Kinh Mắng Nhiếc
Akkosa Sutta
Còn gọi là: Kinh Mắng Chửi
Một người đến mắng chửi Đức Phật thậm tệ. Ngài không cãi lại, chỉ hỏi một câu về khách đến nhà, và lời mắng ấy được trả về đúng chỗ của nó.
Trước khi đọc kinh
Kinh Mắng Nhiếc (Akkosa Sutta), cũng được gọi là Kinh Mắng Chửi, là bài kinh thứ hai trong phẩm A-la-hán của Tương Ưng Bà-la-môn, Tương Ưng Bộ. Đức Thế Tôn đang trú gần thành Vương Xá (Rājagaha), tại Trúc Lâm (Veḷuvana). Một Bà-la-môn họ Bhāradvāja nghe tin có người cùng dòng họ đã xuất gia theo Sa-môn Gotama, liền nổi giận, đến dùng những lời thô lỗ, nặng nề để mắng nhiếc, chửi rủa Ngài (đoạn 1.2–2.1). Theo chú giải Tương Ưng Bộ (Sāratthappakāsinī), người vừa xuất gia ấy là anh của ông; ông đến chửi Đức Phật bằng chừng năm trăm câu kệ, nên các vị kết tập kinh gọi ông là Bhāradvāja Mắng Nhiếc.
Đức Phật không đáp lại bằng lời mắng. Ngài hỏi: bạn bè, bà con, khách khứa có đến nhà ông không, ông có dọn mời họ đồ ăn thức uống không? Ông đáp có. Nếu họ không nhận thì những thứ ấy thuộc về ai? Ông đáp: vẫn thuộc về chúng tôi (đoạn 2.2–2.8). Đức Phật nói: cũng vậy, Ta không mắng mà ông mắng Ta, Ta không nhận; lời ấy vẫn thuộc về ông (đoạn 2.9–2.11). Ai bị mắng mà mắng lại thì như cùng ăn chung, cùng trao qua đổi lại; còn Ta không cùng ăn với ông (đoạn 3.1–3.2). Theo chú giải, nghe câu “vẫn thuộc về ông”, ông sợ Đức Phật đang nguyền rủa mình, nên mới nói: người ta bảo ông là A-la-hán, vậy mà vẫn còn giận (đoạn 3.5–3.7). Đức Phật đáp bằng kệ: người không giận thì giận từ đâu; ai giận lại người đang giận, chính người ấy tự làm mình tệ hơn; không giận lại là thắng trận chiến khó thắng; người biết người kia đang giận mà vẫn giữ chánh niệm, lắng dịu, là làm lợi cho cả hai (đoạn 4.1–6.4). Ông xin xuất gia, và không lâu sau chứng quả A-la-hán (đoạn 8.4–9.4).
Hiểu đúng: “không nhận” ở đây không có nghĩa là làm ngơ, nuốt giận vào trong hay giả vờ không nghe. Đức Phật nghe rõ từng lời, nhưng tâm Ngài không cầm lấy lời ấy làm của mình, nên không có gì để ném trả. Bài kinh cũng cho thấy nhẫn nại không phải là yếu đuối: kẻ không giận lại mới là người thắng “trận chiến khó thắng”. Khi ai đó nói nặng với bạn trong một buổi họp hay trên mạng, bạn có thể nhớ hình ảnh mâm cơm khách không nhận. Bạn vẫn có thể nói lại sự thật một cách ôn hòa, nhưng không cần dọn thêm một mâm giận dữ để trao qua đổi lại.
Ý chính
- Khách không nhận đồ ăn thì đồ ăn vẫn thuộc về chủ nhà (2.7–2.8).
- Lời mắng mà Đức Phật không nhận thì vẫn thuộc về người nói (2.9–2.11).
- Mắng lại người mắng mình là cùng ăn chung, cùng trao qua đổi lại (3.1–3.2).
- Ai giận lại người đang giận, chính người ấy tự làm mình tệ hơn (5.1–5.2).
- Không giận lại người đang giận là thắng trận chiến khó thắng (5.3–5.4).
- Biết người kia đang giận mà vẫn giữ chánh niệm, lắng dịu, là làm lợi cho cả mình và người (6.1–6.4).
