Kinh Vương Tử Vô Úy
Abhayarājakumāra Sutta
Còn gọi là: Kinh Vương tử Abhaya, Kinh Abhaya
Một câu hỏi được soạn sẵn để gài bẫy: Như Lai có nói lời làm người khác buồn lòng không? Đức Phật gỡ bằng hình ảnh người cha móc hòn sỏi khỏi miệng đứa con.
Trước khi đọc kinh
Kinh Vương Tử Vô Úy (Abhayarājakumāra Sutta) là bài kinh thứ tám trong phẩm Gia Chủ, Trung Bộ. Đức Thế Tôn đang trú gần Vương Xá (Rājagaha), tại Trúc Lâm (Veḷuvana). Ni-kiền-tử Nāṭaputta (Nigaṇṭha Nāṭaputta), vị thầy của phái Kỳ-na, xúi Vương tử Vô Úy (Abhayarājakumāra) đến hỏi Đức Phật: Như Lai có nói lời khiến người khác không ưa, không thích không? Nếu Ngài nói có, thì Ngài khác gì phàm phu; nếu nói không, sao Ngài lại tuyên bố Đề-bà-đạt-đa (Devadatta) sẽ đọa địa ngục, khiến vị ấy tức giận? Đó là câu hỏi hai đầu, như cái chông sắt mắc trong cổ, không nhả ra được, cũng không nuốt vào được (đoạn 3.5–3.17). Theo chú giải Trung Bộ (Papañcasūdanī), vương tử là con ruột của vua Tần-bà-sa-la (Bimbisāra), và Ni-kiền-tử đã mất bốn tháng để soạn ra câu hỏi này. Thấy trời đã xế, vương tử mời Đức Phật cùng ba vị nữa đến nhà dùng bữa hôm sau (đoạn 4.3–4.5); chú giải giải thích: mời đông thì sợ cuộc hỏi đáp thành ồn ào, mời một mình thì sợ bị chê keo kiệt.
Sau bữa ăn, vương tử hỏi. Đức Phật đáp: về điều này không thể trả lời một chiều (đoạn 6.3). Lúc ấy vương tử đang để đứa con nhỏ ngồi trên lòng; theo chú giải, vương tử định nếu thua thì véo cho đứa bé khóc để dừng cuộc hỏi đáp, nhưng Đức Phật lại dùng chính đứa bé làm ví dụ. Ngài hỏi: nếu đứa bé ngậm que củi hay hòn sỏi vào miệng, vương tử sẽ làm gì? Vương tử thưa: con sẽ lấy ra, nếu không được thì tay trái giữ đầu, tay phải co ngón móc ra, dù có chảy máu, vì con thương đứa bé (đoạn 7.4–7.8). Rồi Đức Phật nói về sáu loại lời: lời không thật, không có lợi ích thì Như Lai không nói, dù người nghe ưa hay không ưa; lời thật mà không có lợi ích cũng không nói; lời thật, có lợi ích, thì Như Lai biết chọn đúng lúc để nói, dù người nghe ưa hay không ưa (đoạn 8.1–8.6). Lý do là Như Lai có lòng thương đối với chúng sinh (đoạn 8.8). Cuối kinh, như người đánh xe giỏi trả lời ngay tên từng bộ phận của cỗ xe, Như Lai trả lời ngay mọi câu hỏi soạn sẵn vì đã thấu suốt pháp tánh (đoạn 10.9–11.3); theo chú giải, đó là trí toàn giác của Đức Phật.
Bảng sáu loại lời này là một tấm gương cho mọi lời nói hằng ngày. Đức Phật không chọn lời theo chuyện người nghe vui hay buồn, mà theo ba câu hỏi: có thật không, có lợi ích không, và đã đúng lúc chưa. Lời khen không thật để làm vui lòng thì Ngài không nói; lời thật mà chỉ để chê bai, không giúp được ai, Ngài cũng không nói. Còn lời thật, có ích mà khó nghe, Ngài vẫn nói, nhưng chờ đúng lúc, và nói vì thương, như người cha đành làm con đau một chút để cứu con. Khi sắp góp ý cho con cái, đồng nghiệp hay người thân, bạn thử dừng lại hỏi ba câu ấy. Nhiều khi câu trả lời là im lặng thêm một chút, chờ lúc người kia có thể nghe được.
Ý chính
- Câu hỏi hai đầu: nói lời người khác không ưa thì khác gì phàm phu; không nói thì sao lại nói về Đề-bà-đạt-đa như vậy (3.6–3.15).
- Đức Phật đáp: về điều này không thể trả lời một chiều (6.3).
- Người cha móc que củi, hòn sỏi khỏi miệng con, dù chảy máu, vì thương con (7.4–7.8).
