Kinh Điềm Lành (Kinh Hạnh Phúc)
Maṅgala Sutta
Còn gọi là: Kinh Phúc Lành
Thời Đức Phật, người ta tranh luận không dứt về điềm lành, điềm dữ. Ngài trả lời bằng mười một bài kệ, và không có điềm báo nào trong đó.
Trước khi đọc kinh
Chữ Pāli maṅgala nghĩa là điềm lành, điều cát tường. Ở Ấn Độ xưa, người ta tin vào đủ loại điềm: thấy vật này là may, nghe tiếng kia là rủi. Câu hỏi của vị thiên ở đầu kinh (đoạn 2.1–2.4) phản ánh đúng mối bận tâm ấy.
Câu trả lời của Đức Phật lật ngược câu hỏi. Điềm lành cao quý nhất không đến từ bên ngoài, mà từ cách ta sống: chọn bạn, chọn nơi ở, học hỏi, có nghề, phụng dưỡng cha mẹ, thương vợ con, làm việc không rối rắm, bố thí, tránh rượu, biết ơn, nhẫn nại… cho đến thấy Thánh đế và chứng Niết-bàn.
Truyền thống đếm được 38 điềm lành trong kinh, sắp từ gần đến xa, từ đời sống gia đình đến giải thoát. Bài kệ cuối (12.1–12.4) có lẽ là điềm lành khó nhất: khi gặp được mất, khen chê, vinh nhục, khổ vui, tâm không dao động.
Với người còn băn khoăn về xem ngày, xem tuổi, cúng sao, bài kinh này là câu trả lời ôn hòa và trọn vẹn nhất.
Ý chính
- Điềm lành thật là việc mình làm, không phải điều mình gặp.
- Bắt đầu từ việc chọn bạn và nơi sống (kệ 3–4).
- Gia đình và công việc là điềm lành (kệ 6–7).
- Đỉnh cao: tâm không dao động trước tám pháp thế gian (kệ 12).
Thuật ngữ Pāli trong kinh
- maṅgala
- điềm lành, điều cát tường
- uttama
- cao quý nhất
- paṇḍita
- bậc hiền trí
- kataññutā
- biết ơn
- appamāda
- không phóng dật
- lokadhamma
- pháp thế gian: được mất, khen chê, vinh nhục, khổ vui
Kinh Điềm Lành (Kinh Hạnh Phúc)
1–3Như vầy tôi nghe: Một thời Thế Tôn trú tại Sàvatthi, ở Jetavana, khu vườn ông Anàthapindika. Rồi một Thiên tử, khi đêm đã gần mãn, với dung sắc thù thắng chói sáng toàn vùng Jetavana, đi đến Thế Tôn, sau khi đến đảnh lễ Thế Tôn rồi đứng một bên. Đứng một bên, vị Thiên tử ấy bạch Thế Tôn với bài kệ:
Thiên tử:
Nhiều Thiên tử và người,
Suy nghĩ đến điềm lành,
Mong ước và đợi chờ,
Một nếp sống an toàn,
Xin Ngài hãy nói lên,
Về điềm lành tối thượng.
(Đức Phật giảng:)
Không thân cận kẻ ngu,
Nhưng gần gũi bậc Trí,
Đảnh lễ người đáng lễ,
Là điềm lành tối thượng.Evaṁ me sutaṁ— ekaṁ samayaṁ bhagavā sāvatthiyaṁ viharati jetavane anāthapiṇḍikassa ārāme. Atha kho aññatarā devatā abhikkantāya rattiyā abhikkantavaṇṇā kevalakappaṁ jetavanaṁ obhāsetvā yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ aṭṭhāsi. Ekamantaṁ ṭhitā kho sā devatā bhagavantaṁ gāthāya ajjhabhāsi: “Bahū devā manussā ca, maṅgalāni acintayuṁ; Ākaṅkhamānā sotthānaṁ, brūhi maṅgalamuttamaṁ”. “Asevanā ca bālānaṁ, paṇḍitānañca sevanā; Pūjā ca pūjaneyyānaṁ, etaṁ maṅgalamuttamaṁ.So I have heard. At one time the Buddha was staying near Sāvatthī in Jeta’s Grove, Anāthapiṇḍika’s monastery. Then, late at night, a glorious deity, lighting up the entire Jeta’s Grove, went up to the Buddha, bowed, and stood to one side. That deity addressed the Buddha in verse: “Many gods and humans have thought about blessings desiring well-being: declare the highest blessing.” “Not to fraternize with fools, but to fraternize with the wise, and honoring those worthy of honor: this is the highest blessing.