Thuật ngữ Pāli trong kinh
- akkosa
- sự mắng nhiếc, chửi rủa
- paribhāsati
- chửi rủa, sỉ nhục
- paṭiggaṇhāti
- nhận lấy, tiếp nhận
- sambhuñjati
- cùng ăn chung
- vītiharati
- trao qua đổi lại, đáp trả
- akkodha
- không giận
- upasama
- sự lắng dịu, an tịnh
- khanti
- nhẫn nại; một trong Mười Ba-la-mật
Kinh Mắng Nhiếc
1Một thời Thế Tôn trú ở Rājagaha (Vương Xá), Veluvana (Trúc Lâm), tại chỗ nuôi dưỡng các con sóc.
Bà-la-môn Akkosaka Bharadvāja được nghe Bà-la-môn thuộc dòng họ Bharadvāja đã xuất gia với Thế Tôn, từ bỏ gia đình, sống không gia đình.Ekaṁ samayaṁ bhagavā rājagahe viharati veḷuvane kalandakanivāpe. Assosi kho akkosakabhāradvājo brāhmaṇo:At one time the Buddha was staying near Rājagaha in the Bamboo Grove, the squirrels’ feeding ground. The brahmin Bhāradvāja the Rude heard a rumor that
2Ông phẫn nộ, không hoan hỷ, đi đến Thế Tôn; sau khi đến, nói những lời nói không tốt đẹp, ác ngữ, phỉ báng và nhiếc mắng Thế Tôn.
Được nghe nói vậy, Thế Tôn nói với Bà-la-môn Akkosaka Bharadvāja:
—Này Bà-la-môn, Ông nghĩ thế nào? Các thân hữu bà con huyết thống, các khách có đến viếng thăm Ông không?
—Thưa Tôn giả Gotama, thỉnh thoảng, các thân hữu, bà con huyết thống, các khách có đến viếng thăm tôi.
—Này Bà-la-môn, Ông nghĩ thế nào? Ông có sửa soạn cho họ các món ăn loại cứng, loại mềm và các loại đồ nếm không?
—Thưa Tôn giả Gotama, thỉnh thoảng tôi sửa soạn cho họ các món ăn loại cứng, loại mềm, các loại đồ nếm.
—Nhưng này Bà-la-môn, nếu họ không thâu nhận, thời các món ăn ấy về ai?
—Thưa Tôn giả Gotama, nếu họ không thâu nhận, thời các món ăn ấy về lại chúng tôi.
—Cũng vậy, này Bà-la-môn, nếu Ông phỉ báng chúng tôi là người không phỉ báng; nhiếc mắng chúng tôi là người không nhiếc mắng; gây lộn với chúng tôi là người không gây lộn; chúng tôi không thâu nhận sự việc ấy từ Ông, thời này Bà-la-môn, sự việc ấy về lại Ông.“bhāradvājagotto kira brāhmaṇo samaṇassa gotamassa santike agārasmā anagāriyaṁ pabbajito”ti kupito anattamano yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ asabbhāhi pharusāhi vācāhi akkosati paribhāsati. Evaṁ vutte, bhagavā akkosakabhāradvājaṁ brāhmaṇaṁ etadavoca: “Taṁ kiṁ maññasi, brāhmaṇa, api nu kho te āgacchanti mittāmaccā ñātisālohitā atithiyo”ti? “Appekadā me, bho gotama, āgacchanti mittāmaccā ñātisālohitā atithiyo”ti. “Taṁ kiṁ maññasi, brāhmaṇa, api nu tesaṁ anuppadesi khādanīyaṁ vā bhojanīyaṁ vā sāyanīyaṁ vā”ti? “Appekadā nesāhaṁ, bho gotama, anuppademi khādanīyaṁ vā bhojanīyaṁ vā sāyanīyaṁ vā”ti. “Sace kho pana te, brāhmaṇa, nappaṭiggaṇhanti, kassa taṁ hotī”ti? “Sace te, bho gotama, nappaṭiggaṇhanti, amhākameva taṁ hotī”ti. “Evameva kho, brāhmaṇa, yaṁ tvaṁ amhe anakkosante akkosasi, arosente rosesi, abhaṇḍante bhaṇḍasi, taṁ te mayaṁ nappaṭiggaṇhāma. Tavevetaṁ, brāhmaṇa, hoti; tavevetaṁ, brāhmaṇa, hoti.a brahmin of the Bhāradvāja clan had gone forth from the lay life to homelessness in the presence of the ascetic Gotama. Angry and displeased he went to the Buddha and abused and insulted him with rude, harsh words. When he had spoken, the Buddha said to him: “What do you think, brahmin? Do friends and colleagues, relatives and kin, and guests still come to visit you?” “Sometimes they do, worthy Gotama.” “Do you then serve them with fresh and cooked foods and savories?” “Sometimes I do.” “But if they don’t accept it, brahmin, who does it belong to?” “In that case it still belongs to me.” “In the same way, brahmin, when you abuse, harass, and attack us who do not abuse, harass, and attack, we don’t accept it. It still belongs to you, brahmin, it still belongs to you!
