāmi. Amūḷho kho ayaṁ, sāḷhā, vijjāgato neva pāṇaṁ hanati, na adinnaṁ ādiyati, na paradāraṁ gacchati, na musā bhaṇati, parampi na tathattāya samādapeti, yaṁ sa hoti dīgharattaṁ hitāya sukhāyā”ti.“‘Knowledge’ is what I mean by this. A person who understands and knows doesn’t kill living creatures, steal, commit adultery, lie, or encourage others to do the same. Is that for their lasting welfare and happiness?”

36—Thưa có, bạch Tôn giả.“Evaṁ, bhante”.“Yes, sir.”

37—Các ông nghĩ thế nào, này các Sàlhà. Các pháp này là thiện hay bất thiện?“Taṁ kiṁ maññatha, sāḷhā, ime dhammā kusalā vā akusalā vā”ti?“What do you think, Sāḷha, are these things skillful or unskillful?”

38—Là thiện, bạch Tôn giả.“Kusalā, bhante”.“Skillful, sir.”

39—Các Pháp này là tội hay không có tội?“Sāvajjā vā anavajjā vā”ti?“Blameworthy or blameless?”

40—Không có tội, bạch Tôn giả.“Anavajjā, bhante”.“Blameless, sir.”

41—Bị người trí quở trách hay được người trí tán thán?“Viññugarahitā vā viññuppasatthā vā”ti?“Criticized or praised by sensible people?”

42—Được người trí tán thán, bạch Tôn giả.“Viññuppasatthā, bhante”.“Praised by sensible people, sir.”

43—Nếu được thực hiện, được chấp thuận, có đem đến hạnh phúc an lạc không? Hay ở đây là như thế nào?“Samattā samādinnā hitāya sukhāya saṁvattanti, no vā? Kathaṁ vā ettha hotī”ti?“When you undertake them, do they lead to welfare and happiness, or not? Or how do you see this?”

44—Được thực hiện, được chấp thuận, bạch Tôn giả, chúng đưa đến hạnh phúc an lạc. Ở đây, đối với chúng con là như vậy.“Samattā, bhante, samādinnā hitāya sukhāya saṁvattantīti. Evaṁ no ettha hotī”ti.“When you undertake them, they lead to welfare and happiness. That’s how we see it.”

45—Như vậy, này các Sàlhà, điều ta vừa nói với các thầy, “Chớ có tin vì theo truyền thống; chớ có tin vì nghe người ta nói, chớ có tin vì được Kinh Tạng truyền tụng; chớ có tin vì nhân lý luận siêu hình, chớ có tin vì đúng theo một lập trường; chớ có tin vì đánh giá hời hợt những dữ kiện; chớ có tin vì phù hợp với định kiến; chớ có tin vì phát xuất từ nơi có uy quyền; chớ có tin vì vị Sa-môn là bậc đạo sư của mình”. Nhưng này các Sàlhà, khi nào tự mình biết như sau: “Các pháp này là thiện; các pháp này không có tội; các pháp này được các người trí tán thán; các pháp này nếu được thực hiện, được chấp nhận, đưa lại hạnh phúc an lạc”, thời này các Sàlhà, hãy chứng đạt và an trú! Điều đã được nói lên như vậy, chính là do duyên như vậy được nói lên.“Iti kho, sāḷhā, yaṁ taṁ avocumhā: ‘etha tumhe, sāḷhā, mā anussavena, mā paramparāya, mā itikirāya, mā piṭakasampadānena, mā takkahetu, mā nayahetu, mā ākāraparivitakkena, mā diṭṭhinijjhānakkhantiyā, mā bhabbarūpatāya, mā samaṇo no garūti. Yadā tumhe, sāḷhā, attanāva jāneyyātha— ime dhammā kusalā, ime dhammā anavajjā, ime dhammā viññuppasatthā, ime dhammā samattā samādinnā dīgharattaṁ hitāya sukhāya saṁvattantīti, atha tumhe, sāḷhā, upasampajja vihareyyāthā’ti, iti yaṁ taṁ vuttaṁ idametaṁ paṭicca vuttaṁ.“So, Sāḷha and friend, when I said: ‘Please, don’t go by oral transmission, don’t go by lineage, don’t go by testament, don’t go by canonical authority, don’t rely on logic, don’t rely on inference, don’t go by reasoned train of thought, don’t go by the acceptance of a view after deliberation, don’t go by the appearance of competence, and don’t think “The ascetic is our respected teacher.” But when you know for yourselves: “These things are skillful, blameless, praised by sensible people, and when you undertake them, they lead to welfare and happiness”, then you should acquire them and keep them.’ That’s what I said, and this is why I said it.

