Kinh Sāriputta
Sāriputtasutta
Kinh Sāriputta, AN 3.33, dạy một pháp học tập ngắn gọn: buông ngã kiến, ngã sở kiến và ngã mạn tùy miên trong thân có thức và mọi tướng bên ngoài, để chứng đạt tâm giải thoát và tuệ giải thoát.
Trước khi đọc kinh
Tóm lại
- Đức Phật có thể thuyết pháp tóm lược, rộng rãi, hoặc cả tóm lược và rộng rãi.
- Pháp học tập là buông ngã kiến, ngã sở kiến và ngã mạn tùy miên trong thân có thức và mọi tướng bên ngoài.
- Người chứng đạt và an trú như vậy được gọi là đã chặt đứt khát ái, cởi mở kiết sử và đoạn tận khổ đau.
Kinh Sāriputta, ký hiệu AN 3.33, thuộc bộ kinh Tăng Chi, chương ba. Bài kinh ghi lại cuộc đối thoại ngắn giữa Đức Phật và Tôn giả Sāriputta.
Mở đầu, Đức Phật nói Ngài có thể thuyết pháp tóm lược, rộng rãi, hoặc cả tóm lược và rộng rãi, nhưng người hiểu được thật khó tìm. Tôn giả Sāriputta thưa rằng đã đến thời để thuyết pháp, vì sẽ có người hiểu rõ Chánh pháp. Đức Phật liền dạy một pháp học tập, rồi nhắc lại bài kệ trong kinh Những câu hỏi của Udaya, thuộc chương Pārāyana (Đường đến bờ kia). Bài kệ cuối nhắc đến việc đoạn tận dục tham, sân hận, hôn trầm và trạo hối, cùng xả niệm thanh tịnh, trí giải thoát và sự phá tận vô minh. Cấu trúc bài kinh vì vậy đi từ lời mở đầu đến pháp học tập rồi kết bằng bài kệ.
Thuật ngữ Pāli trong kinh
- dhamma
- Pháp
- kāya
- thân
- taṇhā
- khát ái
- saṁyojana
- kiết sử, sự trói buộc
- dukkha
- khổ đau
- cetovimutti
- tâm giải thoát
- paññāvimutti
- tuệ giải thoát
- avijjā
- vô minh
- ahaṅkāra
- ngã kiến (giải nghĩa của người viết)
- mamaṅkāra
- ngã sở kiến (giải nghĩa của người viết)
- mānānusaya
- ngã mạn tùy miên (giải nghĩa của người viết)
Kinh Sāriputta
1.1—Rồi Tôn giả Sàriputta đi đến Thế Tôn; sau khi đến đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Thế Tôn nói với Tôn giả Sàriputta đang ngồi xuống một bên:Atha kho āyasmā sāriputto yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinnaṁ kho āyasmantaṁ sāriputtaṁ bhagavā etadavoca:Then Venerable Sāriputta went up to the Buddha, bowed, and sat down to one side. The Buddha said to him,
1.2–1.5—Này Sàriputta, Ta có thể thuyết pháp một cách tóm lược. Này, Sàriputta, ta có thể thuyết pháp một cách rộng rãi. Này Sàriputta, ta có thể thuyết pháp một cách tóm lược và rộng rãi. Và những người hiểu được thật là khó tìm!“saṅkhittenapi kho ahaṁ, sāriputta, dhammaṁ deseyyaṁ; vitthārenapi kho ahaṁ, sāriputta, dhammaṁ deseyyaṁ; saṅkhittavitthārenapi kho ahaṁ, sāriputta, dhammaṁ deseyyaṁ; aññātāro ca dullabhā”ti.“Maybe I’ll teach Dhamma in brief, maybe in detail, maybe both in brief and in detail. But it’s hard to find anyone who understands.”