3–4Này Bà-la-môn, sự việc ấy chỉ về lại Ông. Này Bà-la-môn, ai phỉ báng lại khi bị phỉ báng, nhiếc mắng lại khi bị nhiếc mắng, gây lộn lại khi bị gây lộn, thời như vậy, này Bà-la-môn, người ấy được xem là đã hưởng thọ, đã san sẻ với Ông. Còn chúng tôi không cùng hưởng thọ sự việc ấy với Ông, không cùng san sẻ sự việc ấy với Ông, thời này Bà-la-môn, sự việc ấy về lại Ông! Này Bà-la-môn, sự việc ấy về lại Ông!
Nhà vua và vương cung, vương thần nghĩ rằng: “Sa-môn Gotama là vị A-la-hán”. Tuy vậy Tôn giả Gotama nay đã phẫn nộ.Yo kho, brāhmaṇa, akkosantaṁ paccakkosati, rosentaṁ paṭiroseti, bhaṇḍantaṁ paṭibhaṇḍati, ayaṁ vuccati, brāhmaṇa, sambhuñjati vītiharatīti. Te mayaṁ tayā neva sambhuñjāma na vītiharāma. Tavevetaṁ, brāhmaṇa, hoti; tavevetaṁ, brāhmaṇa, hotī”ti. “Bhavantaṁ kho gotamaṁ sarājikā parisā evaṁ jānāti: ‘arahaṁ samaṇo gotamo’ti. Atha ca pana bhavaṁ gotamo kujjhatī”ti. “Akkodhassa kuto kodho, dantassa samajīvino; Sammadaññā vimuttassa, upasantassa tādino.Someone who, when abused, harassed, and attacked, abuses, harasses, and attacks in return is said to eat the food and have a reaction to it. But we neither eat your food nor do we have a reaction to it. It still belongs to you, brahmin, it still belongs to you!” “The king and his retinue believe of the worthy Gotama, ‘the ascetic Gotama is a perfected one’. And yet he still gets angry.” “Whence anger for one free of anger, tamed, living justly, freed by right knowledge, peaceful and unaffected?
5–7Với vị không phẫn nộ,
Phẫn nộ từ đâu đến?
Sống chế ngự, chánh mạng,
Giải thoát, nhờ chánh trí.
Vị ấy sống như vậy,
Đời sống được tịch tịnh.
Những ai bị phỉ báng,
Trở lại phỉ báng người,
Kẻ ấy làm ác mình,
Lại làm ác cho người.
Những ai bị phỉ báng,
Không phỉ báng chống lại,
Người ấy đủ thắng trận,
Thắng cho mình, cho người.
Vị ấy tìm lợi ích,
Cho cả mình và người.
Và kẻ đã phỉ báng,
Tự hiểu, lắng nguôi dần.
Bậc Y sư cả hai,
Chữa mình, chữa cho người,
Quần chúng nghĩ là ngu,
Vì không hiểu Chánh pháp.Tasseva tena pāpiyo, yo kuddhaṁ paṭikujjhati; Kuddhaṁ appaṭikujjhanto, saṅgāmaṁ jeti dujjayaṁ. Ubhinnamatthaṁ carati, attano ca parassa ca; Paraṁ saṅkupitaṁ ñatvā, yo sato upasammati. Ubhinnaṁ tikicchantānaṁ, attano ca parassa ca; Janā maññanti bāloti, ye dhammassa akovidā”ti.When you get angry at an angry person you just make things worse for yourself. When you don’t get angry at an angry person you win a battle hard to win. When you know that the other is angry, you act for the good of both yourself and the other if you’re mindful and stay calm. People inexpert in the teaching consider one who heals both oneself and the other to be a fool.”