- Lời không thật, hoặc thật mà không có lợi ích, Như Lai không nói, dù người nghe ưa hay không ưa (8.1–8.2, 8.4–8.5).
- Lời thật, có lợi ích, Như Lai biết chọn đúng lúc để nói, dù người nghe ưa hay không ưa (8.3, 8.6).
- Vì Như Lai có lòng thương đối với chúng sinh (8.8).
Thuật ngữ Pāli trong kinh
- nigaṇṭha
- Ni-kiền-tử, tu sĩ phái Kỳ-na
- ubhatokoṭika pañha
- câu hỏi hai đầu, câu hỏi bẫy
- ekaṁsena
- một chiều, dứt khoát một bề
- appiya / amanāpa
- không ưa / không thích
- bhūta / taccha
- thật / đúng
- atthasaṁhita
- có lợi ích
- kālaññū
- biết đúng lúc
- anukampā
- lòng thương, lòng thương xót
Kinh Vương Tử Vô Úy
1Như vầy tôi nghe.
Một thời Thế Tôn ở tại Rājagaha (Vương Xá), Veluvana (Trúc Lâm), Kalandakanivapa (chỗ nuôi các con sóc).Evaṁ me sutaṁ— ekaṁ samayaṁ bhagavā rājagahe viharati veḷuvane kalandakanivāpe.So I have heard. At one time the Buddha was staying near Rājagaha in the Bamboo Grove, the squirrels’ feeding ground.
2Rồi Vương tử Abhaya (Vô Úy) đi đến Nigaṇṭha Nātaputta, sau khi đến đảnh lễ Nigaṇṭha Nātaputta rồi ngồi xuống một bên. Nigaṇṭha Nātaputta nói với Vương tử Abhaya đang ngồi một bênAtha kho abhayo rājakumāro yena nigaṇṭho nāṭaputto tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā nigaṇṭhaṁ nāṭaputtaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinnaṁ kho abhayaṁ rājakumāraṁ nigaṇṭho nāṭaputto etadavoca:Then Prince Abhaya went up to the Jain ascetic of the Ñātika clan, bowed, and sat down to one side. The Jain Ñātika said to him,
3—Này Vương tử, Vương tử hãy đi đến luận chiến với Sa-môn Gotama, và nhờ vậy tiếng đồn tốt đẹp sau đây được truyền đi cho Vương tử: “Sa-môn Gotama có thần lực như vậy, có uy lực như vậy, đã bị Vương tử Abhaya luận chiến”.
—Thưa Tôn giả, làm thế nào con có thể luận chiến Sa-môn Gotama có thần lực như vậy, có uy lực như vậy?
—Này Vương tử, hãy đi đến Sa-môn Gotama, sau khi đến hãy nói với Sa-môn Gotama, sau khi đến hãy nói với Sa-môn Gotama như sau: “Bạch Thế Tôn, Như Lai có thể nói lời nói, do lời nói ấy những người khác không ưa, không thích chăng?” Nếu Sa-môn Gotama được Vương tử hỏi như vậy và trả lời như sau: “Này Vương tử, Như Lai có thể nói lời nói, do lời nói ấy những người khác không ưa, không thích”, thời Vương tử hãy nói với Sa-môn Gotama: “Bạch Thế Tôn, nếu xử sự như vậy thời có gì sai khác giữa kẻ phàm phu và Ngài? Kẻ phàm phu có thể nói lời nói, do lời nói ấy những người khác không ưa, không thích”. Còn nếu Sa-môn Gotama được Vương tử hỏi như vậy và trả lời như sau: “Này Vương tử, Như Lai không có thể nói lời nói, do lời nói ấy những người khác không ưa, không thích”, thời Vương tử hãy nói với Sa-môn Gotama: “Bạch Thế Tôn, nếu xử sự như vậy, thời vì sao Devadatta được Ngài trả lời như sau: ‘Devadatta phải đọa vào đọa xứ, Devadatta phải đọa vào địa ngục, Devadatta phải đọa trong một kiếp, Devadatta không thể nào cứu chữa được?’ Và do Ngài nói những lời như vậy, Devadatta phẫn nộ, không hoan hỷ”. Này Vương tử, Sa-môn Gotama khi bị Vương tử hỏi câu hỏi hai móc như vậy, sẽ không có thể nhả ra, cũng không có thể nuốt vào. Ví như một móc sắt bị móc vào cổ họng một người nào, người ấy không có thể nhả ra, cũng không có thể nuốt vào được. Cũng vậy, này Vương tử, Sa-môn Gotama khi bị Vương tử hỏi câu hỏi hai móc như vậy, sẽ không có thể nhả ra, cũng không có thể nuốt vào.