Tương Ưng Bộ 45.1 · SN 45.1

Kinh Vô Minh

Avijjā Sutta

Kinh Vô Minh nói khi vô minh dẫn đầu thì các pháp bất thiện nối tiếp nhau, còn khi minh dẫn đầu thì các thiện pháp nối tiếp nhau, từ chánh kiến đến chánh định.

Trước khi đọc kinh

Tóm lại

  • Khi vô minh dẫn đầu, các pháp bất thiện thành tựu, và tà kiến nối tiếp tà tư duy cho đến tà định.
  • Khi minh dẫn đầu, các thiện pháp thành tựu, và chánh kiến nối tiếp chánh tư duy cho đến chánh định.
  • Tàm và quý đi cùng minh, còn vô tàm và vô quý đi cùng vô minh, theo hai chiều đối nhau của kinh.

Kinh Vô Minh, số hiệu SN 45.1, nằm trong kinh Nikāya, tức năm bộ kinh gốc bằng tiếng Pāli, thuộc bộ kinh Tương Ưng, tức bộ kinh xếp các bài kinh theo chủ đề nối tiếp nhau. Kinh được thuyết tại Xá-vệ, trong vườn ông Cấp Cô Độc.

Kinh có cấu trúc hai phần đối nhau. Tên kinh lấy từ vô minh, là điều kinh đặt ở đầu chuỗi các pháp bất thiện. Kinh không kể thêm chuyện nào khác ngoài hai chuỗi đối nhau này. Phần đầu nói vô minh dẫn đầu đưa đến sự thành tựu các pháp bất thiện. Phần sau nói minh dẫn đầu đưa đến sự thành tựu các thiện pháp. Mỗi phần nêu một chuỗi nối tiếp nhau, từ kiến giải đến tư duy, lời nói, hành động, nuôi mạng, tinh tấn, niệm và định.

Thuật ngữ Pāli trong kinh
<i>avijjā</i>
vô minh
<i>vijjā</i>
minh, sự hiểu biết đúng
<i>micchādiṭṭhi</i>
tà kiến
<i>sammādiṭṭhi</i>
chánh kiến
<i>ahirika</i>
vô tàm, không biết hổ thẹn
<i>hirottappa</i>
tàm và quý, biết hổ thẹn và sợ lỗi
<i>sammāsamādhi</i>
chánh định

Kinh Vô Minh

1.1. Như vầy tôi nghe.Evaṁ me sutaṁ—So I have heard.

1.2Một thời, Thế Tôn trú ở Sāvatthi (Xá-vệ), tại Thắng Lâm, trong vườn ông Anāthapiṇḍika (Cấp Cô Độc).ekaṁ samayaṁ bhagavā sāvatthiyaṁ viharati jetavane anāthapiṇḍikassa ārāme.At one time the Buddha was staying near Sāvatthī in Jeta’s Grove, Anāthapiṇḍika’s monastery.

1.3–1.5Lúc bấy giờ, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo: “Này các Tỷ-kheo”. “Thưa vâng, bạch Thế Tôn”.Tatra kho bhagavā bhikkhū āmantesi: “bhikkhavo”ti. “Bhadante”ti te bhikkhū bhagavato paccassosuṁ.There the Buddha addressed the mendicants, “Mendicants!” “Venerable sir,” they replied.

1.6Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau:Bhagavā etadavoca:The Buddha said this:

2.1–2.9—Khi nào vô minh dẫn đầu, này các Tỷ-kheo, đưa đến sự thành tựu các pháp bất thiện, thời vô tàm, vô quý nối tiếp theo. Với kẻ bị vô minh chi phối, vô trí, này các Tỷ-kheo, tà kiến sanh. Đối với kẻ có tà kiến, tà tư duy sanh. Đối với kẻ có tà tư duy, tà ngữ sanh. Đối với kẻ có tà ngữ, tà nghiệp sanh. Đối với kẻ có tà nghiệp, tà mạng sanh. Đối với kẻ có tà mạng, tà tinh tấn sanh. Đối với kẻ có tà tinh tấn, tà niệm sanh. Đối với kẻ có tà niệm, tà định sanh.“Avijjā, bhikkhave, pubbaṅgamā akusalānaṁ dhammānaṁ samāpattiyā, anvadeva ahirikaṁ anottappaṁ. Avijjāgatassa, bhikkhave, aviddasuno micchādiṭṭhi pahoti; micchādiṭṭhissa micchāsaṅkappo pahoti; micchāsaṅkappassa micchāvācā pahoti; micchāvācassa micchākammanto pahoti; micchākammantassa micchāājīvo pahoti; micchāājīvassa micchāvāyāmo pahoti; micchāvāyāmassa micchāsati pahoti; micchāsatissa micchāsamādhi pahoti.“Mendicants, ignorance leads the attainment of unskillful qualities, with lack of conscience and prudence following along. An ignoramus, sunk in ignorance, produces wrong view. Wrong view produces wrong purpose. Wrong purpose produces wrong speech. Wrong speech produces wrong action. Wrong action produces wrong livelihood. Wrong livelihood produces wrong effort. Wrong effort produces wrong mindfulness. Wrong mindfulness produces wrong immersion.

