Ngài Xá-lợi-phất là ai: vị đệ tử trí tuệ bậc nhất
Trong Tăng đoàn thời Đức Phật, có một vị Tỷ-kheo mà chính Đức Thế Tôn khuyên các đệ tử nên gần gũi, và khi vị ấy mất, Ngài so sánh với cành lớn nhất của một cây đại thụ gãy xuống. Đó là Ngài Xá-lợi-phất.
Bốn câu kệ đổi một đời người
Luật tạng, phần Đại Phẩm, kể rằng có hai người bạn thân là Upatissa và Kolita, cùng theo học với du sĩ Sañcaya ở Vương Xá (Rājagaha). Hai người hẹn nhau: ai đạt đến bất tử trước thì báo cho người kia biết (Đại Phẩm, đoạn 23.1.3–23.1.4). Một buổi sáng, Upatissa thấy Tôn giả Assaji đi khất thực với dáng điệu trang nghiêm, liền đi theo và hỏi thầy của Tôn giả dạy gì. Tôn giả nói mình mới xuất gia, chỉ nói được ý chính:
“Các pháp nào có nguồn sanh khởi do nhân, đức Như Lai đã nói về nhân của chúng và về sự diệt tắt của chúng, bậc Đại Sa-môn đã có lời dạy như thế.”
Luật tạng, Đại Phẩm, đoạn 23.5.2–23.5.5
Nghe xong, pháp nhãn khởi lên nơi Upatissa: “Phàm cái gì có bản chất sinh khởi, tất cả đều có bản chất đoạn diệt” (đoạn 23.5.7). Kolita nghe bạn kể lại cũng thấy Pháp. Khi hai người đến Trúc Lâm, Đức Phật nhìn từ xa và nói: “Hai người bạn Kolita và Upatissa đang đến. Họ sẽ là đôi đệ tử hàng đầu, một đôi hiền thiện của Ta” (đoạn 24.3.4–24.3.5). Upatissa chính là Ngài Xá-lợi-phất, còn Kolita là Ngài Mục-kiền-liên (Mahāmoggallāna).
Đại trí tuệ nghĩa là gì
Phẩm Bậc Nhất của Tăng Chi Bộ ghi về Ngài rất gọn: “Này các Tỷ-kheo, trong hàng đệ tử xuất gia của Ta, người đứng đầu về trí tuệ lớn là Sāriputta” (AN 1.188, đoạn 1.1 và AN 1.189, đoạn 1.1).
Trí tuệ ấy biểu hiện thế nào? Trung Bộ 141 cho thấy rõ. Tại vườn Lộc Uyển, Đức Phật nhắc rằng bánh xe Pháp chuyển ở đây chính là việc trình bày bốn Thánh đế, rồi Ngài khuyên: “Này các Tỷ-kheo, hãy gần gũi Sāriputta và Moggallāna, hãy thân cận Sāriputta và Moggallāna. Họ là những Tỷ-kheo có trí, hay nâng đỡ các bạn đồng phạm hạnh” (MN 141, đoạn 5.1–5.3). Ngài so sánh: Sāriputta như người mẹ sinh con, Moggallāna như người nuôi đứa trẻ lớn lên; Sāriputta hướng dẫn người ta đến quả Nhập lưu, Moggallāna dẫn đến mục tiêu tối thượng (đoạn 5.4–5.6). Rồi Đức Phật đứng dậy vào tịnh thất, và chính Ngài Xá-lợi-phất giảng chi tiết từng Thánh đế cho chư Tăng (đoạn 7.1 trở đi). Chẳng hạn, Ngài định nghĩa chánh kiến là hiểu biết về khổ, về nguyên nhân của khổ, về sự chấm dứt khổ, và về con đường đưa đến chấm dứt khổ (đoạn 24.2). Bạn có thể đọc nền tảng của bài giảng ấy trong Kinh Chuyển Pháp Luân và bài Tứ diệu đế là gì.
Như vậy, “đại trí tuệ” ở đây không phải là thông minh hơn người, mà là khả năng thấy rõ và giảng rõ, để người khác cũng thấy được.
Một người thầy không biết mỏi
Lời chứng đẹp nhất về Ngài đến từ Tôn giả A-nan (Ānanda). Khi nghe tin Ngài mất, Tôn giả nói với Đức Phật: “Tôn giả Sāriputta là người khuyên bảo con, dẫn dắt con, chỉ dạy, khích lệ, làm con phấn chấn và hoan hỉ. Ngài giảng Pháp không biết mỏi, luôn nâng đỡ các bạn đồng phạm hạnh” (SN 47.13, đoạn 5.6). Kinh Trung Bộ 143 cũng kể Ngài đến tận nhà thăm vị cư sĩ lúc bệnh nặng và giảng cho ông Cấp Cô Độc (Anāthapiṇḍika) một bài pháp sâu sắc; câu chuyện ấy có trong bài Ông Cấp Cô Độc và Kỳ Viên.