“ehi tvaṁ, rājakumāra, samaṇassa gotamassa vādaṁ āropehi. Evaṁ te kalyāṇo kittisaddo abbhuggacchissati: ‘abhayena rājakumārena samaṇassa gotamassa evaṁ mahiddhikassa evaṁ mahānubhāvassa vādo āropito’”ti. “Yathā kathaṁ panāhaṁ, bhante, samaṇassa gotamassa evaṁ mahiddhikassa evaṁ mahānubhāvassa vādaṁ āropessāmī”ti? “Ehi tvaṁ, rājakumāra, yena samaṇo gotamo tenupasaṅkama; upasaṅkamitvā samaṇaṁ gotamaṁ evaṁ vadehi: ‘bhāseyya nu kho, bhante, tathāgato taṁ vācaṁ yā sā vācā paresaṁ appiyā amanāpā’ti? Sace te samaṇo gotamo evaṁ puṭṭho evaṁ byākaroti: ‘bhāseyya, rājakumāra, tathāgato taṁ vācaṁ yā sā vācā paresaṁ appiyā amanāpā’ti, tamenaṁ tvaṁ evaṁ vadeyyāsi: ‘atha kiñcarahi te, bhante, puthujjanena nānākaraṇaṁ? Puthujjanopi hi taṁ vācaṁ bhāseyya yā sā vācā paresaṁ appiyā amanāpā’ti. Sace pana te samaṇo gotamo evaṁ puṭṭho evaṁ byākaroti: ‘na, rājakumāra, tathāgato taṁ vācaṁ bhāseyya yā sā vācā paresaṁ appiyā amanāpā’ti, tamenaṁ tvaṁ evaṁ vadeyyāsi: ‘atha kiñcarahi te, bhante, devadatto byākato: “āpāyiko devadatto, nerayiko devadatto, kappaṭṭho devadatto, atekiccho devadatto”ti? Tāya ca pana te vācāya devadatto kupito ahosi anattamano’ti. Imaṁ kho te, rājakumāra, samaṇo gotamo ubhatokoṭikaṁ pañhaṁ puṭṭho samāno neva sakkhiti uggilituṁ na sakkhiti ogilituṁ. Seyyathāpi nāma purisassa ayosiṅghāṭakaṁ kaṇṭhe vilaggaṁ, so neva sakkuṇeyya uggilituṁ na sakkuṇeyya ogilituṁ; evameva kho te, rājakumāra, samaṇo gotamo imaṁ ubhatokoṭikaṁ pañhaṁ puṭṭho samāno neva sakkhiti uggilituṁ na sakkhiti ogilitun”ti.“Come, prince, refute the ascetic Gotama’s doctrine. Then you will get a good reputation: ‘Prince Abhaya refuted the doctrine of the ascetic Gotama, so mighty and powerful!’” “But sir, how am I to do this?” “Here, prince, go to the ascetic Gotama and say to him: ‘Sir, may the Realized One utter speech that is disliked by others?’ When he’s asked this, if he answers: ‘He may, prince,’ say this to him, ‘So what then, sir, is the difference between you and an ordinary person? For even an ordinary person may utter speech that is disliked by others.’ But if he answers, ‘He may not, prince,’ say this to him: ‘So why then, sir, did you declare of Devadatta: “Devadatta is going to a place of loss, to hell, there to remain for an eon, irredeemable”? Devadatta was angry and upset with what you said.’ When you put this dilemma to him, the Buddha won’t be able to either spit it out or swallow it down. He’ll be like a man with an iron cross stuck in his throat, unable to either spit it out or swallow it down.”
4—Thưa vâng, Tôn giả.
Vương tử Abhaya vâng đáp Nigaṇṭha Nātaputta, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Nigaṇṭha Nātaputta, thân bên hữu hướng về ông rồi đi đến Thế Tôn. Sau khi đến, liền đảnh lễ Thế Tôn và ngồi xuống một bên. Vương tử Abhaya đang ngồi một bên, nhìn mặt trời rồi suy nghĩ: “Hôm nay, không phải thời để luận chiến với Sa-môn Gotama. Ngày mai, ta sẽ luận chiến với Sa-môn Gotama tại nhà của ta,” liền bạch Thế Tôn
—Bạch Thế Tôn, ngày mai mong Thế Tôn nhận lời dùng cơm, cùng ba Tỷ-kheo khác với Ngài là người thứ tư.