8Khi được nghe nói vậy, Bà-la-môn Akkosaka Bharadvāja bạch Thế Tôn:
—Thật là vi diệu thay, Tôn giả Gotama!…, … Con xin quy y Thế Tôn Gotama, quy y Pháp và quy y Tỷ-kheo Tăng. Mong Tôn giả Gotama cho con được xuất gia tu học với Tôn giả Gotama, được thọ đại giới.Evaṁ vutte, akkosakabhāradvājo brāhmaṇo bhagavantaṁ etadavoca: “abhikkantaṁ, bho gotama …pe… esāhaṁ bhavantaṁ gotamaṁ saraṇaṁ gacchāmi dhammañca bhikkhusaṅghañca. Labheyyāhaṁ, bhante, bhoto gotamassa santike pabbajjaṁ, labheyyaṁ upasampadan”ti.When he had spoken, Bhāradvāja the Rude said to the Buddha, “Excellent, worthy Gotama! … I go for refuge to the worthy Gotama, to the teaching, and to the mendicant Saṅgha. Sir, may I receive the going forth, the ordination in the worthy Gotama’s presence?”
9Bà-la-môn Akkosaka Bharadvāja được xuất gia với Tôn giả Gotama, được thọ đại giới.
Được thọ đại giới không bao lâu, Tôn giả Akkosaka Bhàrahvàja sống một mình, viễn ly, không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần không bao lâu đạt được mục đích mà các thiện nam tử chơn chánh xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình hướng đến: Đó là vô thượng cứu cánh Phạm hạnh, ngay trong hiện tại với thắng trí, tự mình giác ngộ, chứng đạt và an trú. Vị ấy biết rõ: “Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, việc nên làm đã làm, không còn trở lại trạng thái này nữa”.
Và Tôn giả Akkosaka Bhàradvàkja trở thành một vị A-la-hán nữa.Alattha kho akkosakabhāradvājo brāhmaṇo bhagavato santike pabbajjaṁ, alattha upasampadaṁ. Acirūpasampanno kho panāyasmā akkosakabhāradvājo eko vūpakaṭṭho appamatto ātāpī pahitatto viharanto nacirasseva—yassatthāya kulaputtā sammadeva agārasmā anagāriyaṁ pabbajanti tadanuttaraṁ—brahmacariyapariyosānaṁ diṭṭheva dhamme sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja vihāsi. “Khīṇā jāti, vusitaṁ brahmacariyaṁ, kataṁ karaṇīyaṁ nāparaṁ itthattāyā”ti abbhaññāsi. Aññataro ca panāyasmā bhāradvājo arahataṁ ahosīti.And the brahmin Bhāradvāja the Rude received the going forth, the ordination in the Buddha’s presence. Not long after his ordination, Venerable Bhāradvāja the Rude, living alone, withdrawn, diligent, keen, and resolute, soon realized the supreme culmination of the spiritual path in this very life. He lived having achieved with his own insight the goal for which gentlemen rightly go forth from the lay life to homelessness. He understood: “Rebirth is ended; the spiritual journey has been completed; what had to be done has been done; there is nothing further for this place.” And Venerable Bhāradvāja became one of the perfected.
Viết bởi Chánh Tín
Nguồn trích dẫn
- Tương Ưng Bộ 7.2 (Akkosa Sutta). Bản Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka, SN 7.2 trên SuttaCentral.
- Bản tiếng Anh: Bhikkhu Sujato dịch, SuttaCentral, phát hành theo giấy phép CC0.
- Bản tiếng Việt: HT. Thích Minh Châu dịch (bản trên SuttaCentral). Bản dịch tiếng Việt của HT. Thích Minh Châu, trích đăng để phụng sự Pháp thí; nếu chủ sở hữu bản quyền có yêu cầu, xin liên hệ 0902 332 970 để điều chỉnh.