46—Này các Sàlhà, vị Thánh đệ tử nào ly tham, ly sân, ly si như vậy, tỉnh giác, chánh niệm, với tâm câu hữu với Từ … với tâm câu hữu với Bi … với tâm câu hữu với Hỷ … với tâm câu hữu với Xả, biến mãn một phương, cũng vậy phương thứ hai, cũng vậy phương thứ ba; cũng vậy phương thứ tư. Như vậy, cùng khắp thế giới, trên, dưới, bề ngang, hết thảy phương xứ, cùng khắp vô biên giới, vị ấy an trú biến mãn với tâm câu hữu với xả, quảng đại, đại hành, vô biên, không hận, không sân. Vị ấy rõ biết như sau: “Có trạng thái này, có trạng thái liệt, có trạng thái thù thắng, có xuất ly ra khỏi tưởng giới này.” Do vị ấy biết như vậy, thấy như vậy, tâm được giải thoát khỏi dục lậu, tâm được giải thoát khỏi vô minh lậu. Trong sự giải thoát, trí khởi lên: “Ta đã được giải thoát”. Vị ấy rõ biết: “Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, các việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa”.Sa kho so, sāḷhā, ariyasāvako evaṁ vigatābhijjho vigatabyāpādo asammūḷho sampajāno patissato mettāsahagatena cetasā …pe… karuṇā … muditā … upekkhāsahagatena cetasā ekaṁ disaṁ pharitvā viharati, tathā dutiyaṁ, tathā tatiyaṁ, tathā catutthaṁ, iti uddhamadho tiriyaṁ sabbadhi sabbattatāya sabbāvantaṁ lokaṁ upekkhāsahagatena cetasā vipulena mahaggatena appamāṇena averena abyāpajjhena pharitvā viharati. So evaṁ pajānāti: ‘atthi idaṁ, atthi hīnaṁ, atthi paṇītaṁ, atthi imassa saññāgatassa uttari nissaraṇan’ti. Tassa evaṁ jānato evaṁ passato kāmāsavāpi cittaṁ vimuccati, bhavāsavāpi cittaṁ vimuccati, avijjāsavāpi cittaṁ vimuccati; vimuttasmiṁ vimuttamiti ñāṇaṁ hoti. ‘Khīṇā jāti, vusitaṁ brahmacariyaṁ, kataṁ karaṇīyaṁ, nāparaṁ itthattāyā’ti pajānāti.Then that noble disciple is rid of desire, rid of ill will, unconfused, aware, and mindful. They meditate spreading a heart full of love … compassion … rejoicing … equanimity to one direction, and to the second, and to the third, and to the fourth. In the same way above, below, across, everywhere, all around, they spread a heart full of equanimity to the whole world—abundant, expansive, limitless, free of enmity and ill will. They understand: ‘There is this, there is what is worse than this, there is what is better than this, and there is an escape beyond the scope of perception.’ Knowing and seeing like this, their mind is freed from the defilements of sensuality, desire to be reborn, and ignorance. When they’re freed, they know they’re freed. They understand: ‘Rebirth is ended, the spiritual journey has been completed, what had to be done has been done, there is nothing further for this place.’

47Vị ấy rõ biết như sau: “Trước ta có tham, tham ấy là bất thiện. Nay ta không có nữa. Như vầy là thiện. Trước ta có sân, sân ấy là bất thiện. Nay ta không có nữa. Như vầy là thiện. Trước ta có si, si ấy là bất thiện. Nay ta không có nữa. Như vậy là thiện”. Như vậy, ngay trong đời sống hiện tại, vị ấy được giải thoát khỏi hy cầu, được tịch tịnh, được thanh lương, cảm thấy an lạc, tự mình an trú trong Phạm tánh.So evaṁ pajānāti: ‘ahu pubbe lobho, tadahu akusalaṁ, so etarahi natthi, iccetaṁ kusalaṁ; ahu pubbe doso …pe… ahu pubbe moho, tadahu akusalaṁ, so etarahi natthi, iccetaṁ kusalan’ti. So diṭṭheva dhamme nicchāto nibbuto sītibhūto sukhappaṭisaṁvedī brahmabhūtena attanā viharatī”ti. Chaṭṭhaṁ.They understand: ‘Formerly there was greed, which was unskillful. Now there is none, so that’s skillful. Formerly there was hate, which was unskillful. Now there is none, so that’s skillful. Formerly there was delusion, which was unskillful. Now there is none, so that’s skillful.’ So they live without wishes in this very life, quenched, cooled, experiencing bliss, with self become divine.”

Viết bởi Chánh Tín

Nguồn trích dẫn

  1. Tăng Chi Bộ 3.66 (Sāḷha Sutta). Bản Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka, AN 3.66 trên SuttaCentral.
  2. Bản tiếng Anh: Bhikkhu Sujato dịch, SuttaCentral, phát hành theo giấy phép CC0.
  3. Bản tiếng Việt: HT. Thích Minh Châu dịch (bản trên SuttaCentral). Bản dịch tiếng Việt của HT. Thích Minh Châu, trích đăng để phụng sự Pháp thí; nếu chủ sở hữu bản quyền có yêu cầu, xin liên hệ 0902 332 970 để điều chỉnh.

Đọc tiếp