Thế Tôn im lặng nhận lời. Rồi Vương tử Abhaya, sau khi biết Thế Tôn đã nhận lời, liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Thế Tôn, thân bên hữu hướng về Ngài rồi ra đi.“Evaṁ, bhante”ti kho abhayo rājakumāro nigaṇṭhassa nāṭaputtassa paṭissutvā uṭṭhāyāsanā nigaṇṭhaṁ nāṭaputtaṁ abhivādetvā padakkhiṇaṁ katvā yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinnassa kho abhayassa rājakumārassa sūriyaṁ ulloketvā etadahosi: “akālo kho ajja bhagavato vādaṁ āropetuṁ. Sve dānāhaṁ sake nivesane bhagavato vādaṁ āropessāmī”ti bhagavantaṁ etadavoca: “adhivāsetu me, bhante, bhagavā svātanāya attacatuttho bhattan”ti. Adhivāsesi bhagavā tuṇhībhāvena.“Yes, sir,” replied Abhaya. He rose from his seat, bowed, and respectfully circled the Jain Ñātika, keeping him on his right. Then he went to the Buddha, bowed, and sat down to one side. Then he looked up at the sun and thought, “It’s too late to refute the Buddha’s doctrine today. I shall refute his doctrine in my own home tomorrow.” He said to the Buddha, “Sir, would the Buddha, together with three other monks, please accept tomorrow’s meal from me?” The Buddha consented with silence.
5Thế Tôn, sau khi đêm ấy đã mãn, vào buổi sáng đắp y, cầm theo y bát, đi đến chỗ của Vương tử Abhaya, sau khi đến liền ngồi trên chỗ đã soạn sẵn. Rồi Vương tử Abhaya tự tay mời mọc, làm cho Thế Tôn thỏa mãn với những món ăn thượng vị, loại cứng và loại mềm. Vương tử Abhaya chờ cho Thế Tôn sau khi đã dùng xong, tay đã rời khỏi bát, liền lấy một ghế thấp khác rồi ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi một bên, Vương tử Abhaya bạch Thế Tôn
—Bạch Thế Tôn, Như Lai có thể nói những lời, do những lời ấy người khác không ưa, không thích chăng?
—Này Vương tử, phải chăng ở đây, (câu hỏi) có dụng ý một chiều?Atha kho abhayo rājakumāro bhagavato adhivāsanaṁ viditvā uṭṭhāyāsanā bhagavantaṁ abhivādetvā padakkhiṇaṁ katvā pakkāmi. Atha kho bhagavā tassā rattiyā accayena pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā pattacīvaramādāya yena abhayassa rājakumārassa nivesanaṁ tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā paññatte āsane nisīdi. Atha kho abhayo rājakumāro bhagavantaṁ paṇītena khādanīyena bhojanīyena sahatthā santappesi sampavāresi. Atha kho abhayo rājakumāro bhagavantaṁ bhuttāviṁ onītapattapāṇiṁ aññataraṁ nīcaṁ āsanaṁ gahetvā ekamantaṁ nisīdi.Then, knowing that the Buddha had consented, Abhaya rose from his seat, bowed, and respectfully circled the Buddha, keeping him on his right, before leaving. Then when the night had passed, the Buddha robed up in the morning and, taking his bowl and robe, went to Abhaya’s home, and sat down on the seat spread out. Then Abhaya served and satisfied the Buddha with his own hands with delicious fresh and cooked foods. When the Buddha had eaten and washed his hand and bowl, Abhaya took a low seat, sat to one side,
6—Bạch Thế Tôn, các vị Nigaṇṭha đã bị bại ở đây rồi.
—Này Vương tử, vì sao Vương tử lại nói như vầy: “Bạch Thế Tôn, các vị Nigaṇṭha đã bị bại ở đây rồi”?