1.6–1.8—Nay đã đến thời, bạch Thế Tôn, nay đã đến thời, bạch Thế Tôn, để Thế Tôn thuyết pháp một cách tóm lược, thuyết pháp một cách rộng rãi, và thuyết pháp một cách tóm lược và rộng rãi. Sẽ có những người có thể hiểu rõ Chánh pháp.“Etassa, bhagavā, kālo, etassa, sugata, kālo yaṁ bhagavā saṅkhittenapi dhammaṁ deseyya, vitthārenapi dhammaṁ deseyya, saṅkhittavitthārenapi dhammaṁ deseyya. Bhavissanti dhammassa aññātāro”ti.“Now is the time, Blessed One! Now is the time, Holy One! Let the Buddha teach Dhamma in brief, in detail, and both in brief and in detail. There will be those who understand the teaching!”
2.1–3.3—Vậy này Sàriputta, hãy học tập như sau: “Trong cái thân có thức này, sẽ không có ngã kiến, ngã sở kiến, ngã mạn tùy miên; đối với tất cả tướng ở ngoài, sẽ không có ngã kiến, ngã sở kiến, ngã mạn tùy miên; và do chứng đạt và an trú tâm giải thoát, tuệ giải thoát, không có ngã kiến, ngã sở kiến, ngã mạn tùy miên, chúng tôi sẽ chứng đạt và an trú tâm giải thoát, tuệ giải thoát ấy!”. Như vậy, này Sàriputta, các Ông cần phải học tập. Khi nào Tỷ-kheo đối với thân có thức này, không có ngã kiến, ngã sở kiến, ngã mạn tùy miên; đối với tất cả các tướng ở ngoài, không có ngã kiến, ngã sở kiến, ngã mạn tùy miên; và do chứng đạt và an trú tâm giải thoát, tuệ giải thoát, không có ngã kiến, ngã sở kiến, ngã mạn tùy miên; vị ấy chứng đạt và an trú tâm giải thoát, tuệ giải thoát ấy. Người như vậy, này Sàriputta, được gọi là Tỷ-kheo đã chặt đứt khát ái, đã cởi mở kiết sử, với chơn chánh hiện quán kiêu mạn, đã đoạn tận khổ đau.“Tasmātiha, sāriputta, evaṁ sikkhitabbaṁ: ‘imasmiñca saviññāṇake kāye ahaṅkāramamaṅkāramānānusayā na bhavissanti, bahiddhā ca sabbanimittesu ahaṅkāramamaṅkāramānānusayā na bhavissanti, yañca cetovimuttiṁ paññāvimuttiṁ upasampajja viharato ahaṅkāramamaṅkāramānānusayā na honti tañca cetovimuttiṁ paññāvimuttiṁ upasampajja viharissāmā’ti. Evañhi kho, sāriputta, sikkhitabbaṁ. Yato ca kho, sāriputta, bhikkhuno imasmiñca saviññāṇake kāye ahaṅkāramamaṅkāramānānusayā na honti, bahiddhā ca sabbanimittesu ahaṅkāramamaṅkāramānānusayā na honti, yañca cetovimuttiṁ paññāvimuttiṁ upasampajja viharato ahaṅkāramamaṅkāramānānusayā na honti tañca cetovimuttiṁ paññāvimuttiṁ upasampajja viharati; ayaṁ vuccati, sāriputta: ‘bhikkhu acchecchi taṇhaṁ, vivattayi saṁyojanaṁ, sammā mānābhisamayā antamakāsi dukkhassa’.“So, Sāriputta, you should train like this: ‘There’ll be no I-making, mine-making, or underlying tendency to conceit for this conscious body; and no I-making, mine-making, or underlying tendency to conceit externally for all signs; and we’ll live having achieved the freedom of heart and freedom by wisdom where I-making, mine-making, and the underlying tendency to conceit are no more.’ That’s how you should train. When a mendicant has no I-making, mine-making, or underlying tendency to conceit for this conscious body; and no I-making, mine-making, or underlying tendency to conceit externally for all signs; and they live having attained the freedom of heart and freedom by wisdom where I-making, mine-making, and the underlying tendency to conceit are no more— they’re called a mendicant who has cut off craving, cast off the fetters, and by rightly comprehending conceit has made an end of suffering.
3.4—Lại nữa, này Sàriputta, liên hệ đến vấn đề này, ta đã nói như sau trong kinh tên là “Những câu hỏi của Udaya” trong chương Pàràyana.Idañca pana metaṁ, sāriputta, sandhāya bhāsitaṁ pārāyane udayapañhe:And Sāriputta, this is what I was referring to in ‘The Way to the Far Shore’, in ‘The Questions of Udaya’ when I said:
4.1–5.5Đoạn tận cả hai pháp
Dục tham và sân hận
Và từ bỏ hôn trầm
Chận đứng mọi trạo hối
Với xả niệm thanh tịnh
Chạy trước pháp tư duy?