Ở công ty, có người giỏi rồi giữ riêng cho mình, có người giỏi rồi kiên nhẫn chỉ cho từng người mới. Ngài Xá-lợi-phất thuộc loại thứ hai.
Ngày Ngài ra đi
Tương Ưng Bộ 47.13 kể: Ngài Xá-lợi-phất bệnh nặng tại làng Nālaka, xứ Magadha, có Sa-di Cunda chăm sóc, và Ngài nhập diệt vì cơn bệnh ấy (đoạn 1.2–2.1). Cunda mang y bát của thầy về Kỳ Viên báo tin. Tôn giả A-nan thưa với Đức Phật rằng thân mình như người say thuốc, phương hướng mờ mịt (đoạn 4.5). Đức Phật hỏi lại: Sāriputta ra đi có mang theo giới, định, tuệ của con không? Rồi Ngài nói:
Ví như, này Ānanda, từ một cây lớn mọc thẳng, có lõi cây, một cành cây lớn bị gãy đổ. Cũng vậy, này Ānanda, từ nơi chúng Tỷ-kheo đứng thẳng, có lõi cây, Sāriputta bị mệnh chung. Làm sao, này Ānanda, ở đây, lời ước nguyền này có thể thành tựu được: “Mong sao cái gì được sanh, được thành, là pháp hữu vi, là pháp bị diệt hoại, lại có thể không bị diệt hoại!”?
Tương Ưng Bộ 47.13, đoạn 6.5–6.8
Lời dặn tiếp theo là câu nổi tiếng: “Vậy nên, Ānanda, hãy sống với chính mình là hòn đảo, chính mình là chỗ tựa, không tựa vào ai khác; với Pháp là hòn đảo, Pháp là chỗ tựa, không tựa vào gì khác” (đoạn 6.9), và cách sống như vậy chính là thực hành bốn niệm xứ (đoạn 7.2–7.6).
Theo chú giải Tương Ưng Bộ, trước khi mất, Ngài trở về căn phòng nơi mình sinh ra để giảng Pháp cho người mẹ, bà Rūpasārī, vốn chưa có niềm tin nơi Tam Bảo. Chi tiết cảm động này không có trong bài kinh; kinh chỉ ghi nơi Ngài mất là làng Nālaka.
Một gợi ý nhỏ
Tuần này, bạn thử chọn một điều mình hiểu khá rõ, trong công việc hay trong Phật pháp, rồi dành mười lăm phút giải thích lại cho một người đang cần, kiên nhẫn như Ngài Xá-lợi-phất. Và mỗi tối, đọc chậm câu kệ của Tôn giả Assaji, để nhớ rằng mọi thứ đều do duyên mà có, do duyên mà mất.
Viết bởi Tuệ Minh
Nguồn trích dẫn
- Tăng Chi Bộ 1.189, phẩm Bậc Nhất, AN 1.188–197 trên SuttaCentral.
- Trung Bộ 141, Kinh Phân Tích Sự Thật (Saccavibhaṅga Sutta), MN 141 trên SuttaCentral.
- Tương Ưng Bộ 47.13, Kinh Cunda, SN 47.13 trên SuttaCentral.
- Trung Bộ 143, Kinh Giáo Giới Cấp Cô Độc, MN 143 trên SuttaCentral.
- Luật tạng, Đại Phẩm, chương thứ nhất (Mahākhandhaka), Kd 1 trên SuttaCentral.
- Chi tiết về người mẹ của Ngài Sāriputta: theo chú giải Tương Ưng Bộ (Sāratthappakāsinī).
- Các đoạn kinh trích trong khung: bản dịch tiếng Việt của HT. Thích Minh Châu (bản trên SuttaCentral), trích đăng để phụng sự Pháp thí; nếu chủ sở hữu bản quyền có yêu cầu, xin liên hệ 0902 332 970 để điều chỉnh.
- Các câu kinh dẫn ngắn trong thân bài do Hoan Hỉ dịch từ bản Pāli, đối chiếu bản tiếng Anh của Bhikkhu Sujato.
- Các đoạn Luật tạng trích trong khung: bản dịch tiếng Việt của Tỳ khưu Indacanda (Tam Tạng Pāli - Việt, tamtangpaliviet.net), trích đăng để phụng sự Pháp thí; nếu chủ sở hữu bản quyền có yêu cầu, xin liên hệ 0902 332 970 để điều chỉnh.