—Bạch Thế Tôn, ở đây, con đi đến Nigaṇṭha Nātaputta, sau khi đến con đảnh lễ Nigaṇṭha Nātaputta rồi ngồi xuống một bên. Bạch Thế Tôn, Nigaṇṭha Nātaputta nói với con đang ngồi một bên: “Này Vương tử, Vương tử hãy đi đến luận chiến với Sa-môn Gotama, và nhờ vậy tiếng đồn tốt đẹp sau đây được truyền đi cho Vương tử: “Sa-môn Gotama có thần lực như vậy, có uy lực như vậy, đã bị Vương tử Abhaya luận chiến”. Bạch Thế Tôn, khi được nói vậy, con thưa với Nigaṇṭha Nātaputta: “Thưa Tôn giả, nhưng làm thế nào, tôi có thể luận chiến với Sa-môn Gotama, một vị có thần lực như vậy, có uy lực như vậy?” -” Này Vương tử, hãy đi đến Sa-môn Gotama, sau khi đến hãy nói với Sa-môn Gotama như sau: “Bạch Thế Tôn, Như Lai có thể nói lời nói, do lời nói ấy, những người khác không ưa, không thích chăng?” Nếu Sa-môn Gotama được Vương tử hỏi như vậy và trả lời như sau: “Này Vương tử, Như Lai có thể nói lời nói, do lời nói ấy, những người khác không ưa, không thích”, thời Vương tử hãy nói với Sa-môn Gotama: “Bạch Thế Tôn, nếu xử sự như vậy, thời có gì sai khác giữa kẻ phàm phu với Ngài? Kẻ phàm phu có thể nói lời nói, do lời nói ấy, những người khác không ưa, không thích”. Còn nếu Sa-môn Gotama được Vương tử hỏi như vậy và trả lời như sau: “Này Vương tử, Như Lai không có thể nói lời nói, do lời nói ấy những người khác không ưa, không thích”, thời Vương tử hãy nói với Sa-môn Gotama: “Bạch Thế Tôn, nếu xử sự như vậy, thời vì sao Devadatta được Ngài trả lời như sau: Devadatta phải đọa vào đọa xứ, Devadatta phải đọa vào địa ngục, Devadatta phải đọa trong một kiếp, Devadatta không thể nào cứu chữa được? Và vì Ngài nói những lời như vậy, Devadatta phẫn nộ, không hoan hỷ”. Này Vương tử, Sa-môn Gotama, khi bị Vương tử hỏi câu hỏi hai móc như vậy, sẽ không thể nhả ra, cũng không thể nuốt vào. Ví như một móc sắt bị mắc vào cổ họng của một người nào, người ấy không có thể nhả ra, cũng không có thể nuốt vào được. Cũng vậy, này Vương tử, Sa-môn Gotama, khi bị Vương tử hỏi câu hỏi hai móc như vậy, sẽ không có thể nhả ra, cũng không có thể nuốt vào”.Ekamantaṁ nisinno kho abhayo rājakumāro bhagavantaṁ etadavoca: “bhāseyya nu kho, bhante, tathāgato taṁ vācaṁ yā sā vācā paresaṁ appiyā amanāpā”ti? “Na khvettha, rājakumāra, ekaṁsenā”ti. “Ettha, bhante, anassuṁ nigaṇṭhā”ti. “Kiṁ pana tvaṁ, rājakumāra, evaṁ vadesi: ‘ettha, bhante, anassuṁ nigaṇṭhā’”ti? “Idhāhaṁ, bhante, yena nigaṇṭho nāṭaputto tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā nigaṇṭhaṁ nāṭaputtaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdiṁ. Ekamantaṁ nisinnaṁ kho maṁ, bhante, nigaṇṭho nāṭaputto etadavoca: ‘ehi tvaṁ, rājakumāra, samaṇassa gotamassa vādaṁ āropehi. Evaṁ te kalyāṇo kittisaddo abbhuggacchissati— abhayena rājakumārena samaṇassa gotamassa evaṁ mahiddhikassa evaṁ mahānubhāvassa vādo āropito’ti. Evaṁ vutte, ahaṁ, bhante, nigaṇṭhaṁ nāṭaputtaṁ etadavocaṁ: ‘yathā kathaṁ panāhaṁ, bhante, samaṇassa gotamassa evaṁ mahiddhikassa evaṁ mahānubhāvassa vādaṁ āropessāmī’ti? ‘Ehi tvaṁ, rājakumāra, yena samaṇo gotamo tenupasaṅkama; upasaṅkamitvā samaṇaṁ gotamaṁ evaṁ vadehi: “bhāseyya nu kho, bhante, tathāgato taṁ vācaṁ yā sā vācā paresaṁ appiyā amanāpā”ti? Sace te samaṇo gotamo evaṁ puṭṭho evaṁ byākaroti: “bhāseyya, rājakumāra, tathāgato taṁ vācaṁ yā sā vācā paresaṁ appiyā amanāpā”ti, tamenaṁ tvaṁ evaṁ vadeyyāsi: “atha kiñcarahi te, bhante, puthujjanena nānākaraṇaṁ? Puthujjanopi hi taṁ vācaṁ bhāseyya yā sā vācā paresaṁ appiyā amanāpā”ti. Sace pana te samaṇo gotamo evaṁ puṭṭho evaṁ byākaroti: “na, rājakumāra, tathāgato taṁ vācaṁ bhāseyya yā sā vācā paresaṁ appiyā amanāpā”ti, tamenaṁ tvaṁ evaṁ vadeyyāsi— atha kiñcarahi te, bhante, devadatto byākato: “āpāyiko devadatto, nerayiko devadatto, kappaṭṭho devadatto, atekiccho devadatto”ti? Tāya ca pana te vācāya devadatto kupito ahosi anattamano’ti. Imaṁ kho te, rājakumāra, samaṇo gotamo ubhatokoṭikaṁ pañhaṁ puṭṭho samāno neva sakkhiti uggilituṁ na sakkhiti ogilituṁ. Seyyathāpi nāma purisassa ayosiṅghāṭakaṁ kaṇṭhe vilaggaṁ, so neva sakkuṇeyya uggilituṁ na sakkuṇeyya ogilituṁ; evameva kho te, rājakumāra, samaṇo gotamo imaṁ ubhatokoṭikaṁ pañhaṁ puṭṭho samāno neva sakkhiti uggilituṁ na sakkhiti ogilitun”ti.and said to him, “Sir, may the Realized One utter speech that is disliked by others?” “This matter is not categorical, prince.” “Then the Jains have lost in this, sir.” “But prince, why do you say that the Jains have lost in this?” Then Abhaya told the Buddha all that had happened.
