Kinh Vợ Chồng Sống Chung
Paṭhamasamajīvī Sutta
Còn gọi là: Kinh Samajīvī
Một đôi vợ chồng già nói với Đức Phật: chúng con mong được thấy nhau cả đời này lẫn đời sau. Đức Phật chỉ cho họ bốn điều cần ngang nhau.
Trước khi đọc kinh
Nakulapitā và Nakulamātā, “cha của Nakula” và “mẹ của Nakula”, là đôi vợ chồng Phật tử tại gia nổi tiếng nhất trong kinh điển. Bài kinh này kể rằng một buổi sáng, Đức Thế Tôn đến nhà họ ở xứ Bhagga và ngồi xuống chỗ đã soạn sẵn (đoạn 1.3). Người chồng thưa trước: từ khi lấy nhau lúc cả hai còn trẻ, ông không nhớ mình đã từng phụ vợ, dù chỉ trong ý nghĩ, huống gì bằng thân (đoạn 2.1). Người vợ thưa y như vậy (đoạn 2.4). Và cả hai cùng nói một điều ước: chúng con mong được thấy nhau ngay trong đời này, và cả trong đời sau nữa (đoạn 2.2, 2.5).
Đức Thế Tôn không nói đó là ước mơ viển vông. Ngài chỉ ra điều kiện: nếu cả vợ lẫn chồng đều mong như thế, thì cả hai hãy có niềm tin ngang nhau (samasaddhā), giới ngang nhau (samasīlā), lòng rộng rãi ngang nhau (samacāgā), trí tuệ ngang nhau (samapaññā) (đoạn 3.1). Chữ “ngang nhau” ở đây không có nghĩa là giống hệt nhau trong mọi chuyện, mà là cùng đi một hướng, cùng lớn lên trong những giá trị căn bản.
Các bài kệ cuối tả một mái nhà như thế. Cả hai cùng có niềm tin, rộng rãi, biết tự chế, sống đúng theo Pháp, nên nói với nhau lời thương mến (đoạn 4.1–4.4). Lợi ích đến dồi dào, cuộc sống an ổn, còn kẻ thù thì chỉ thấy buồn lòng (đoạn 5.1–5.4). Sống theo Pháp ở đời này, họ cùng hân hoan ở cõi trời (đoạn 6.1–6.4). Với những cặp vợ chồng hôm nay, bài kinh là một gợi ý rất cụ thể: muốn đi cùng nhau lâu dài, hãy cùng nhau nuôi niềm tin, giữ giới, tập cho đi và học hiểu.
Ý chính
- Đôi vợ chồng chung thủy từ thuở trẻ, không phụ nhau dù chỉ trong ý nghĩ (2.1, 2.4).
- Ước mong của họ: được thấy nhau đời này và cả đời sau (2.2).
- Bốn điều cần ngang nhau: niềm tin, giới, lòng rộng rãi, trí tuệ (3.1).
- Vợ chồng cùng sống theo Pháp thì nói với nhau lời thương mến (4.1–4.4).
- Khi cả hai giới hạnh ngang nhau, cuộc sống an ổn, lợi ích dồi dào (5.1–5.4).
- Sống theo Pháp ở đời này, cùng hân hoan ở cõi trời (6.1–6.4).
Thuật ngữ Pāli trong kinh
- jānipati
- vợ chồng
- saddhā
- niềm tin
- sīla
- giới
- cāga
- xả thí, lòng rộng rãi
- paññā
- trí tuệ
- sama
- ngang nhau, tương xứng
- piyaṁvada
- nói lời thương mến
- abhisamparāya
- đời sau
Kinh Vợ Chồng Sống Chung
1Một thời, Thế Tôn trú ở giữa dân chúng Bhagga tại núi Sumsumàra, rừng Bhesakalà, ở vườn Nai. Rồi Thế Tôn, vào buổi sáng đắp y, cầm y bát, đi đến trú xứ gia chủ cha Nakulà, sau khi đến, ngồi xuống trên chỗ đã soạn sẵn. Rồi gia chủ cha Nakulà và nữ gia chủ mẹ Nakulà đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, gia chủ cha Nakulà bạch Thế Tôn:Evaṁ me sutaṁ— ekaṁ samayaṁ bhagavā bhaggesu viharati susumāragire bhesakaḷāvane migadāye. Atha kho bhagavā pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā pattacīvaramādāya yena nakulapituno gahapatissa nivesanaṁ tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā paññatte āsane nisīdi. Atha kho nakulapitā ca gahapati nakulamātā ca gahapatānī yena bhagavā tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdiṁsu. Ekamantaṁ nisinno kho nakulapitā gahapati bhagavantaṁ etadavoca:So I have heard. At one time the Buddha was staying in the land of the Bhaggas at Crocodile’s Bellow, in the deer park at Bhesakaḷā’s Wood. Then the Buddha robed up in the morning and, taking his bowl and robe, went to the home of the householder Nakula’s father, where he sat down on the seat spread out. Then the householder Nakula’s father and the housewife Nakula’s mother went up to the Buddha, bowed, and sat down to one side. Nakula’s father said to the Buddha,
2—Từ khi nữ gia chủ mẹ Nakulà được đem về đây cho con khi con còn trẻ tuổi, con không bao giờ biết con có điều gì xâm phạm đến vợ con, cho đến ý nghĩ cũng không, chớ đừng nói gì đến thân. Vì rằng bạch Thế Tôn, chúng con muốn thấy mặt nhau trong đời này, mà còn muốn thấy mặt nhau trong đời sau nữa.