3.1–3.9Khi nào minh dẫn đầu, này các Tỷ-kheo, đưa đến sự thành tựu các thiện pháp, thời tàm và quý nối tiếp theo. Với kẻ được minh chi phối, có trí, này các Tỷ-kheo, chánh kiến sanh. Đối với vị chánh kiến, chánh tư duy sanh. Đối với vị chánh tư duy, chánh ngữ sanh. Đối với vị chánh ngữ, chánh nghiệp sanh. Đối với vị chánh nghiệp, chánh mạng sanh. Đối với vị chánh mạng, chánh tinh tấn sanh. Đối với vị chánh tinh tấn, chánh niệm sanh. Đối với vị chánh niệm, chánh định sanh.Vijjā ca kho, bhikkhave, pubbaṅgamā kusalānaṁ dhammānaṁ samāpattiyā, anvadeva hirottappaṁ. Vijjāgatassa, bhikkhave, viddasuno sammādiṭṭhi pahoti; sammādiṭṭhissa sammāsaṅkappo pahoti; sammāsaṅkappassa sammāvācā pahoti; sammāvācassa sammākammanto pahoti; sammākammantassa sammāājīvo pahoti; sammāājīvassa sammāvāyāmo pahoti; sammāvāyāmassa sammāsati pahoti; sammāsatissa sammāsamādhi pahotī”ti.Knowledge leads the attainment of skillful qualities, with conscience and prudence following along. A knowing one, firm in knowledge, produces right view. Right view produces right purpose. Right purpose produces right speech. Right speech produces right action. Right action produces right livelihood. Right livelihood produces right effort. Right effort produces right mindfulness. Right mindfulness produces right immersion.”

3.10Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Đại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16.

Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Paṭhamaṁ.

Giải nghĩa ngắn

Phần đầu kinh nói khi vô minh dẫn đầu thì các pháp bất thiện thành tựu, và vô tàm, vô quý nối tiếp theo. Người bị vô minh chi phối thì tà kiến sanh, rồi từ tà kiến mà tà tư duy, tà ngữ, tà nghiệp, tà mạng, tà tinh tấn, tà niệm và tà định nối tiếp nhau mà sanh. Kinh nêu chuỗi này như một dòng nối tiếp, không nêu riêng một pháp nào đứng ngoài chuỗi.

Phần sau kinh nói ngược lại: khi minh dẫn đầu thì các thiện pháp thành tựu, và tàm và quý nối tiếp theo. Người được minh chi phối thì chánh kiến sanh, rồi từ chánh kiến mà chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm và chánh định nối tiếp nhau mà sanh. Hai phần của kinh soi nhau, cho thấy điểm khởi đầu khác nhau thì dòng nối tiếp cũng khác nhau.

Ví dụ của người viết, không phải chuyện trong kinh (không phải lời kinh): chú Khải nghe một tin chưa kiểm chứng rồi vội tin theo, sau đó nói lại với người khác và làm theo tin ấy. Khi chú dừng lại kiểm tra nguồn tin, chú thấy chú đã hiểu sai từ đầu. Ví dụ này chỉ giúp bạn hình dung một hiểu biết sai dẫn đến nhiều việc sai nối tiếp nhau, không phải lời kinh.

Theo cách đọc của người viết, không phải câu trong kinh, kinh đặt minh ở vị trí dẫn đầu, nên việc học hỏi và thấy rõ phải đi trước việc nói và làm. Người viết ghi rõ đây là cách đọc của người viết, và phần này không phải lời kinh.

Minh dẫn đầu thì chánh đạo nối tiếp, vô minh dẫn đầu thì tà đạo nối tiếp, theo Kinh Vô Minh.

Viết bởi Diệu Hạnh

Nguồn trích dẫn

  1. Tương Ưng Bộ 45.1 (Avijjā Sutta). Bản Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka, SN 45.1 trên SuttaCentral.
  2. Bản tiếng Anh: Bhikkhu Sujato dịch, SuttaCentral, phát hành theo giấy phép CC0.
  3. Bản tiếng Việt: HT. Thích Minh Châu dịch (bản trên SuttaCentral). Bản dịch tiếng Việt của HT. Thích Minh Châu, trích đăng để phụng sự Pháp thí; nếu chủ sở hữu bản quyền có yêu cầu, xin liên hệ 0902 332 970 để điều chỉnh.

Đọc tiếp