7Lúc bấy giờ, có đứa con nít ngây thơ nằm giữa trên đầu gối của Vương tử Abhaya. Rồi Thế Tôn nói với Vương tử Abhaya
—Này Vương tử, Vương tử nghĩ thế nào? Nếu đứa con nít này, do sự vô ý của Vương tử, hay do sự vô ý của người vú hầu, thọc một cái que hay nuốt một hòn đá vào trong miệng, vậy Vương tử phải làm gì?
—Bạch Thế Tôn, con phải móc cho ra. Bạch Thế Tôn, nếu con không thể móc ra lập tức, thời với tay trái con nắm đầu nó lại, với tay mặt lấy ngón tay làm như cái móc, con sẽ móc cho vật ấy ra, dầu có phải chảy máu. Vì sao vậy? Bạch Thế Tôn, vì con có lòng thương tưởng đứa trẻ.Tena kho pana samayena daharo kumāro mando uttānaseyyako abhayassa rājakumārassa aṅke nisinno hoti. Atha kho bhagavā abhayaṁ rājakumāraṁ etadavoca: “Taṁ kiṁ maññasi, rājakumāra, sacāyaṁ kumāro tuyhaṁ vā pamādamanvāya dhātiyā vā pamādamanvāya kaṭṭhaṁ vā kaṭhalaṁ vā mukhe āhareyya, kinti naṁ kareyyāsī”ti? “Āhareyyassāhaṁ, bhante. Sace, bhante, na sakkuṇeyyaṁ ādikeneva āhattuṁ, vāmena hatthena sīsaṁ pariggahetvā dakkhiṇena hatthena vaṅkaṅguliṁ karitvā salohitampi āhareyyaṁ. Taṁ kissa hetu? Atthi me, bhante, kumāre anukampā”ti.Now at that time a little baby boy was sitting in Prince Abhaya’s lap. Then the Buddha said to Abhaya, “What do you think, prince? If—because of your negligence or his nursemaid’s negligence—your boy were to put a stick or stone in his mouth, what would you do to him?” “I’d try to take it out, sir. If that didn’t work, I’d cradle his head with my left hand and take it out using a hooked finger of my right hand, even if it drew blood. Why is that? Because I have sympathy for the boy, sir.”
8—Cũng vậy, này Vương tử, lời nói nào Như Lai biết không như thật, không như chân, không tương ứng với mục đích, và lời nói ấy khiến những người khác không ưa, không thích, thời Như Lai không nói lời nói ấy. Lời nói nào Như Lai biết là như thật, như chân, không tương ứng với mục đích, và lời nói ấy khiến những người khác không ưa, không thích, thời Như Lai không nói lời nói ấy. Và lời nói nào Như Lai biết là như thật, như chân, tương ứng với mục đích, và lời nói ấy khiến những người khác không ưa, không thích, Như Lai ở đây biết thời giải thích lời nói ấy. Lời nói nào Như Lai biết là không như thật, không như chân, không tương ứng với mục đích, và lời nói ấy khiến những người khác ưa thích, Như Lại không nói lời nói ấy. Lời nói nào Như Lai biết là như thật, như chân, không tương ứng với mục đích, và lời nói ấy khiến những người khác ưa và thích, Như Lai không nói lời nói ấy. Và lời nói nào Như Lai biết là như thật, như chân, tương ứng với mục đích, và lời nói ấy khiến những người khác ưa và thích, ở đây, Như Lai biết thời giải thích lời nói ấy. Vì sao vậy? Này Vương tử, Như Lai có lòng thương tưởng đối với các loài hữu tình.