Nữ gia chủ mẹ Nakulà bạch Thế Tôn:
—Bạch Thế Tôn, từ khi con được đem về đây cho gia chủ cha Nakulà, khi con còn trẻ tuổi, con không bao giờ biết con có điều gì xâm phạm đến gia chủ cha Nakulà, cho đến ý nghĩ cũng không, chớ đừng nói gì đến thân. Vì rằng bạch Thế Tôn, chúng con muốn thấy mặt nhau, trong đời này, mà còn muốn thấy mặt nhau trong đời sau nữa.“Yato me, bhante, nakulamātā gahapatānī daharasseva daharā ānītā, nābhijānāmi nakulamātaraṁ gahapatāniṁ manasāpi aticaritā, kuto pana kāyena. Iccheyyāma mayaṁ, bhante, diṭṭhe ceva dhamme aññamaññaṁ passituṁ abhisamparāyañca aññamaññaṁ passitun”ti. Nakulamātāpi kho gahapatānī bhagavantaṁ etadavoca: “yatohaṁ, bhante, nakulapituno gahapatissa daharasseva daharā ānītā, nābhijānāmi nakulapitaraṁ gahapatiṁ manasāpi aticaritā, kuto pana kāyena. Iccheyyāma mayaṁ, bhante, diṭṭhe ceva dhamme aññamaññaṁ passituṁ abhisamparāyañca aññamaññaṁ passitun”ti.“Sir, ever since we were both young, and Nakula’s mother was given to me in marriage, I can’t recall betraying her even in thought, still less in deed. We want to see each other in both this life and the next.” Then Nakula’s mother said to the Buddha, “Sir, ever since we were both young, and I was given in marriage to Nakula’s father, I can’t recall betraying him even in thought, still less in deed. We want to see each other in both this life and the next.”
3—Vậy này các Gia chủ, khi cả hai vợ và chồng muốn thấy mặt nhau trong đời này, và cũng muốn thấy mặt nhau trong đời sau nữa, và cả hai người là đồng tín, đồng giới, đồng thí đồng trí tuệ, thời trong đời hiện tại, các người được thấy mặt nhau, và trong đời sau, các người cũng được thấy mặt nhau.“Ākaṅkheyyuñce, gahapatayo, ubho jānipatayo diṭṭhe ceva dhamme aññamaññaṁ passituṁ abhisamparāyañca aññamaññaṁ passituṁ ubhova assu samasaddhā samasīlā samacāgā samapaññā, te diṭṭhe ceva dhamme aññamaññaṁ passanti abhisamparāyañca aññamaññaṁ passantīti.“Householders, if wife and husband want to see each other in both this life and the next, they should be equals in faith, ethics, generosity, and wisdom.
4–6Cả hai, tín, bố thí,
Sống chế ngự, chánh mạng,
Cả hai vợ chồng ấy,
Nói lời thân ái nhau,
Đời sống nhiều hạnh phúc,
Chờ đợi hai người ấy.
Kẻ thù không thích ý,
Cả hai giới hạnh lành,
Ở đây sống theo Pháp,
Giữ cấm giới đồng đẳng,
Cả hai giới hạnh lành,
Sống hoan hỷ Thiên giới,
Hân hoan được thỏa mãn,
Đúng với điều sở cầu.Ubho saddhā vadaññū ca, saññatā dhammajīvino; Te honti jānipatayo, aññamaññaṁ piyaṁvadā. Atthāsaṁ pacurā honti, phāsukaṁ upajāyati; Amittā dummanā honti, ubhinnaṁ samasīlinaṁ. Idha dhammaṁ caritvāna, samasīlabbatā ubho; Nandino devalokasmiṁ, modanti kāmakāmino”ti. Pañcamaṁ.When both are faithful and bountiful, disciplined, living righteously, then wife and husband say nice things to each other. Their needs are amply satisfied, so they live at ease. Their enemies are downhearted, when both are equal in ethics. Having practiced the teaching here, both equal in precepts and observances, they delight in the heavenly realm, enjoying all the pleasures they desire.”
Viết bởi Diệu Hạnh
Nguồn trích dẫn
- Tăng Chi Bộ 4.55 (Paṭhamasamajīvī Sutta). Bản Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka, AN 4.55 trên SuttaCentral.
- Bản tiếng Anh: Bhikkhu Sujato dịch, SuttaCentral, phát hành theo giấy phép CC0.
- Bản tiếng Việt: HT. Thích Minh Châu dịch (bản trên SuttaCentral). Bản dịch tiếng Việt của HT. Thích Minh Châu, trích đăng để phụng sự Pháp thí; nếu chủ sở hữu bản quyền có yêu cầu, xin liên hệ 0902 332 970 để điều chỉnh.