Phật Thuyết Như Vậy 14 · Iti 14

Kinh Triền Cái Vô Minh

Avijjānīvaraṇa Sutta

Đức Phật nói không thấy triền cái nào khác khiến chúng sanh lưu chuyển lâu dài như vô minh triền cái, kèm bài kệ tám dòng về si và người đâm thủng khối u ám.

Trước khi đọc kinh

Tóm lại

  • Không có triền cái nào khác khiến chúng sanh chạy dài, lưu chuyển lâu dài như vô minh triền cái.
  • Kệ: không có pháp nào khác bao phủ chúng sanh như si; ngày đêm họ lưu chuyển.
  • Ai đoạn diệt si, đâm thủng khối u ám thì không còn lưu chuyển, nhân của họ không còn.

Kinh Triền Cái Vô Minh (Avijjānīvaraṇa Sutta) là kinh thứ mười bốn trong Chương Một Pháp của Kinh Phật Thuyết Như Vậy (Itivuttaka). Khác với các kinh Liễu Tri đứng trước, bài này không nói “biết rõ để diệt khổ” mà nêu một điều Đức Phật không thấy có cái nào hơn: vô minh (avijjā) là thứ che phủ (nīvaraṇa, bản Minh Châu dịch là “triền cái”) khiến chúng sanh chạy dài, lưu chuyển trong thời gian dài. Bài kệ tám dòng nói thêm: không có pháp nào khác bao phủ chúng sanh như si; ai đoạn diệt si, đâm thủng khối u ám thì không còn lưu chuyển nữa.

Thuật ngữ Pāli trong kinh
avijjā
vô minh, sự không thấy biết đúng
nīvaraṇa
triền cái, cái che phủ
pajā
chúng sanh, loài người
sandhāvanti
chạy dài
saṁsaranti
lưu chuyển
moha
si, sự mê mờ
tamokhandha
khối u ám
hetu
nhân

Kinh Triền Cái Vô Minh

1Điều này được Thế Tôn nói đến, đã được bậc A-la-hán nói đến, và tôi đã được nghe:

Này các Tỷ-kheo, Ta không thấy một triền cái nào khác, do bị bao trùm bởi triền cái ấy, chúng sanh trong một thời gian dài, lưu chuyển. Này các Tỷ-kheo, tức là Vô minh triền cái. Này các Tỷ-kheo, bị bao trùm bởi Vô minh triền cái, chúng sanh trong một thời gian dài chạy dài, lưu chuyển.

Thế Tôn đã nói lên ý nghĩa này. Ở đây, điều này đã được nói đến.
Vuttañhetaṁ bhagavatā vuttamarahatāti me sutaṁ: “Nāhaṁ, bhikkhave, aññaṁ ekanīvaraṇampi samanupassāmi yena nīvaraṇena nivutā pajā dīgharattaṁ sandhāvanti saṁsaranti yathayidaṁ, bhikkhave, avijjānīvaraṇaṁ. Avijjānīvaraṇena hi, bhikkhave, nivutā pajā dīgharattaṁ sandhāvanti saṁsarantī”ti. Etamatthaṁ bhagavā avoca. Tatthetaṁ iti vuccati:This was said by the Buddha, the Perfected One: that is what I heard. “Mendicants, I do not see a single shroud, shrouded by which people wander and transmigrate for a long time like the shroud of ignorance. Shrouded by ignorance, people wander and transmigrate for a long time.” The Buddha spoke this matter. On this it is said:

2Không có một pháp khác,
Quần sanh bị bao phủ,
Ngày đêm chạy lưu chuyển,
Như bao phủ bởi si
Và ai đoạn diệt si,
Đâm thủng khối u ám,
Họ không lưu chuyển nữa,
Trong họ, nhân không còn.
“Natthañño ekadhammopi,
yenevaṁ nivutā pajā;
Saṁsaranti ahorattaṁ,
yathā mohena āvutā.
Ye ca mohaṁ pahantvāna,
tamokhandhaṁ padālayuṁ;
Na te puna saṁsaranti,
hetu tesaṁ na vijjatī”ti.
“There is no other thing that shrouds people like ignorance. Veiled by delusion, they transmigrate day and night. Those who have given up delusion, shattering the mass of darkness, wander no more, the root is not found in them.”

3Ý nghĩa này được Thế Tôn nói đến và tôi đã được nghe.Ayampi attho vutto bhagavatā, iti me sutanti. Catutthaṁ.This too is a matter that was spoken by the Blessed One: that is what I heard.

Giải nghĩa ngắn

Trong phần văn xuôi, kinh dùng chữ vô minh; trong bài kệ, kinh dùng chữ si (moha). Việc đặt hai chữ này cạnh nhau là cách đọc của người viết bài; kinh không giải thích mối liên hệ giữa chúng.

Kinh không đưa ra cách thực hành. Bài nói về điều gì che phủ chúng sanh, và về hệ quả khi si được đoạn diệt: không còn lưu chuyển, trong họ nhân không còn.

Ví dụ đời thường để dễ hình dung (không phải lời kinh): đi đêm trong rừng mà không thấy đường thì cứ vòng vo quanh chỗ cũ; khi trời sáng thì mới biết lối ra.

Ghi chú về chữ: câu mở đầu của kinh này trong bản Minh Châu in “Điều này được Thế Tôn nói đến”, thiếu chữ “đã” so với các kinh khác; câu đầu của phần văn xuôi cũng chỉ ghi “lưu chuyển”, trong khi Pāli có hai động từ sandhāvanti saṁsaranti (chạy dài, lưu chuyển) và câu sau của Minh Châu đã dịch đủ hai. Phần văn kinh bên dưới giữ nguyên chữ in của bản dịch.

Kinh Triền Cái Vô Minh chỉ ra một điều: thứ che phủ lâu dài nhất là vô minh, và si được đoạn diệt thì không còn lưu chuyển.

Viết bởi Diệu Hạnh

Nguồn trích dẫn

  1. Phật Thuyết Như Vậy 14 (Avijjānīvaraṇa Sutta, Itivuttaka 14). Bản Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka, Iti 14 trên SuttaCentral.
  2. Bản tiếng Anh: Bhikkhu Sujato dịch, SuttaCentral, phát hành theo giấy phép CC0.
  3. Bản tiếng Việt: HT. Thích Minh Châu dịch (Tiểu Bộ Kinh, Kinh Phật Thuyết Như Vậy, Chương Một Pháp; bản trên phatphapungdung.com, lấy ngày 24/10/2026). Bản dịch tiếng Việt của HT. Thích Minh Châu, trích đăng để phụng sự Pháp thí; nếu chủ sở hữu bản quyền có yêu cầu, xin liên hệ 0902 332 970 để điều chỉnh.
  4. Tên kinh tiếng Việt do Hoan Hỉ đặt theo tên Pāli; bản dịch của HT. Thích Minh Châu không đặt tên riêng cho từng kinh trong Phật Thuyết Như Vậy.

Đọc tiếp