“Evameva kho, rājakumāra, yaṁ tathāgato vācaṁ jānāti abhūtaṁ atacchaṁ anatthasaṁhitaṁ sā ca paresaṁ appiyā amanāpā, na taṁ tathāgato vācaṁ bhāsati. Yampi tathāgato vācaṁ jānāti bhūtaṁ tacchaṁ anatthasaṁhitaṁ sā ca paresaṁ appiyā amanāpā, tampi tathāgato vācaṁ na bhāsati. Yañca kho tathāgato vācaṁ jānāti bhūtaṁ tacchaṁ atthasaṁhitaṁ sā ca paresaṁ appiyā amanāpā, tatra kālaññū tathāgato hoti tassā vācāya veyyākaraṇāya. Yaṁ tathāgato vācaṁ jānāti abhūtaṁ atacchaṁ anatthasaṁhitaṁ sā ca paresaṁ piyā manāpā, na taṁ tathāgato vācaṁ bhāsati. Yampi tathāgato vācaṁ jānāti bhūtaṁ tacchaṁ anatthasaṁhitaṁ sā ca paresaṁ piyā manāpā tampi tathāgato vācaṁ na bhāsati. Yañca tathāgato vācaṁ jānāti bhūtaṁ tacchaṁ atthasaṁhitaṁ sā ca paresaṁ piyā manāpā, tatra kālaññū tathāgato hoti tassā vācāya veyyākaraṇāya. Taṁ kissa hetu? Atthi, rājakumāra, tathāgatassa sattesu anukampā”ti.“In the same way, prince, the Realized One does not utter speech that he knows to be untrue, false, and pointless, and which is disliked by others. The Realized One does not utter speech that he knows to be true and correct, but which is harmful and disliked by others. The Realized One knows the right time to speak so as to explain what he knows to be true, correct, and beneficial, but which is disliked by others. The Realized One does not utter speech that he knows to be untrue, false, and pointless, but which is liked by others. The Realized One does not utter speech that he knows to be true and correct, but which is harmful, even if it is liked by others. The Realized One knows the right time to speak so as to explain what he knows to be true, correct, and beneficial, and which is liked by others. Why is that? Because the Realized One has sympathy for sentient beings.”
9—Bạch Thế Tôn, những Sát-đế-lị có trí, những Bà-la-môn có trí, những Gia chủ có trí, những Sa-môn có trí này, sau khi soạn sẵn câu hỏi, đến Như Lai và hỏi: “Bạch Thế Tôn, không hiểu Thế Tôn có suy nghĩ trước trong trí như sau: “Nếu có những ai đến Ta và hỏi như vậy, được hỏi như vậy, Ta sẽ trả lời như vậy”, hay Như Lai trả lời ngay (tại chỗ)?”“Yeme, bhante, khattiyapaṇḍitāpi brāhmaṇapaṇḍitāpi gahapatipaṇḍitāpi samaṇapaṇḍitāpi pañhaṁ abhisaṅkharitvā tathāgataṁ upasaṅkamitvā pucchanti, pubbeva nu kho, etaṁ, bhante, bhagavato cetaso parivitakkitaṁ hoti ‘ye maṁ upasaṅkamitvā evaṁ pucchissanti tesāhaṁ evaṁ puṭṭho evaṁ byākarissāmī’ti, udāhu ṭhānasovetaṁ tathāgataṁ paṭibhātī”ti?“Sir, there are astute aristocrats, brahmins, householders, or ascetics who come to see you with a question already planned. Do you think beforehand that if they ask you like this, you’ll answer like that, or does the answer just strike you on the spot?”
10—Này Vương tử, nay ở đây Ta sẽ hỏi Vương tử, nếu Vương tử hoan hỷ, hãy trả lời câu hỏi ấy. Này Vương tử, Vương tử nghĩ như thế nào? Vương tử có giỏi về các bộ phận sai biệt một cái xe không?
—Thưa vâng, bạch Thế Tôn, con có giỏi về các bộ phận sai biệt một cái xe.
—Này Vương tử, Vương tử nghĩ thế nào? Nếu có những người đến Vương tử và hỏi như sau: “Bộ phận này của cái xe tên gọi là gì?”, không hiểu Vương Tử có suy nghĩ trước trong trí như sau: “Nếu có những ai đến ta, và hỏi ta như vậy, ta sẽ trả lời cho họ như vậy”, hay là Vương tử trả lời ngay (tại chỗ)?
