Phật Thuyết Như Vậy 79 · Iti 79

Kinh Suy Giảm

Parihāna Sutta

Kinh Suy Giảm nêu ba pháp đưa đến tổn giảm cho người đang tu học là ưa thích công việc, ưa thích nói chuyện và ưa thích nằm ngủ, cùng ba pháp ngược lại giúp không tổn giảm.

Trước khi đọc kinh

Tóm lại

  • Ưa thích công việc, ưa thích nói chuyện và ưa thích nằm ngủ đưa đến tổn giảm.
  • Không ưa thích ba điều ấy thì không đưa đến tổn giảm.
  • Người ít công việc, ít nằm ngủ và không tháo động mới có thể chứng ngộ tối thượng.

Kinh Suy Giảm thuộc tập Phật Thuyết Như Vậy và mang số hiệu 79. Bài kinh gồm ba phần: phần xuôi nêu hai nhóm đối chiếu nhau, phần kệ nhắc lại bằng hình ảnh người dao động, phần kết xác nhận ý nghĩa vừa được nói. Chữ sekho, người đang tu học, tức hữu học, mở đầu lời dạy. Theo cách đọc của người viết, không phải câu trong kinh, lời dạy này hướng đến người còn đang trên đường tu tập, chưa phải người đã hoàn thành. Chữ parihānāya trong kinh nghĩa là đưa đến tổn giảm.

Trong phần xuôi, mỗi pháp được nói bằng ba cụm chữ lặp lại là ưa thích, thích thú và đam mê. Theo cách đọc của người viết, không phải câu trong kinh, đây không phải việc làm thoáng qua mà là khuynh hướng bám chặt. Phần kệ đối chiếu người dao động với người ít công việc và ít nằm ngủ, rồi nêu khả năng chứng ngộ tối thượng của người giữ được đời sống như vậy.

Thuật ngữ Pāli trong kinh
sekho
người đang tu học, tức hữu học
kammārāmo
ưa thích công việc
bhassārāmo
ưa thích nói chuyện
niddārāmo
ưa thích nằm ngủ
parihānāya
đưa đến tổn giảm
aparihānāya
không đưa đến tổn giảm
uddhato
dao động, trạo cử
appakiccassa
ít công việc
appamiddho
ít nằm ngủ
anuddhato
không tháo động

Kinh Suy Giảm

1Điều này đã được Thế Tôn nói đến, đã được bậc A-la-hán nói đến, và tôi đã được nghe:

Này các Tỷ-kheo, có ba pháp này đưa đến tổn giảm cho Tỷ-kheo hữu học. Thế nào là ba? Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo hữu học ưa thích công việc, thích thú công việc, đam mê ưa thích công việc; ưa thích nói chuyện, thích thú nói chuyện, đam mê ưa thích nói chuyện; ưa thích nằm ngủ, thích thú nằm ngủ, đam mê ưa thích nằm ngủ. Này các Tỷ-kheo, có ba pháp này đưa đến sự tổn giảm cho Tỷ-kheo hữu học.

Này các Tỷ-kheo, có ba pháp này không đưa đến tổn giảm cho Tỷ-kheo hữu học. Thế nào là ba? Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo hữu học không ưa thích công việc, không thích thú công việc, không đam mê ưa thích công việc; không ưa thích nói chuyện, không thích thú nói chuyện, không đam mê ưa thích nói chuyện; không ưa thích nằm ngủ, không thích thú nằm ngủ, không đam mê ưa thích nằm ngủ. Này các Tỷ-kheo, có ba pháp này không đưa đến tổn giảm cho Tỷ-kheo hữu học.

Thế Tôn đã nói lên ý nghĩa này. Ở đây, điều này được nói đến.
Vuttañhetaṁ bhagavatā vuttamarahatāti me sutaṁ: “Tayome, bhikkhave, dhammā sekhassa bhikkhuno parihānāya saṁvattanti. Katame tayo? Idha, bhikkhave, sekho bhikkhu kammārāmo hoti, kammarato, kammārāmatamanuyutto; bhassārāmo hoti, bhassarato, bhassārāmatamanuyutto; niddārāmo hoti, niddārato, niddārāmatamanuyutto. Ime kho, bhikkhave, tayo dhammā sekhassa bhikkhuno parihānāya saṁvattanti. Tayome, bhikkhave, dhammā sekhassa bhikkhuno aparihānāya saṁvattanti. Katame tayo? Idha, bhikkhave, sekho bhikkhu na kammārāmo hoti, na kammarato, na kammārāmatamanuyutto; na bhassārāmo hoti, na bhassarato, na bhassārāmatamanuyutto; na niddārāmo hoti, na niddārato, na niddārāmatamanuyutto. Ime kho, bhikkhave, tayo dhammā sekhassa bhikkhuno aparihānāya saṁvattantī”ti. Etamatthaṁ bhagavā avoca. Tatthetaṁ iti vuccati:This was said by the Buddha, the Perfected One: that is what I heard. “These three things lead to the decline of a mendicant trainee. What three? It’s when a mendicant relishes work, talk, and sleep. These three things lead to the decline of a mendicant trainee. These three things don’t lead to the decline of a mendicant trainee. What three? It’s when a mendicant doesn’t relish work, talk, and sleep. These three things don’t lead to the decline of a mendicant trainee.” The Buddha spoke this matter. On this it is said:

2Tỷ-kheo thích công việc,
Thích thú trong nói chuyện,
Và ưa thích nằm ngủ,
Sống dao động trạo cử;
Vị Tỷ-kheo như vậy,
Không thể nào chứng ngộ,
Chứng Bồ-đề tối thượng,
Do vậy, đối vị ấy,
Cần phải ít công việc,
Phải ít sự nằm ngủ,
Không được có tháo động,
Vị Tỷ-kheo như vậy,
Mới có thể chứng được,
Chứng tối thượng Bồ-đề.
“Kammārāmo bhassārāmo,
Niddārāmo ca uddhato;
Abhabbo tādiso bhikkhu,
Phuṭṭhuṁ sambodhimuttamaṁ.
Tasmā hi appakiccassa,
Appamiddho anuddhato;
Bhabbo so tādiso bhikkhu,
Phuṭṭhuṁ sambodhimuttaman”ti.
“Restless, they relish work, talk, and sleep. Such a mendicant is incapable of experiencing the highest awakening. That’s why one ought have few duties, being wakeful not restless. Such a mendicant is capable of experiencing the highest awakening.”

3Ý nghĩa này được Thế Tôn nói đến và tôi đã được nghe.Ayampi attho vutto bhagavatā, iti me sutanti. Dasamaṁ.This too is a matter that was spoken by the Blessed One: that is what I heard.

Giải nghĩa ngắn

Theo cách đọc của người viết, không phải câu trong kinh, kinh không chê công việc, nói chuyện hay giấc ngủ như những việc xấu tự thân. Công việc, nói chuyện và giấc ngủ đều là việc thường ngày, nhưng khi chúng trở thành điều ưa thích đến mức đam mê thì chúng chiếm chỗ của việc tu tập. Điểm đáng chú ý ở đây là mức độ bám víu, chứ không phải bản thân việc làm.

Ví dụ của người viết, không phải chuyện trong kinh: chị Lan làm kế toán và nhận thêm việc ngoài giờ liên tục, buổi tối lại trò chuyện đến khuya rồi ngủ muộn, nên buổi sáng hôm sau chị khó giữ được giờ tu tập đều đặn của bản thân. Hình ảnh ấy chỉ giúp bạn hình dung cách ba khuynh hướng ấy chen vào đời sống hằng ngày (không phải lời kinh).

Nhóm đối chiếu trong kinh cho thấy hướng ngược lại cũng rõ ràng như vậy. Khi người đang tu học không ưa thích công việc, không ưa thích nói chuyện và không ưa thích nằm ngủ thì các pháp ấy không đưa đến tổn giảm. Theo cách đọc của người viết, không phải câu trong kinh, không ưa thích ở đây không có nghĩa là bỏ hết công việc, mà là giữ công việc ở mức vừa đủ để việc tu tập không bị lấn mất.

Phần kệ gọi người ưa thích ba điều ấy là người dao động và nói rằng người như vậy không thể chứng ngộ tối thượng, trong khi người ít công việc, ít nằm ngủ và không tháo động thì có thể. Theo cách đọc của người viết, không phải câu trong kinh, chữ ít ở đây nói về sự ít bám víu, chứ không phải lời khen cho sự lười biếng.

Không ưa thích công việc, không ưa thích nói chuyện và không ưa thích nằm ngủ, người đang tu học không đưa đến tổn giảm.

Viết bởi Diệu Hạnh

Nguồn trích dẫn

  1. Phật Thuyết Như Vậy 79 (Parihāna Sutta, Itivuttaka 79). Bản Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka, Iti 79 trên SuttaCentral.
  2. Bản tiếng Anh: Bhikkhu Sujato dịch, SuttaCentral, phát hành theo giấy phép CC0.
  3. Bản tiếng Việt: HT. Thích Minh Châu dịch (Tiểu Bộ Kinh, Kinh Phật Thuyết Như Vậy, Chương Ba Pháp; bản trên phatphapungdung.com, lấy ngày 24/10/2026). Bản dịch tiếng Việt của HT. Thích Minh Châu, trích đăng để phụng sự Pháp thí; nếu chủ sở hữu bản quyền có yêu cầu, xin liên hệ 0902 332 970 để điều chỉnh.
  4. Tên kinh tiếng Việt do Hoan Hỉ đặt theo tên Pāli; bản dịch của HT. Thích Minh Châu không đặt tên riêng cho từng kinh trong Phật Thuyết Như Vậy.

Đọc tiếp