4Ở trú xứ thích hợp,
Công đức trước đã làm,
Chân chánh hướng tự tâm,
Là điềm lành tối thượng.Patirūpadesavāso ca, pubbe ca katapuññatā; Attasammāpaṇidhi ca, etaṁ maṅgalamuttamaṁ.Living in a suitable region, having made merit in the past, being rightly resolved in oneself, this is the highest blessing.
5Học nhiều, nghề nghiệp giỏi,
Khéo huấn luyện học tập,
Nói những lời khéo nói,
Là điềm lành tối thượng.Bāhusaccañca sippañca, vinayo ca susikkhito; Subhāsitā ca yā vācā, etaṁ maṅgalamuttamaṁ.Education and a craft, discipline and training, and well-spoken speech: this is the highest blessing.
6Hiếu dưỡng mẹ và cha,
Nuôi nấng vợ và con.
Làm nghề không rắc rối,
Là điềm lành tối thượng.Mātāpitu upaṭṭhānaṁ, puttadārassa saṅgaho; Anākulā ca kammantā, etaṁ maṅgalamuttamaṁ.Caring for mother and father, kindness to children and partners, and unstressful work: this is the highest blessing.
7Bố thí, hành, đúng pháp,
Săn sóc các bà con,
Làm nghiệp không lỗi lầm,
Là điềm lành tối thượng.Dānañca dhammacariyā ca, ñātakānañca saṅgaho; Anavajjāni kammāni, etaṁ maṅgalamuttamaṁ.Giving and righteous conduct, kindness to relatives, blameless deeds: this is the highest blessing.
8Chấm dứt, từ bỏ ác,
Chế ngự đam mê rượu,
Trong Pháp, không phóng dật,
Là điềm lành tối thượng.Āratī viratī pāpā, majjapānā ca saṁyamo; Appamādo ca dhammesu, etaṁ maṅgalamuttamaṁ.Desisting and abstaining from evil, avoiding drinking liquor, diligence in good qualities: this is the highest blessing.
9Kính lễ và hạ mình,
Biết đủ và biết ơn,
Đúng thời, nghe Chánh Pháp,
Là điềm lành tối thượng.Gāravo ca nivāto ca, santuṭṭhi ca kataññutā; Kālena dhammassavanaṁ, etaṁ maṅgalamuttamaṁ.Respect and placidity, contentment and gratitude, and timely listening to the teaching: this is the highest blessing.
10Nhẫn nhục, lời hòa nhã,
Yết kiến các Sa-môn,
Đúng thời, đàm luận Pháp,
Là điềm lành tối thượng.Khantī ca sovacassatā, samaṇānañca dassanaṁ; Kālena dhammasākacchā, etaṁ maṅgalamuttamaṁ.Patience, being easy to admonish, the sight of ascetics, and timely discussion of the teaching: this is the highest blessing.
11Khắc khổ và Phạm hạnh,
Thấy được lý Thánh đế.
Giác ngộ quả: "Niết Bàn"
Là điềm lành tối thượng.Tapo ca brahmacariyañca, Ariyasaccāna dassanaṁ; Nibbānasacchikiriyā ca, Etaṁ maṅgalamuttamaṁ.Fervor and chastity seeing the noble truths, and realization of extinguishment: this is the highest blessing.
12Khi xúc chạm việc đời
Tâm không động, không sầu,
Không uế nhiễm, an ổn,
Là điềm lành tối thượng.Phuṭṭhassa lokadhammehi, Cittaṁ yassa na kampati; Asokaṁ virajaṁ khemaṁ, Etaṁ maṅgalamuttamaṁ.Though touched by worldly conditions, their mind does not tremble; sorrowless, stainless, secure: this is the highest blessing.
13Làm sự việc như vầy,
Không chỗ nào thất bại,
Khắp nơi được an toàn,
Là điềm lành tối thượng.Etādisāni katvāna, Sabbattha maparājitā; Sabbattha sotthiṁ gacchanti, Taṁ tesaṁ maṅgalamuttaman”ti.Having completed these things, undefeated everywhere; everywhere they go in safety: this is their highest blessing.”
Viết bởi Chánh Tín
Nguồn trích dẫn
- Kinh Tập 2.4 (Maṅgala Sutta). Bản Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka, Snp 2.4 trên SuttaCentral.
- Bản tiếng Anh: Bhikkhu Sujato dịch, SuttaCentral, phát hành theo giấy phép CC0.
- Bản tiếng Việt: HT. Thích Minh Châu dịch (bản trên SuttaCentral). Bản dịch tiếng Việt của HT. Thích Minh Châu, trích đăng để phụng sự Pháp thí; nếu chủ sở hữu bản quyền có yêu cầu, xin liên hệ 0902 332 970 để điều chỉnh.