—Bạch Thế Tôn, vì con là người đánh xe nổi tiếng, rất giỏi về các bộ phận sai biệt trong một cái xe nên con sẽ trả lời ngay (tại chỗ).“Tena hi, rājakumāra, taññevettha paṭipucchissāmi, yathā te khameyya tathā naṁ byākareyyāsi. Taṁ kiṁ maññasi, rājakumāra, kusalo tvaṁ rathassa aṅgapaccaṅgānan”ti? “Evaṁ, bhante, kusalo ahaṁ rathassa aṅgapaccaṅgānan”ti. “Taṁ kiṁ maññasi, rājakumāra, ye taṁ upasaṅkamitvā evaṁ puccheyyuṁ: ‘kiṁ nāmidaṁ rathassa aṅgapaccaṅgan’ti? Pubbeva nu kho te etaṁ cetaso parivitakkitaṁ assa ‘ye maṁ upasaṅkamitvā evaṁ pucchissanti tesāhaṁ evaṁ puṭṭho evaṁ byākarissāmī’ti, udāhu ṭhānasovetaṁ paṭibhāseyyā”ti? “Ahañhi, bhante, rathiko saññāto kusalo rathassa aṅgapaccaṅgānaṁ. Sabbāni me rathassa aṅgapaccaṅgāni suviditāni. Ṭhānasovetaṁ maṁ paṭibhāseyyā”ti.“Well then, prince, I’ll ask you about this in return, and you can answer as you like. What do you think, prince? Are you skilled in the various parts of a chariot?” “I am, sir.” “What do you think, prince? When they come to you and ask: ‘What’s the name of this chariot part?’ Do you think beforehand that if they ask you like this, you’ll answer like that, or does the answer appear to you on the spot?” “Sir, I’m well-known as a charioteer skilled in a chariot’s parts. All the major and minor parts are well-known to me. The answer just appears to me on the spot.”
11—Cũng vậy, này Vương tử, những Sát-đế-lỵ có trí, những Bà-la-môn có trí, những Gia chủ có trí, những Sa-môn có trí này, sau khi soạn sẵn câu hỏi, đến Như Lai và hỏi, Như Lai sẽ trả lời ngay (tại chỗ). Vì sao vậy? Này Vương tử, pháp giới (Dhammadhatu) đã được Như Lai khéo biết. Và vì Như Lai khéo biết pháp giới nên Như Lai trả lời ngay (tại chỗ).“Evameva kho, rājakumāra, ye te khattiyapaṇḍitāpi brāhmaṇapaṇḍitāpi gahapatipaṇḍitāpi samaṇapaṇḍitāpi pañhaṁ abhisaṅkharitvā tathāgataṁ upasaṅkamitvā pucchanti, ṭhānasovetaṁ tathāgataṁ paṭibhāti. Taṁ kissa hetu? Sā hi, rājakumāra, tathāgatassa dhammadhātu suppaṭividdhā yassā dhammadhātuyā suppaṭividdhattā ṭhānasovetaṁ tathāgataṁ paṭibhātī”ti.“In the same way, when astute aristocrats, brahmins, householders, or ascetics come to see me with a question already planned, the answer just strikes me on the spot. Why is that? Because the Realized One has clearly penetrated the principle of the teachings, so that the answer just strikes him on the spot.”
12Khi được nói vậy, Vương tử Abhaya bạch Thế Tôn
—Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn! Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn! Bạch Thế Tôn, như người dựng đứng lại những gì bị quăng ngã xuống, phơi bày ra những gì bị che kín, chỉ đường cho kẻ đi lạc hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối để những ai có mắt có thể thấy sắc. Cũng vậy, Chánh pháp đã được Thế Tôn dùng nhiều phương tiện trình bày. Nay con quy y Thế Tôn, quy y Pháp và quy y chúng Tỷ-kheo Tăng. Mong Thế Tôn nhận con làm cư sĩ, từ nay cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng.Evaṁ vutte, abhayo rājakumāro bhagavantaṁ etadavoca: “abhikkantaṁ, bhante, abhikkantaṁ, bhante …pe… ajjatagge pāṇupetaṁ saraṇaṁ gatan”ti. Abhayarājakumārasuttaṁ niṭṭhitaṁ aṭṭhamaṁ.When he had spoken, Prince Abhaya said to the Buddha, “Excellent, sir! Excellent! … From this day forth, may the Buddha remember me as a lay follower who has gone for refuge for life.”
Viết bởi Chánh Tín
Nguồn trích dẫn
- Trung Bộ 58 (Abhayarājakumāra Sutta). Bản Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka, MN 58 trên SuttaCentral.
- Bản tiếng Anh: Bhikkhu Sujato dịch, SuttaCentral, phát hành theo giấy phép CC0.
- Bản tiếng Việt: HT. Thích Minh Châu dịch (bản trên SuttaCentral). Bản dịch tiếng Việt của HT. Thích Minh Châu, trích đăng để phụng sự Pháp thí; nếu chủ sở hữu bản quyền có yêu cầu, xin liên hệ 0902 332 970 để điều chỉnh.