Ta nói trí giải thoát
Vô minh được phá tận.
Bộ kinh nầy được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch từ tạng Pali sang Việt ngữ năm 1976–1977, và được Viện Phật Học Vạn Hạnh, Sài Gòn, ấn hành năm 1980–1981. Trong chương trình phiên dịch và ấn hành Đại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được hiệu đính thành 4 tập và tái bản năm 1996, qua số thứ tự 21, 22, 23, và 24.
These texts have been used with the kind permission of the webmaster of http://www.budsas.net/
Prepared for SuttaCentral by Ayya Vimala.‘Pahānaṁ kāmasaññānaṁ, domanassāna cūbhayaṁ; Thinassa ca panūdanaṁ, kukkuccānaṁ nivāraṇaṁ. Upekkhāsatisaṁsuddhaṁ, dhammatakkapurejavaṁ; Aññāvimokkhaṁ pabrūmi, avijjāya pabhedanan’”ti. Tatiyaṁ.‘The giving up of both sensual desires and displeasures, the casting aside of dullness, and the prevention of remorse; pure equanimity and mindfulness, preceded by investigation of principles— this, I declare, is liberation by enlightenment, the smashing of ignorance.’”
Giải nghĩa ngắn
Pháp học tập trong bài kinh nhắm thẳng vào ba thứ cần buông: ngã kiến, ngã sở kiến và ngã mạn tùy miên. Theo cách đọc của người viết, không phải câu trong kinh, việc xét ba thứ ấy ở cả thân có thức và mọi tướng bên ngoài cho thấy không chừa lại chỗ nào cho cái thấy về một cái ta cố định bám vào.
Kinh dạy học tập để chứng đạt và an trú tâm giải thoát, tuệ giải thoát, nơi không còn ngã kiến, ngã sở kiến và ngã mạn tùy miên. Kinh gọi người như vậy là đã chặt đứt khát ái, đã cởi mở kiết sử, đã hiện quán kiêu mạn một cách chơn chánh và đã đoạn tận khổ đau.
Ví dụ của người viết, không phải chuyện trong kinh: một người bị đồng nghiệp chê bai trong cuộc họp, lúc đầu cảm thấy bị xúc phạm và muốn đáp trả ngay. Người ấy dừng lại một nhịp, nhận ra cơn giận đang bám vào cảm giác về một cái ta bị coi thường, rồi chọn trả lời công việc một cách bình tĩnh thay vì tranh cãi về danh dự (không phải lời kinh).
Theo cách đọc của người viết, không phải câu trong kinh, bài kệ cuối tóm lại pháp học tập bằng hình ảnh đoạn tận: dục tham và sân hận được đoạn tận cả hai, hôn trầm được từ bỏ, trạo hối được chận đứng, và trí giải thoát đi cùng xả niệm thanh tịnh sẽ phá tận vô minh. Người đọc có thể dùng bài kệ này như một tấm gương soi lại thực hành của bản thân mỗi khi tâm bị cuốn theo tham hay sân.
Buông ngã kiến, ngã sở kiến và ngã mạn tùy miên trong thân và ngoài thân, người thực hành đi đến tâm giải thoát, tuệ giải thoát và đoạn tận khổ đau.
Viết bởi Diệu Hạnh
Nguồn trích dẫn
- Tăng Chi Bộ 3.33 (Sāriputtasutta). Bản Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka, AN 3.33 trên SuttaCentral.
- Bản tiếng Anh: Bhikkhu Sujato dịch, SuttaCentral, phát hành theo giấy phép CC0.
- Bản tiếng Việt: HT. Thích Minh Châu dịch (bản trên SuttaCentral). Bản dịch tiếng Việt của HT. Thích Minh Châu, trích đăng để phụng sự Pháp thí; nếu chủ sở hữu bản quyền có yêu cầu, xin liên hệ 0902 332 970 để điều chỉnh.